Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh bóc tách động mạch chủ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh bóc tách động mạch chủ. Hiển thị tất cả bài đăng

Cơ hội mới cho bệnh nhân phình tách động mạch chủ



Phình tách động mạch chủ là căn bệnh rất nguy hiểm để lại biến chứng nặng, thậm chí có thể gây đột tử. Điều may mắn là mới đây, các bác sĩ của Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai, đã triển khai thành công kỹ thuật đặt Stent Graft động mạch chủ, tạo thêm cơ hội sống cho những bệnh nhân không may mắc phải căn bệnh này.

Đặt Stent Graft thành công cho 6 bệnh nhân

“Mới đây, Viện Tim mạch Việt Nam đã tiến hành đặt Stent Graft vào động mạch chủ (ĐMC) cho 6 bệnh nhân bị phình tách thành ĐMC. Kết quả bước đầu rất khả quan”, GS. TS Nguyễn Lân Việt, Viện trưởng Viện Tim mạch Việt Nam khẳng định.

Kỹ thuật chụp can thiệp động mạch vành qua da được ứng dụng hiệu quả tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Bạch Mai (Bộ Y tế). Ảnh: Dương Ngọc - TTXVN


Trước đây, khi có chẩn đoán phình tách thành ĐMC nặng thì các chuyên gia tim mạch ngay lập tức phải xem xét tới phương pháp phẫu thuật (thay đoạn mạch bị phình tách bằng một mạch nhân tạo). Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong khi áp dụng phương pháp này còn khá cao và có thể có khá nhiều biến chứng như chảy máu, nhiễm khuẩn, tổn thương thận và ruột...

Nhưng với kỹ thuật đặt Stent Graft vào ĐMC, các BS Viện Tim mạch Việt Nam đã tạo cơ hội sống cho những bệnh nhân bị phình tách thành ĐMC mà không thể tiến hành phẫu thuật được. “Các bác sĩ sẽ đưa Stent Graft (một giá đỡ được làm bằng kim loại đặc biệt) qua ống thông trong lòng mạch đi đến vị trí thành ĐMC bị yếu (nơi bị phình tách). Tại đây, Stent Graft sẽ như một hàng rào vững chắc bảo vệ thành ĐMC, giảm nguy cơ bị vỡ ĐMC”, GS Nguyễn Lân Việt giải thích.

So với phương pháp mổ truyền thống, kỹ thuật đặt Stent Graft vào ĐMC sẽ giúp giảm biến chứng và bệnh nhân chỉ phải nằm viện trong thời gian ngắn. Đồng thời, kỹ thuật này cũng mở ra triển vọng mới để điều trị cho các bệnh nhân bị phình tách ĐMC ngay ở trong nước với chi phí thấp hơn nhiều (khoảng 150 - 400 triệu đồng) so với ra nước ngoài (khoảng 30.000 - 50.000 USD, chưa kể chi phí đi lại của bệnh nhân và gia đình bệnh nhân). Mặt khác, đây là một bệnh lý rất nặng, nguy cơ tử vong sẽ rất cao nếu phải di chuyển xa ra nước ngoài. Do đó, nếu chúng ta triển khai được kỹ thuật này ngay tại trong nước thì có thể cứu sống nhiều bệnh nhân mắc bệnh lý này.

Xu hướng gia tăng bệnh nhân phình tách ĐMC

“Hiện nay, hầu như tuần nào chúng tôi cũng tiếp nhận những bệnh nhân mắc bệnh phình, hoặc phình tách thành ĐMC. Thống kê tại Viện Tim mạch Việt Nam cho thấy, nếu năm 2001 tại Viện chỉ có 25 bệnh nhân mắc bệnh lý này, năm 2007 có 95 bệnh nhân, thì trong vòng 4 tháng gần đây đã có tới 80 bệnh nhân phình tách ĐMC phải nhập viện, trong đó có nhiều bệnh nhân nhập viện trong tình trạng rất nặng”, GS.TS Nguyễn Lân Việt cho biết.
Theo GS Việt, ĐMC là động mạch lớn nhất, đưa máu từ tim đi nuôi hầu hết các cơ quan trong cơ thể. Phần ĐMC ở ngực gọi là ĐMC ngực, phần qua bụng gọi là ĐMC bụng. Đường kính của ĐMC ngực khoảng 3 cm, ĐMC bụng có đường kính khoảng 2 cm. Thành ĐMC có thể bị yếu đi hoặc tổn thương chủ yếu do bệnh tăng huyết áp, do quá trình lão hóa của tuổi già, do bất thường về gen, do nhiễm khuẩn (thường do giang mai) hoặc do chấn thương...

