Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh rối loạn lipid máu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh rối loạn lipid máu. Hiển thị tất cả bài đăng

Béo bụng ở phụ nữ có tuổi



Không biết do di truyền, do thay đổi về hormon hay do tuổi tác nhưng có một sự thực là nhiều phụ nữ thấy vòng bụng cứ tăng lên khi bước vào tuổi khoảng 45, nhất là khi đã mãn kinh. Béo bụng thực sự không tốt so với béo ở các vị trí khác trên cơ thể vì tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch, bệnh tiểu đường và một số thể ung thư.

Điều mừng là một vài sự thay đổi về lối sống và một số bài tập về bụng có thể giúp giảm béo bụng.

Vì sao mỡ tập trung nhiều ở bụng khi có tuổi? Tuổi tác đi cùng với sự giảm chuyển hoá nên lượng mỡ trong cơ thể cứ leo thang dần, nhất là với phụ nữ. Sau mãn kinh, sự phân bố mỡ trên cơ thể nữ thay đổi vị trí, tập trung nhiều ở cánh tay, cẳng chân, hông và nhất là bụng. Đừng nghĩ rằng béo bụng chỉ giới hạn ở thành bụng trước và bạn có thể túm được cả một khối bằng 2 bàn tay, điều đó đúng nhưng khối mỡ bạn không nhìn thấy mới đáng lo ngại. Mỡ bám quanh phủ tạng nằm sâu trong ổ bụng mới là loại mỡ có liên quan đến bệnh tim mạch, tiểu đường và nhiều vấn đề sức khoẻ khác. Lớp mỡ dưới da dễ nhận thấy nhưng ít có tiềm năng là nguy cơ cho sức khoẻ.

Những vấn đề sức khoẻ do béo bụng: Tập trung nhiều mỡ vùng bụng không chỉ làm giảm vẻ đẹp ngoại hình, gây khó khăn trong sinh hoạt mà còn tác động xấu đến sức khoẻ, tăng nguy cơ bị bệnh tim, ung thư vú, tiểu đường, hội chứng chuyển hoá, bệnh lý túi mật, cao huyết áp, ung thư đại-trực tràng. Các nghiên cứu cho thấy rằng các tế bào mỡ ở bụng không chỉ là những tế bào ngủ yên hay khối năng lượng dự trữ để sử dụng khi cần mà là những tế bào hoạt động, có thể tạo ra nhiều hormon và các chất khác có ảnh hưởng đến sức khoẻ, ví dụ một số tế bào mỡ tiết ra các hormon kháng insulin - tiền chất để dