Hiển thị các bài đăng có nhãn Y học cổ truyền chữa bệnh tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Y học cổ truyền chữa bệnh tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng

Đông y trị viêm tắc tĩnh mạch


Viêm tắc mạch Đông y gọi là "thoát thư", bệnh thường thấy ở tay, chân; hay gặp nhiều nhất là ở chân, bệnh có liên quan đến thần kinh và vận mạch. Nguyên nhân chủ yếu là do mạch lạc bị nghẽn tắc khí huyết không được lưu thông, tổ chức bì phu cơ nhục không được nuôi dưỡng gây ra hoại tử.

Bệnh có thể chia làm 3 thời kỳ

Thời kỳ đầu: Vệ khí dinh huyết không điều hoà, máu lưu thông kém đặc biệt là vùng xa như đầu ngón tay, chân; nên có dấu hiệu ngón chân lạnh, tê dại kiến bò; bàn tay, bàn chân, cẳng chân đau, tê lạnh, đau cách hồi.

Thời kỳ tiếp theo: Khí trệ huyết ứ, mạch máu tắc nghẽn, ngón chân hoặc ngón tay tím đỏ dần chuyển thành tím, đen, đau tê, nhức không chịu được.

Thời kỳ cuối: Hàn tà bị bó lại, uất kết nung nấu tân dịch, hoá hoả, hoả độc làm cơ nhục tổn thương, sưng to, vỡ, chảy nước vàng hoặc máu, mủ tuỳ thuộc vào hoả độc tà mạnh hay yếu, nhiều hay ít; cuối cùng gây tổn thương cơ nhục, cân mạc, xương khớp hoại tử thậm chí rụng đốt xương. Sau đây là một số bài thuốc điều trị tùy theo từng thể bệnh để bạn đọc tham khảo và áp dụng:

Thể hư hàn:

Triệu chứng: Sắc mặt tái nhợt, người mệt mỏi, thích ấm sợ lạnh, chi mắc bệnh lạnh sắc da tái nhợt, tê dại đau, chườm nóng hoặc đắp ấm dễ chịu, cẳng chân, tay hay giật, đau mỏi tăng dần, nhiều khi đang đi phải đứng lại vì đau (đau cách hồi), tiểu tiện trong, đầy bụng hoặc sôi bụng, đại tiện lỏng; Lưỡi nhợt, rêu trắng mỏng; Mạch trầm trì vô lực.

Phương pháp điều trị: Ôn kinh, tán hàn, hoạt huyết, thông lạc.

Bài thuốc: Đào hồng tứ vật thang gia giảm gồm đương qui 12g, xích thược 12g, đào nhân 10g, hồng hoa 8g, quế chi 8g, đan sâm 12g, ngưu tất 16g, tang ký sinh 16g, bạch giới tử 8g, sinh hoàng kỳ 12g, xuyên luyện tử 12g, bào khương 8g, hắc phụ tử 10g. Tất cả cho vào nồi sắc với 2.000ml nước, lọc bỏ bã lấy 200ml. Uống ngày 1 thang chia làm 3 lần.

Thể khí trệ huyết ứ:

Triệu chứng: Sắc mặt tối xạm, tinh thần ủ rũ, bứt rứt dễ nóng nảy, đêm đau tăng, chân hoặc tay lạnh, sắc da thâm tím, khô; Chất lưỡi đỏ hoặc tím thâm. Mạch trầm tế.

Phương pháp điều trị: Hoạt huyết khứ ứ, hành khí giải uất.

Bài thuốc: Thông mạch hoạt huyết thang gồm đương qui 12g, hoàng kỳ 16g , sinh địa 12g, huyền sâm 12g, kim ngân hoa 10g, bồ công anh 10g, tử hoa địa đinh 12g, đan sâm 12g, hồng hoa 8g, nhũ hương 10g, một dược 10g, diên hồ sách 8g, cam thảo 6g. Cách sắc và uống như bài trên.

Thể nhiệt độc thịnh:

Triệu chứng: Sắc mặt xạm khô, người bứt rứt khó chịu, ù tai chóng mặt, chi mắc bệnh đen tím, sưng to mọng, đau liên tục, tại chỗ bắt đầu lở loét hoại tử, chi phù da bóng, chảy nước hoặc chảy máu, mủ; Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dầy. Mạch tế sác.

Phương pháp điều trị: Thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết thông lạc.

Bài thuốc: Tứ diệu thang gia giảm gồm hoàng kỳ 16g, đương qui 12g, kim ngân hoa 16g, sinh cam thảo 6g, đan sâm 12g, tử thảo nhung12g, xích thược 12g, ngưu tất 12g, nhũ hương 10g, một dược 10g, địa miết trùng 10g, địa long 12g. Sắc uống như trên.

Thể khí huyết lưỡng hư:

Triệu chứng: Người mệt mỏi, gầy yếu, ra nhiều mồ hôi, chi bị bệnh đau ít hoặc đỡ đau, vết loét lâu ngày chảy mủ, máu hoặc nước vàng, không liền miệng, da sắc vàng xạm; Chất lưỡi bệu, nhợt, mạch trầm tế vô lực.

Phương pháp điều trị: Bổ khí dưỡng huyết, hoạt huyết thông lạc.

Bài thuốc: Cố bộ thang gia giảm gồm kim ngân hoa 16g, đương qui 12g, thạch hộc 12g, hoàng kỳ 16g, sâm cát lâm 10g, ngưu tất 12g, xuyên sơn giáp 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Nếu đã biểu hiện thoát thư phải ngâm rửa bằng nước sắc lá mỏ quạ + muối; tuỳ tình hình cụ thể có thể dùng một trong các thuốc bôi thích hợp như Bát nhị đơn, Bạch ngọc cao hoặc Ngọc hồng sinh cơ cao.

TTND.BS. Trần Văn Bản, Phó chủ tịch Trung ương hội Đông y Việt Nam - skđs

Đông y trị đau ngực


Đau ngực là triệu chứng thường gặp trong lâm sàng. Thực tế, nhiều khi khó chẩn đoán vì nó chỉ là biểu hiện của nhiều bệnh khác nhau, có lúc đòi hỏi phải can thiệp kịp thời bằng các phương tiện hồi sức cấp cứu của y học hiện đại (đau ngực dữ dội trong nhồi máu cơ tim cấp, tràn khí màng phổi...). Tuy nhiên, có thể sử dụng thuốc y học cổ truyền để trị chứng đau ngực trong một số thể bệnh nhất định như đau ngực bán cấp, mạn tính hoặc giai đoạn ổn định của các bệnh trên.

Dưới đây là một số nguyên nhân thường gặp và phương pháp điều trị đau ngực bằng y học cổ truyền.

Đau ngực do bệnh tim mạch: Cơn đau thắt ngực và thiếu máu cơ tim. Theo đông y do khí trệ huyết ứ gây ra. Triệu chứng: người bệnh đau nhói vùng sau xương ức lan ra cánh tay trái, tức ngực, mệt mỏi, hồi hộp, chất lưỡi tím, mạch trầm tế. Pháp điều trị: hành khí hoạt huyết. Bài thuốc: Huyết phủ trục ứ thang gia giảm (xuyên khung, hồng hoa, đương quy, cát cánh, mỗi vị 12g; sinh địa, đào nhân, chỉ xác, qua lâu, mỗi vị 8g; phỉ bạch, cam thảo, trần bì, mỗi vị 6g). Sắc uống ngày 1 thang.

Rối loạn thần kinh tim: Đông y cho là chứng tâm quý, bệnh nhân đau vùng ngực, không liên quan đến gắng sức, không đau lan. Có 2 thể: thể tâm huyết hư: đau tức ngực, chóng mặt, hồi hộp, tim đập nhanh, ngủ ít, hay mê, chất lưỡi đỏ, mạch tế nhược. Pháp điều trị: bổ huyết dưỡng tâm an thần. Bài thuốc: Quy tỳ thang gia giảm (đương quy, đảng sâm, hoàng kỳ, bạch truật, mỗi vị 12g; long nhãn, viễn chí, táo nhân, mỗi vị 8g; cam thảo, phục thần, mộc hương, mỗi vị 6g). Thể dương hư (tâm dương hư, tỳ dương hư...) triệu chứng lâm sàng: hồi hộp, đau ngực, đau lưng, chân tay lạnh, sợ lạnh, ăn ngủ kém, tiểu nhiều, mạch trầm tế. Pháp điều trị: ôn dương an thần. Bài thuốc: Thận khí hoàn gia giảm (thục địa, hoài sơn, mỗi vị 12g; trạch tả 8g, đơn bì, phục linh, mỗi vị 8g; sơn thù, phụ tử chế, mỗi vị 6g; quế nhục 4g)...

Đau ngực do bệnh phế quản, phổi: Tràn dịch màng phổi (thường do lao), trong Đông y là chứng huyền ẩm. Biểu hiện: ho khan, khó thở, đau ngực, tăng khi thay đổi tư thế, rêu lưỡi trắng, mạch huyền hoạt. Pháp điều trị: trục thủy lý khí. Bài thuốc: Thập táo thang gia giảm: nguyên hoa, đại kích, cam thảo mỗi vị 4g; đại táo 12 quả. Sắc uống ngày 1 thang.
Hạnh nhân

Viêm phế quản, viêm phổi: Chứng khái thấu, đàm ẩm trong y học cổ truyền. Tùy theo thể bệnh mà có cách chữa khác nhau: Thể phong hàn phạm phế: ho ra đờm loãng, trắng, dễ khạc có thể đau ngực, phát sốt, sợ lạnh, ngứa cổ, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù. Pháp điều trị: sơ phong tán hàn chỉ khái trừ đàm. Bài thuốc: Chỉ khái tán gia giảm: hạnh nhân (khổ hạnh nhân), tiền hồ, mỗi vị 12g; cát cánh, tử uyển, cam thảo, mỗi vị 8g. Thể phong nhiệt phạm phế: ho, đau tức ngực, khạc nhiều đờm vàng, họng khô, phát sốt, nhức đầu, rêu lưỡi vàng, mạch phù sác. Pháp điều trị: sơ phong thanh nhiệt chỉ khái trừ đờm. Bài thuốc: Tang hạnh thang gia giảm: tang diệp, tiền hồ, sa sâm, tang bạch bì, mỗi vị 12g; khổ hạnh nhân 8g, chi tử, bối mẫu, cam thảo, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Đau ngực do các bệnh về tiêu hoá: Sỏi túi mật, viêm túi mật... Theo Đông y do khí trệ hoặc thấp nhiệt ở can đởm. Triệu chứng: đau từ hạ sườn bên phải lan lên ngực, vàng da, vàng mắt, sốt, miệng đắng, họng khô, rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác. Pháp điều trị: thanh nhiệt lợi thấp, sơ can lý khí. Bài thuốc: Long đởm tả can thang gia giảm: long đởm thảo, sài hồ, mỗi vị 12g; hoàng cầm, chi tử, mỗi vị 8g; đại hoàng, cam thảo, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Trường hợp viêm loét dạ dày - tá tràng: Đông y gọi là vị quản thống. Biểu hiện: đau trước hay sau bữa ăn, đau theo giờ nhất định, có khi đau không theo quy luật, đau vùng thượng vị lan ra sau lưng, hai bên sườn hoặc lên ngực, ăn kém, bụng đầy, ợ hơi, ợ chua. Tùy thể bệnh mà có pháp điều trị và phương dược khác nhau: thể can khí phạm vị, phải sơ can hoà vị, bài thuốc: Sài hồ sơ can thang gia giảm: sài hồ, bạch thược, mỗi vị 12g; hương phụ, chỉ xác, mỗi vị 8g; cam thảo 6g. Thể tỳ vị hư hàn phải ôn trung kiện tỳ, bài thuốc: Lý trung thang: đảng sâm, bạch truật, mỗi vị 12g, can khương 8g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Ngoài ra, đau ngực còn có nguyên nhân từ tuyến vú như: viêm tuyến vú, tắc tia sữa, áp-xe vú... Theo y học cổ truyền thường do nhiệt độc gây ra, hay xuất hiện ở phụ nữ thời kỳ sau đẻ, người bệnh thường phát sốt, vú sưng đau, rêu lưỡi vàng, mạch sác. Pháp điều trị: thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết lợi sữa. Bài thuốc: Hoà nhũ thang gia giảm: bồ công anh 20g, kim ngân hoa, liên kiều, mỗi vị 12g; hoàng cầm, sài hồ, thanh bì, mỗi vị 8g; qua lâu 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

BS. Phạm Xuân Hùng - Suckhoedoisong

Lưu ý với thảo dược trị tim mạch



Theo nghiên cứu của hội đồng khoa học dược thảo Atlanta (Georgia Mỹ), không nên lạm dụng chuẩn định các dược thảo trị tim mạch như: ích mẫu, hương phụ, bạch quả, rễ đinh lăng, cỏ chó đẻ, quất ta, gừng, tỏi, hạt, lá sen, dây chùm bao, lá mã đề, rễ chanh…