Người bệnh bị phình tách thành ĐMC thường có biểu hiện là đột ngột đau thắt ngực, đau dữ dội nhưng khi tiến hành làm điện tâm đồ, xét nghiệm men tim thì không thấy thay đổi như trường hợp nhồi máu cơ tim. Lúc này, các bác sỹ thường phải nghĩ tới bệnh lý phình tách ĐMC. Sau khi có kết quả chụp X quang tim phổi, siêu âm tim, siêu âm qua thực quản, hoặc chụp cắt lớp vi tính của đoạn ĐMC chủ đó, tùy theo tính chất tổn thương của bệnh, mà quyết định phẫu thuật hay đặt Stent Graft.

Với các bệnh nhân phình tách ĐMC type B thường rất khó phẫu thuật, mà trong phần lớn các trường hợp thì chỉ điều trị nội khoa hoặc xem xét khả năng đặt Stent Graft vào vị trí tương ứng với chỗ phình tách thành ĐMC.

Phình tách thành ĐMC là tai biến rất nguy hiểm mà tăng huyết áp không được kiểm soát tốt thường là yếu tố nguy cơ hàng đầu. Vì vậy, để phòng bệnh, cần theo dõi huyết áp, nhất là ở những người bệnh tăng huyết áp. Ngoài ra, cần chú ý đến chế độ dinh dưỡng hợp lý, tập thể dục đều đặn, bỏ thuốc lá, tránh căng thẳng, bức xúc nhiều...

Lần đầu tiên dùng kỹ thuật đặt stent graft chữa bệnh tim


Các bác sĩ của Viện tim mạch Việt Nam vừa thực hiện thành công kỹ thuật đặt stent graft động mạch chủ cho bệnh nhân bị bóc tách động mạch chủ.

Bệnh nhân Phan Thanh T. 60 tuổi vào Viện Tim mạch trong tình trạng đau ngực trái dữ dội. Kết quả trên phim chụp cắt lớp có hình ảnh bóc tách động mạch chủ type B từ sau chỗ xuất phát động mạch dưới rốn trái đến tận động mạch chủ bên trái. Các chuyên gia tim mạch cho rằng, đây là tình trạng bệnh rất nặng, có tỷ lệ tử vong cao ngay cả khi phẫu thuật tim với tuần hoàn ngoài cơ thể.

Trước tình trạng này, các bác sĩ của Viện Tim mạch đã quyết định sử dụng phương pháp đặt stent graft động mạch chủ bên phải cho bệnh nhân T. Thủ thuật này được tiến hành bằng kỹ thuật cải tiến không cần phẫu tích mô động mạch chủ và chỉ trong hơn 1h đã hoàn tất. Ngay khi thủ thuật, sức khỏe của bệnh nhân T đã hồi phục nhanh chóng và sẽ được xuất viện trong vài ngày tới.

TS Nguyễn Lân Hiếu, Viện Tim mạch Việt Nam cho biết, kỹ thuật đặt stent graft động mạch chủ lần đầu tiên được triển khai tại Việt Nam nhưng với kết quả bước đầu này đã mở ra nhiều cơ hội cho những bệnh nhân mắc căn bệnh hiểm nghèo liên quan đến tim.

Lao dong

Tách thành động mạch chủ - Bệnh nguy hiểm


Tách thành động mạch chủ hay còn gọi là lóc tách động mạch chủ là một thảm cảnh thực sự. Khoảng 50% bệnh nhân lóc tách type A tử vong trong 48 giờ đầu, số còn lại cũng hầu như không có cơ hội sống sót nếu không được phẫu thuật. Khởi đầu từ chỗ rách ở nội mạc gọi là điểm vào dòng máu chảy tách lớp áo giữa tạo nên "lòng giả". Lòng giả phát triển dọc theo đường đi của động mạch chủ làm hẹp, tắc hoặc đứt các nhánh của động mạch chủ. Các nhánh khi bị đứt sẽ tạo điểm vào thứ phát, dòng máu sẽ chảy trong lòng giả từ điểm nguyên phát đến thứ phát ngăn cản hình thành huyết khối trong lòng giả.

Lóc tách động mạch chủ nếu liên quan đến vị trí của động mạch chủ lên thì được gọi là type A, nếu không liên quan gọi là type B. Khi bị type A gần như chắc chắn sẽ tử vong nếu như không được phẫu thuật, còn type B trong phần lớn trường hợp không cần phẫu thuật. Nguyên nhân tử vong là vỡ động mạch chủ vào màng tim, nhồi máu cơ tim cấp, hở van động mạch chủ cấp và tai biến mạch máu não.

Những yếu tố thuận lợi để bệnh xuất hiện là tăng huyết áp, bệnh lý động mạch chủ, tuổi cao.

Biểu hiện của bệnh

Đau như xé ngực có tính chất di chuyển, có thể đau lan ra sau lưng xuất hiện đột ngột, tính chất đau rất dễ nghĩ đến nhồi máu cơ tim. Bệnh nhân có thể mất hoặc yếu mạch ở tay hoặc chân. Ngoài ra còn các triệu chứng lâm sàng khác mà các bác sĩ khám có thể phát hiện.

Các thăm dò cận lâm sàng có thể nghi ngờ hoặc "nhìn" thấy vị trí rách và lòng giả của mạch máu lóc tách như: siêu âm tim, siêu âm tim qua thực quản, chụp CT - Scanner, chụp cộng hưởng từ.

Nhìn chung với những triệu chứng cấp tính và dữ dội như vậy hầu như bệnh nhân luôn tìm đến thầy thuốc, vấn đề phát hiện sớm thuộc về các thầy thuốc tuyến cơ sở.

Điều trị bệnh

Nếu là tách thành động mạch chủ type A thì phương pháp điều trị duy nhất là phẫu thuật thay đoạn động mạch chủ lên hoặc quai động mạch chủ. Đây là một phẫu thuật lớn phải sử dụng máy tuần hoàn ngoài cơ thể, hạ nhiệt độ cơ thể xuống từ 25 -18 độ để bảo vệ não, tủy, thận và các cơ quan khác trong cơ thể. Phẫu thuật này có tỷ lệ tử vong từ 4 - 20% tùy vào bệnh nhân đến sớm hay muộn và trình độ cơ sở phẫu thuật. Nếu bệnh nhân qua được cuộc mổ, tình trạng bệnh sẽ chuyển từ type A sang type B. Với bệnh nhân type B, phương pháp điều trị chủ yếu là khống chế huyết áp ở mức tối đa, không nên vượt quá 120mmHg. Với type B chỉ phẫu thuật khi có các biến chứng như: vỡ và doạ vỡ động mạch chủ, thiếu máu tạng. Bệnh nhân sau khi ổn định ra viện sẽ được theo dõi định kỳ khoảng 1 - 3 tháng một lần, chụp lại phim cắt lớp vi tính từ 3 - 6 tháng 1 lần. Điều trị chủ yếu vẫn là khống chế huyết áp ở mức tối đa không vượt quá 120mmHg. Nếu bệnh nhân xuất hiện phình động mạch sẽ phải phẫu thuật thay đoạn động mạch chủ. Sau 5 năm tỷ lệ còn sống với type A sau mổ khoảng 80% và type B sau mổ khoảng 50%.

Dự án phòng chống bệnh tăng huyết áp Quốc gia - Viện Tim mạch Việt Nam

ThS. Nguyễn Hoàng Hà (Viện Tim mạch Việt Nam)

Phương pháp mới chữa phình động mạch chủ

Bằng phương pháp phẫu thuật lần đầu tiên được ứng dụng ở Việt Nam, các bác sĩ Viện Tim mạch (Bệnh viện Trung ương Quân đội 108) đã cứu sống bệnh nhân bị phình bóc tách động mạch chủ bụng tuýp B trong tình trạng nguy kịch.

Tiến sĩ Hoàng Quốc Toàn, Chủ nhiệm khoa Phẫu thuật lồng ngực - Tim mạch, Bệnh viện (BV) Trung ương Quân đội 108, cho biết phình động mạch chủ có tỷ lệ tử vong rất cao. Ở Việt Nam, số bệnh nhân phình bóc tách động mạch chủ được phát hiện ngày càng nhiều. Bệnh hay gặp ở những người có thói quen hút thuốc lá, huyết áp cao, tăng cholesterol máu.

Tăng huyết áp gây phình động mạch chủ

Trung tá Trịnh Trọng Tường (sinh năm 1958, ở Yên Thọ, Yên Định, Thanh Hóa) đang làm việc thì bị một cơn đau dữ dội từ xương cụt lên gáy, rồi kéo xuống đau toàn thân. Cấp cứu tại bệnh viện, các bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân bị viêm tủy cấp và có thể bị sự cố động mạch. Trên đường chuyển viện ra Hà Nội, bệnh nhân phải ghé vào 2 bệnh viện để hồi sức. Kết quả xét nghiệm tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho thấy bệnh nhân bị bóc tách và phình động mạch chủ bụng và ngực, gây thiếu máu tạng nặng, tràn dịch màng phổi, màng tim, huyết áp tăng cao.