Trước đây chúng là thảo dược chuyên trị tim mạch suy, làm giảm cholesterol và trị huyết áp cao nhưng khi sử dụng kèm các thảo mộc khác, chúng cũng sẽ gây những tương tác bất lợi, dẫn đến tác dụng phụ như: nguy cơ tăng xuất huyết, tụt huyết áp đột ngột, nhịp tim rối loạn nhanh, làm giảm hiệu ứng của thuốc ổn định nhịp tim, mất hiệu lực thuốc kháng đông máu. Rễ và thân cây ma hoàng chữa mất ngủ cũng có thể tăng nguy cơ đột quỵ, nhồi máu cơ tim nếu lương y kết hợp với dược thảo tăng lực, cường dương, hay chống béo phì, giảm cân.

Do vậy, khi chữa bệnh tim mạch bằng thảo dược phải thận trọng và báo ngay với lương y khi xảy ra phản ứng phụ.

Đông y sỹ Kiều Bá Long - TN

Cà tím trị tăng huyết áp



Cà tím còn có tên cà dái dê, cà tím dài, cà dê. Không lẫn cà pháo cà dừa, cà bát vỏ tím. Tên Hán gọi cà với tên chung là Nuy qua. Tên khoa học: Solanum melongema, họ cà.


Trong các loại cà đặc biệt là cà tím dài là thực phẩm có từ 2000 năm trước Công nguyên ở nhiều vùng nhiệt đới Á Phi, nó được ưa chuộng vì chứa nhiều vitamin và ít calo. Cà có thể bung, luộc, nướng, xào, nấu, trộn... chung với các thứ khác mà không hề bị giảm chất lượng thực phẩm của nó.

Cà tím được dùng làm thức ăn phòng chữa bệnh nếu là quả chín tới.

Theo Đông y cà tím đã được ghi trong bản thảo cương mục và các y văn cổ có tính năng cực hàn, thanh can, giáng hoả, lợi tiểu, nhuận tràng, chỉ huyết, hoá đàm, thanh nhiệt, giải độc.

Một số bài thuốc chữa bệnh có dùng cà tím:

Cà tím xào mã đề: Cà tím 200g, mã đề 15g, hành 10g, gừng 5g, tỏi 10, dầu mè, nước tương (xì dầu) một lượng thích hợp. Cà rửa sạch, cắt miếng, mã đề làm sạch; hành cắt khúc, gừng cắt lát; tỏi bỏ vỏ, cắt khô. Để chảo nóng đổ dầu vào, chờ dầu nóng bỏ gừng, hành vào phi thơm; rồi bỏ cà, mã đề vào trộn đều, bỏ muối và một ít nước vào xào chín là được. Mỗi ngày ăn một lần. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, hạ áp huyết.

Canh gà, cà tím: Gà giò 1 con, cà tím 200g, sơn tra 15g, gừng 5g, hành 10g, dầu, muối một lượng thích hợp. Gà làm sạch, bỏ nội tạng; cà tím rửa sạch, cắt miếng, gừng cắt lát; hành cắt khúc. Để nồi nóng đổ dầu vào, cho gừng, hành vào phi thơm bỏ gà vào xào sơ. Tiếp đó, đổ nước vào, bỏ cà, sơn tra, muối vào, nấu sôi bằng lửa lớn, sau đó vặn lửa nhỏ nấu thêm chừng 30 phút là được. Mỗi ngày ăn một lần, dùng thay thức ăn. Có tác dụng tiêu thực tan ứ, giảm mỡ, hạ huyết áp.

Giảm huyết áp bằng các món chay: Nhiều món chay dùng cà tím. Ví dụ: Cà tím nhồi om - cà tím dài 3 quả nhỏ. Nhân thịt chay 300g, sốt cà chua 15ml, dầu vừng 2 thìa, gia vị. Cà thái dọc làm 2 nửa bỏ ruột, ngâm nước muối, vớt ra vắt nhẹ cho ráo. Nhồi nhân thịt chay đã trộn gia vị, rán vàng phía nhồi nhân, xếp vào xoong. Tiếp đó xào hành, bột mì và sốt cà chua để om.