Cuộc hội chẩn giữa bệnh viện Trung ương Quân đội 108 với bệnh viện Việt - Đức thất bại khi không thể mổ mở cho bệnh nhân. Sau 10 ngày điều trị nội khoa vẫn không có kết quả, các bác sĩ quyết định can thiệp nội mạch, mở lỗ thông. Kết quả, sau 2 giờ can thiệp, các triệu chứng đau giảm nhanh chóng. Sau 6 giờ, bệnh nhân hoàn toàn hết đau, huyết áp ổn định, không còn suy thận, tràn dịch màng phổi, màng tim. Sau 1 tuần, bệnh nhân hoàn toàn khỏe mạnh.

Theo TS Toàn, thành động mạch chủ có thể bị yếu hoặc tổn thương, thường do quá trình lão hóa hoặc tăng huyết áp, xơ vữa động mạch; một số do bất thường về gene, gây mỏng và yếu thành động mạch chủ; cũng có thể do nhiễm trùng (thường là giang mai) và chấn thương. Khi đường kính động mạch chủ lớn hơn 150% đường kính bình thường thì được gọi là phình động mạch chủ.

Nguy hiểm của bệnh là gây thiếu máu cho toàn bộ cơ thể khiến các cơ quan bị suy yếu, gây thiếu máu não, tủy, vàng da do vỡ hồng cầu, huyết khối. Bệnh rất nguy hiểm và có tỷ lệ tử vong cao (80%) nếu không được phát hiện và điều trị sớm. Tuy nhiên, phần lớn ca bệnh gần như không có triệu chứng. Bệnh nhân chỉ được phát hiện tình cờ qua chụp phim tim phổi.



“Mổ” không gây mê, không mất máu


TS Toàn cho biết khi đã có chẩn đoán phình bóc tách động mạch chủ, đặc biệt là động mạch chủ tuýp B, đa phần là phẫu thuật mổ mở, thay toàn bộ động mạch chủ ngực. Đây là một phẫu thuật rất khó khăn, nặng nề trên nền một bệnh nhân suy yếu và thiếu máu nên hồi sức khó khăn, chi phí điều trị vài trăm triệu đồng, song thống kê tại BV Việt - Đức cho thấy 70% bệnh nhân vẫn tử vong.

Gần đây, có một phương pháp mới được áp dụng là đặt stent (giá đỡ) vào đoạn mạch máu bị phình tách. Stent được làm bằng kim loại đặc biệt, giá khoảng 15.000 USD. Phương pháp mới có ưu điểm là ít biến chứng, gần như không phải truyền máu, thời gian nằm viện ngắn. Tuy nhiên, cũng có các hạn chế như: nhiều bệnh nhân không thể đặt được stent do vị trí tổn thương của phình tách, có nguy cơ stent tuột khỏi vị trí đặt ban đầu...

Vì vậy, lần đầu tiên tại Việt Nam, bệnh viện Trung ương Quân đội 108 phối hợp hai khoa Phẫu thuật tim mạch và Can thiệp mạch, dùng kỹ thuật can thiệp mạch luồn ống thông từ động mạch đùi hoặc động mạch quay, bơm bóng căng, mở lỗ thông. Phương pháp này an toàn, hiệu quả và chi phí ít hơn, bệnh nhân không phải gây mê, không mất máu, nhanh hồi phục. Tuy nhiên, đây là kỹ thuật đòi hỏi kỹ thuật viên phải có kinh nghiệm cao, vì mạch nhỏ, dễ chọc nhầm các thành, gây chảy máu ồ ạt, bệnh nhân tử vong nhanh.

Báo đất việt

Biến chứng của bóc tách động mạch chủ - Kỳ III

Nguy cơ nhồi máu cơ tim

Khoảng 1 - 2% các trường hợp bóc tách ĐMC đoạn gần gây đè ép vào lỗ ĐMV và gây nhồi máu cơ tim cấp. Điều đáng lo ngại nhất là khi làm điện tâm đồ thấy hình ảnh nhồi máu cơ tim thì bệnh bóc tách ĐMC có thể bị bỏ qua. Khi đánh giá các bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp tính, đặc biệt là nhồi máu cơ tim thành dưới, cần phải xem xét thận trọng để loại trừ bóc tách ĐMC trước khi sử dụng thuốc tiêu sợi huyết hay thuốc chống đông.

Thay thế động mạch chủ bị bóc tách bằng đoạn mạch chủ nhân tạo.

Các biến chứng khác:

Đó là thiếu máu thận hay nhồi máu thận thực sự và thường gây tăng huyết áp trầm trọng, suy thận cấp; Thiếu máu và nhồi máu mạc treo ruột gặp 3 - 5% các trường hợp bóc tách ĐMC bụng đe dọa đến tính mạng người bệnh. Thêm vào đó, khoảng 12% bóc tách ĐMC có thể lan đến động mạch chậu và làm mất mạch đùi, thiếu máu chi dưới cấp tính.
Thay thế động mạch chủ bị bóc tách bằng đoạn mạch chủ nhân tạo.

Các bệnh nhân bóc tách ĐMC thường có tràn dịch màng phổi trái mức độ nhẹ. Dịch có thể tăng lên thứ phát do phản ứng viêm xung quanh ĐMC bị bóc tách, nhưng trong một số trường hợp bị tràn dịch màng phổi nhiều do tràn máu màng phổi, kết quả của sự nứt vỡ thoáng qua của ĐMC xuống vào khoang màng phổi. Một số triệu chứng ít gặp khác là khàn giọng, tắc nghẽn đường hô hấp trên, vỡ vào khí phế quản gây ho ra máu, khó nuốt, nôn ra máu do vỡ vào thực quản, hội chứng tĩnh mạch chủ trên, một khối ở cổ đập theo nhịp tim, hội chứng Horner và sốt không rõ nguyên nhân. Các triệu chứng hiếm gặp khác là tiếng thổi liên tục do bóc tách ĐMC vỡ vào nhĩ phải, thất phải hay nhĩ trái gây suy tim ứ huyết thứ phát.

Có nhiều tình trạng bệnh lý tương tự như bóc tách ĐMC bao gồm thiếu máu hay nhồi máu cơ tim, viêm màng ngoài tim, thuyên tắc động mạch phổi, hở van ĐMC cấp tính không do bóc tách ĐMC, phình ĐMC ngực hay bụng không có kèm theo bóc tách hay u trung thất.

Xử trí bóc tách ĐMC

Điều trị nội khoa được chỉ định cho các bệnh nhân bị bóc tách ĐMC đoạn xa ổn định, không có các biến chứng cấp tính do bóc tách và tỷ lệ sống còn sau 30 ngày có thể đạt tới 92%. Tất cả các bệnh nhân nghi ngờ bị bóc tách ĐMC cấp tính cần được điều trị tại khoa điều trị tim mạch tích cực và cần được theo dõi huyết áp, ổn định tình trạng huyết động, theo dõi nhịp tim và nước tiểu. Nếu bệnh nhân bị tụt huyết áp hoặc có suy tim ứ huyết thì cần theo dõi áp lực tĩnh mạch trung tâm, áp lực mao mạch phổi bít và cung lượng tim.

Bệnh nhân nghi ngờ bóc tách ĐMC bị tụt huyết áp, có thể vì mất khối lượng tuần hoàn do tràn máu màng ngoài tim gây ép tim cấp hoặc vỡ ĐMC. Trước khi bắt đầu điều trị tích cực tụt huyết áp, cần cảnh giác với hiện tượng giả tụt huyết áp do mạch máu của bên tay đo huyết áp bị ảnh hưởng bởi lòng giả của ĐMC bị bóc tách.

Điều trị nội khoa ngày nay là liệu pháp đầu tiên cho tất cả các bệnh nhân bị bóc tách ĐMC và là liệu pháp điều trị lâu dài cho các bệnh nhân bị bóc tách ĐMC đoạn xa.

Phẫu thuật được thực hiện khi nào?

Phẫu thuật (hay can thiệp qua da) cần phải được tiến hành cho các bệnh nhân điều trị nội khoa thất bại như có biểu hiện của dọa vỡ hay vỡ ĐMC, bóc tách tiến triển gây ảnh hưởng đến các cơ quan sống, không kiểm soát được cảm giác đau bằng thuốc, bóc tách ĐMC đoạn xa tiến triển bóc tách ngược đến ĐMC lên. Thủ thuật ngoại khoa đầu tiên để điều trị bóc tách ĐMC là thủ thuật mở cửa sổ làm thông giữa lòng thật và lòng giả ở phía xa, do vậy làm giảm áp lực trong lòng giả. Hiện nay kỹ thuật này vẫn còn được sử dụng cho một số bệnh nhân được lựa chọn bị bóc tách ĐMC xuống để làm giảm thiếu máu chi, thận hay mạc treo ruột.