Giúp bỏ thuốc lá: Các nhà khoa học thuộc Trường đại học Michigan (Mỹ) đã phát hiện trong cà tím cũng có nicotin và thấy trong thí nghiệm ăn 10g cà tím có hiệu quả tương tự như hút thuốc suốt 3 giờ. Vậy có lời khuyên khi thèm thuốc lá hãy ăn các món cà tím ngon lành mát bổ lại tránh được độc hại.

Phòng chữa xuất huyết đường tiêu hoá, hô hấp, tiết niệu: Ăn cà tím có nhiều vitamin P, C giúp làm vững chắc thành mạch chống chảy máu nói chung. Nếu được phối hợp với chanh, ngó sen, rau cần thì hiệu quả tăng cao, mạnh và nhanh hơn.

Chữa đái ra máu: Sắc quả cà tím cả cuống để uống.

Phòng chống ban tía ở người già: Ở tuổi 60 - 70 người già thường bị trên mặt, tay có tình trạng ứ huyết nổi ban tía hay từng chấm, có khi phải nhìn kỹ mới thấy. Để khắc phục bệnh lý này nên ăn cà tím. Cà tím lại mềm nên người già dễ ăn, dễ tiêu.

Viêm phế quản cấp: Cà tím 500g, gừng tươi 4 lát, tỏi 3 củ. Cà cắt dọc dài. Gừng thái lát, tỏi nghiền trộn nước tương, dầu, muối, đường. Chưng cách thuỷ. Có tác dụng thanh nhiệt hoá đàm nhiệt.

Viêm gan vàng da: Dùng mấy quả cà tím thái nhỏ trộn với gạo nấu thành món cơm - cà, ăn liên tục nhiều ngày.

Bảo vệ răng chắc, sạch, chống hôi miệng. Chế kem cà tím: Muối trộn cà tím với tỷ lệ 5 cà - 1 muối ngâm trong ít nhất 3 ngày với nước nóng xấp mặt, ép vỉ tre, để chỗ tối. Lấy cà ra để ráo nước phơi trong mát cho khô, bỏ vào chảo rang cháy, tán thành bột. Cất để dùng dần. Mỗi lần dùng lấy bàn chải nhúng ướt, dùng thìa sạch múc bột cà đổ lên bàn chải để đánh răng (kinh nghiệm của dân gian Nhật).

Người Mỹ dùng hỗn hợp cà muối chữa có hiệu quả các bệnh sâu răng, lợi viêm có mủ, bằng cách lấy tay sạch hoặc que bông tẩm bột chấm xát vào chỗ tổn thương. Để chữa bệnh này còn có thể chỉ dùng cuống của quả cà đốt tồn tính để chấm vào răng.

Bí đái: Dùng hạt sắc uống để lợi tiểu.

Táo bón: Dùng quả cà tím, hàng ngày lấy khoảng 100 - 200g nấu các món ăn đơn giản để ăn cùng cơm.

Kiêng kỵ: Theo sách cổ cà tím tính rất lạnh, không nên phối hợp với thức ăn lạnh khác mà còn nên thêm vài ba lát gừng để giảm tính lạnh. Người tạng hàn, hay đi ngoài lỏng khi cần dùng nên thận trọng hơn. Không nên dùng khi quả cà dập nát! Ăn càng tươi càng tốt.

BS. Phó Thuần Hương - suckhoedoisong

Tỏi ngâm rượu chữa bệnh cao huyết áp

Tỏi sống 0,25 kg, bóc vỏ ngoài ngâm với 0,65 lít rượu gạo 40 độ trong vòng 10 ngày. Ngày uống 2 lần (sáng trước bữa ăn và tối trước khi đi ngủ), mỗi lần khoảng 3 cc. Uống trong vòng 3-3,5 tháng thì hết chai 0,65 lít.

Theo kinh nghiệm của một bệnh nhân cao huyết áp - ông Hoàng Kiến Ba (68 tuổi, quê Trực Thắng, Trực Ninh, Nam Định) - rượu này chữa cao huyết áp khá hiệu quả. Công thức pha chế nói trên được ông ghi lại từ chương trình "Người cao tuổi" của Đài Tiếng nói Việt Nam.

Ông Ba bị bệnh cao huyết áp từ nhiều năm nay, chỉ số đo thường là 170-180/100 mmHg, đã có lần bị choáng gục tại giường do với cố để mắc dây màn. Sau 1 năm dùng rượu theo cách nói trên, huyết áp của ông đã trở về bình thường 120-130/80 mmHg.