Phẫu thụât điều trị triệt để được tiến hành vào đầu những năm 50 của thế kỷ trước. Mục đích là cắt bỏ lớp nội mạc bị rách, bịt lại lòng giả bằng cách khâu vào bờ ĐMC, khôi phục lại ĐMC trực tiếp hoặc thay đoạn ĐMC bằng mảnh ghép động mạch nhân tạo.

Can thiệp mạch máu qua da

Một trong những kỹ thuật mới có nhiều triển vọng là can thiệp mạch máu qua da, điều trị cho các bệnh nhân bị bóc tách ĐMC có nguy cơ cao. Thứ nhất là dùng bóng để mở cửa sổ ở lớp áo trong phía xa đoạn ĐMC bị bóc tách giúp làm giảm áp lực trong lòng giả và giảm kích thước của lòng giả. Kỹ thuật thứ hai là đặt stent vào các nhánh động mạch bị ảnh hưởng bởi bóc tách.

Đặt mảnh ghép stent ĐMC qua da đang được nghiên cứu và có nhiều triển vọng thay thế phẫu thuật sửa chữa ĐMC. Các nhà khoa học hy vọng rằng kỹ thuật này sẽ làm giảm tỷ lệ biến chứng và tỷ lệ tử vong do bóc tách ĐMC và làm giảm nguy cơ hình thành phình ĐMC sau bóc tách.

PGS.TS. Nguyễn Quang Tuấn-suckhoedoisong

Nhận biết các dấu hiệu của bóc tách động mạch chủ (Kỳ II)

Hầu hết các bóc tách ĐMC đều xuất phát ở một trong hai vị trí: ĐMC lên (trong vòng vài cm gần van ĐMC) và ĐMC xuống (ngay sau chỗ xuất phát của động mạch dưới đòn trái). Những trường hợp bóc tách ĐMC trong vòng 2 tuần được gọi là cấp tính, trong khi những trường hợp bị trên 2 tuần được gọi là mạn tính vì tỷ lệ tử vong của các trường hợp bóc tách ĐMC không được điều trị đến thời điểm này vào khoảng 75 - 80%. Tuy nhiên, hầu hết các bệnh nhân được chẩn đoán trong giai đoạn cấp tính.


Động mạch chủ bình thường (trái), động mạch chủ bị bóc tách(phải).


Tăng huyết áp và cao tuổi là nguyên nhân chủ yếu

Thoái hóa hình nang lớp áo giữa là tình trạng bệnh lý quan trọng của lớp áo giữa và thường xuất hiện trước trong bóc tách ĐMC. Do vậy bất cứ một quá trình bệnh lý hay tình trạng bệnh lý nào ảnh hưởng đến tính toàn vẹn của thành phần sợi chun hay cơ trơn của lớp áo giữa sẽ dễ dàng dẫn đến bóc tách ĐMC. Thoái hóa hình nang lớp áo giữa là đặc điểm nội tại của một số khiếm khuyết di truyền về tổ chức liên kết như trong hội chứng Marfan và Ehlers-Danlos và cũng thường gặp trong các bệnh nhân van ĐMC có 2 lá van. Trong các trường hợp không có hội chứng Marfan, chỉ có một số ít các trường hợp bị bóc tách ĐMC có mô bệnh học đặc trưng của thoái hóa hình nang lớp áo giữa. Tuy nhiên, các mức độ thoái hóa hình nang lớp áo giữa khác nhau được ghi nhận trong hầu hết các trường hợp bóc tách ĐMC khác và có xu hướng trầm trọng hơn theo diễn biến tự nhiên của tuổi tác. Mặc dù nguyên nhân của thoái hóa hình nang lớp áo giữa vẫn còn chưa rõ ràng, tuổi cao và tăng huyết áp là 2 trong số các yếu tố nguy cơ quan trọng nhất.
Tuổi cao và tăng huyết áp là 2 trong số các yếu tố nguy cơ quan trọng nhất

Sự liên quan giữa thai kỳ và bóc tách ĐMC vẫn chưa giải thích được. Khoảng 50% các trường hợp bóc tách ĐMC ở nữ giới có độ tuổi dưới 40 xuất hiện trong khi mang thai, đặc trưng là trong 3 tháng cuối. Tăng thể tích máu, cung lượng tim và áp lực máu trong giai đoạn cuối của thai kỳ có thể là yếu tố nguy cơ.

Biểu hiện của bệnh

Triệu chứng thường gặp nhất là đau ngực dữ dội và đột ngột ngay từ khi bắt đầu, khác với nhồi máu cơ tim là mức độ đau tăng dần và không dữ dội bằng. Trên thực tế, đau ngực do bóc tách ĐMC có thể không thể chịu đựng nổi trong một số trường hợp và làm cho người bệnh quằn quại vì đau đớn, ngã xuống đất hay vật vã để giảm đau. Một số đặc điểm của đau nghi ngờ do bóc tách ĐMC bao gồm đau như xé ngực, đau vượt quá sức chịu đựng, đau buốt nhói, đau như dao đâm gặp trong 50% các trường hợp. Tuy nhiên không phải hiếm gặp các trường hợp bóc tách ĐMC mô tả cơn đau có tính chất như do thiếu máu cơ tim hay nhồi máu cơ tim cấp.

Một đặc điểm quan trọng khác của cảm giác đau trong bóc tách ĐMC là lan từ vị trí xuất phát đến một vị trí khác, theo đường đi của bóc tách ĐMC. 90% bệnh nhân bóc tách ĐMC lên có cảm giác bị đau phía trước ngực. Ngược lại, các bệnh nhân bị đau giữa xương bả vai là triệu chứng của bóc tách ĐMC xuống. Biểu hiện của bất kỳ đau ở cổ, họng, hàm hay mặt gợi ý bóc tách ĐMC lên, trong khi đau ở bụng, lưng hay ở chi dưới gợi ý bóc tách ĐMC xuống.

Các triệu chứng ít gặp khác có thể đi kèm với đau ngực là suy tim ứ huyết, ngất, tai biến mạch máu não, thiếu máu thần kinh ngoại biên, liệt 2 chân và ngừng tim hay đột tử. Tăng huyết áp gặp trong 70% các trường hợp bóc tách ĐMC đoạn xa nhưng chỉ 36% trong bóc tách ĐMC đoạn gần. Tụt huyết áp xuất hiện nhiều hơn trong bóc tách ĐMC đoạn gần.

Các triệu chứng thực thể đặc trưng bao gồm: mất mạch, tiếng thổi tâm trương ở ổ van ĐMC và biểu hiện về thần kinh thường là do bóc tách ĐMC đoạn gần. Mất mạch là một yếu tố dự đoán nguy cơ cao gây thiếu máu các phủ tạng, thiếu máu não.

Hở van ĐMC là một đặc điểm quan trọng của bóc tách ĐMC đoạn gần, gặp trong 1/2 đến 2/3 các trường hợp do một số cơ chế. Biểu hiện thần kinh gặp trong 6 - 19% các trường hợp bóc tách ĐMC và thường gặp trong trường hợp bóc tách ĐMC đoạn gần. Tai biến mạch máu não có thể xuất hiện 3 - 6% khi động mạch không tên hay động mạch cảnh gốc trái bị ảnh hưởng. Khi các động mạch đốt sống bị ảnh hưởng có thể gây thiếu máu tủy sống và gây ra liệt 2 chân.

PGS.TS. Nguyễn Quang Tuấn-SKDS

Kỳ I - Bóc tách động mạch chủ dễ mắc phải ở người cao tuổi

Nguy cơ bóc tách động mạch chủ (ĐMC) cao nhất là ở những năm 60 - 70 tuổi của cuộc đời. Nam giới có tỷ lệ mắc cao gấp đôi nữ giới. Khoảng 3/4 bệnh nhân bóc tách ĐMC có tiền sử tăng huyết áp. Van ĐMC có 2 lá van cũng được chứng minh là yếu tố nguy cơ gây bóc tách ĐMC đoạn gần và chiếm 5 - 7% bóc tách ĐMC nói chung. Tỷ lệ tử vong sớm rất cao, khoảng 1% mỗi giờ nếu không được điều trị, nhưng tỷ lệ sống có thể được cải thiện rõ rệt nếu được điều trị nội khoa và/hoặc ngoại khoa sớm.

Vai trò tuần hoàn của động mạch chủ

ĐMC được chia ra thành ĐMC ngực và ĐMC bụng. ĐMC ngực lại chia ra thêm thành các đoạn ĐMC lên, quai ĐMC và ĐMC xuống, ĐMC bụng bao gồm đoạn ĐMC trên thận và dưới thận. Quai ĐMC cho ra tất cả các nhánh động mạch cánh tay đầu.