Kỹ sư Phạm Công (Nông Nghiệp Việt Nam)

Hoa quả chữa cao huyết áp

Nếu bị cao huyết áp, bạn có thể lấy 1 quả chanh và 10 củ mã thầy ăn sống (chanh ăn cả vỏ). Nhiều loại quả khác cũng giúp làm giảm huyết áp như chuối, dâu, sơn trà, táo...

Bài 1: Chuối tiêu 3 quả, đường phèn 100 g, gạo nếp 100 g, nước sạch 1 lít. Gạo nếp đun cùng nước sạch, chuối tiêu thái miếng nhỏ cũng cho vào nồi cùng đường phèn hầm thành cháo, ăn trong ngày. Chủ trị bệnh cao huyết áp, xơ vữa động mạch, bệnh trĩ ra máu, đái tháo đường.

Bài 2: Mã thầy 100 g, gạo nếp 100 g, đường trắng 100 g, nước hoa quế 10 g, nước sạch 1lít. Mã thầy gọt bỏ vỏ rửa sạch, thái mỏng hình quân cờ, cho vào nấu cháo cùng gạo nếp, sau thêm đường trắng và nước hoa quế vào là được. Ăn hết trong ngày. Chủ trị cao huyết áp, ho có đờm, vàng da, vàng mắt, táo bón, chướng bụng.

Bài 3: Mỗi ngày ăn 5 quả chuối tiêu trở lên cho đến khi có tác dụng hạ áp chắc chắn.

Bài 4: Lấy vỏ lụa hạt lạc tươi 12 g, sắc lấy nước 2 lần, trộn đều, chia làm 3 phần (mỗi phần bằng một cốc trà), mỗi lần uống một cốc, ngày uống 3 lần, nên uống thường xuyên, giúp chữa cao huyết áp và bệnh đau mạch vành tim.

Bài 5: Dùng nhân sen (tức mầm phôi hạt sen) 2-3 g, hãm với nước sôi lấy nước uống thay trà trong ngày, giúp giảm huyết áp.

Bài 6: Sơn trà tươi 30 g, táo 30 g, rau cần tươi 3 cây, đường phèn 10 g. Thái nhỏ sơn trà, táo, rau cần, đun cách thủy 30 phút thì bỏ đường phèn vào là được. Ăn cả nước lẫn cái, ngày ăn một thang.
Dùng chữa cao huyết áp và mỡ cao trong máu.

Bài 7: Đài hoa hướng dương 1 cái, táo đỏ 20 quả. Đổ 3 bát nước sắc lấy 1 bát, uống nước ăn cái. Ngày một thang, chia 2 lần, giúp giảm huyết áp.

Bài 8: Củ ấu 30 g, rau cần cạn 30 g. Sắc uống ngày 3 lần vào trước bữa ăn, giúp chữa cao huyết áp.

Bài 9: Nhụy sen, quả dâu, hạt cây rau răm, cỏ sen cạn mỗi thứ 12 g, sơn dược 15 g, ngưu đắng 15 g, mai rùa 30 g (sắc trước). Sắc uống ngày một thang, chia 2 lần. Dùng cho người bị cao huyết áp do âm hư dương thịnh gây nên.

Bài 10: Quả sơn trà tươi 1 kg, đào nhân 100 g, mật ong 25 g. Lấy dao tách quả sơn trà cho vào nồi đất hoặc vại sành cùng đào nhân, đổ ngập nước lạnh ngâm khoảng 1 giờ. Sau đó đun vừa lửa đến sôi, hạ lửa nhỏ riu riu để lâu chừng 30 phút đến 1 giờ, khi nước cô đặc còn khoảng 1 bát, rót ra bỏ cặn. Đổ nước thuốc vào 2 bình sứ, cho thêm mật ong, đậy nắp đun cách thủy 1 tiếng rồi tắt lửa, để nguội, đổ vào lọ nắp chặt. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 thìa canh, uống ngay sau khi ăn cơm với nước uống.

Công dụng: Hoạt huyết, bổ dạ dày, giúp tiêu hóa tốt, làm giảm huyết áp, mỡ máu, khai thông huyết mạch, bổ dưỡng cơ tim; dùng lâu rất có lợi cho người bệnh huyết quản.

(Theo SK&ĐS)