Sức mạnh của ĐMC nằm ở lớp áo giữa, được tạo nên từ những lớp mỏng là tổ chức chun giãn quấn lại với nhau sắp xếp theo hình xoắn ốc đã tạo cho ĐMC có sức căng tối đa. Chính vì thế, mặc dù mỏng như vậy nhưng thành của ĐMC có thể chịu đựng áp lực hàng nghìn mmHg mà không bị vỡ. Khác với cấu trúc của các động mạch nhỏ hơn, lớp áo giữa của động mạch chủ bao gồm nhiều lớp các sợi chun, đã làm cho động mạch chủ không chỉ có sức căng mà còn có thể phồng lên chun giãn. Chức năng này đóng vai trò sống còn của hệ thống tuần hoàn. Lớp nội mạc của lớp áo trong động mạch chủ mỏng, mềm mại và rất dễ bị tổn thương. Lớp áo ngoài chứa thành phần chủ yếu là chất tạo keo và có nhiều mạch máu nhỏ nuôi dưỡng cho một nửa ngoài của thành động mạch chủ, bao gồm một phần lớn lớp áo giữa.

Khi tâm thất trái co bóp làm động mạch chủ (ĐMC) phồng lên bởi áp lực của máu được bơm ra từ tâm thất trái. Bằng cách đó, một phần năng lượng động lực học được sinh ra bởi sự co bóp của tâm thất trái được biến đổi thành năng lượng tiềm tàng dự trữ ở thành ĐMC. Sau đó, trong thời kỳ tâm trương, năng lượng dự trữ này được chuyển đổi trở lại thành năng lượng động lực học khi thành ĐMC co lại và đẩy máu ở trong lòng ĐMC ở xa vào trong các động mạch ngoại biên. Do vậy, ĐMC đóng vai trò chủ yếu trong việc duy trì sự tuần hoàn của máu trong thời kỳ tâm trương sau khi chúng được đưa vào trong ĐMC bởi tâm thất trái trong thời kỳ tâm thu. Bản thân các sóng mạch, cùng với hiệu ứng vắt sữa của nó, được lan truyền dọc theo ĐMC tới động mạch ngoại biên với tốc độ khoảng 5m/giây. Tốc độ này nhanh hơn nhiều tốc độ của bản thân dòng máu trong lòng mạch, di chuyển chỉ 40 - 50cm/giây.

Bóc tách ĐMC xảy ra khi nào?

Bóc tách ĐMC bắt đầu với sự hình thành một vết rách ở lớp áo trong của ĐMC, làm bộc lộ trực tiếp lớp áo giữa bị bệnh lý với lực xé của dòng máu chảy trong lòng ĐMC. Máu thâm nhập vào lớp áo giữa bệnh lý làm tách dọc theo lớp áo giữa do vậy gây bóc tách thành ĐMC. Với lực xé do áp lực máu trong lòng mạch sẽ làm cho quá trình bóc tách lan rộng dọc theo chiều dài của ĐMC với các mức độ trầm trọng khác nhau. Máu ở khoảng giữa các lớp bị bóc tách gọi là lòng giả. Ngoài ra, bóc tách ĐMC có thể khởi đầu bởi vỡ các mạch máu ở trong lớp áo giữa gây ra tụ máu ở trong thành của ĐMC. Chảy máu tại chỗ sau đó vỡ thứ phát qua lớp áo trong, gây ra rách lớp áo trong và bóc tách thành ĐMC. Nguy cơ bóc tách ĐMC phụ thuộc vào mức độ hẹp của van ĐMC có 2 lá van.
Hậu quả suy giảm chức năng của ĐMC

Khả năng chun giãn của ĐMC đóng góp chủ yếu vào việc duy trì chức năng bình thường của nó. Tuy nhiên, tính chun giãn và căng phồng lên của ĐMC giảm đi cùng với tuổi tác. Sự thay đổi này xuất hiện ở những người bình thường. Mất khả năng chun giãn và giãn nở làm tăng áp lực mạch thường thấy ở người lớn tuổi và kéo theo là ĐMC dần dần giãn ra. Mất sự chun giãn với tuổi tác sẽ tiến triển nhanh hơn ở người có bệnh tăng huyết áp (THA), tăng cholesterol máu hay bệnh động mạch vành so với những người bình thường. Ngược lại, ở những vận động viên, tính chun giãn của ĐMC cao hơn những người cùng lứa tuổi khác.

Về mặt mô học, thành ĐMC ở người cao tuổi có biểu hiện các sợi chun bị đứt gẫy kèm theo với tăng sợi tạo keo dẫn đến làm tăng tỷ lệ sợi tạo keo so với sợi chun, góp phần làm mất tính giãn nở. Sự giảm dòng máu ở các mạch máu nuôi thành ĐMC sẽ làm thành ĐMC cứng hơn với những biến đổi về mô học tương tự và có thể đây là một nguyên nhân gây ra những biến đổi thoái hóa theo tuổi tác.

PGS.TS. Nguyễn Quang Tuấn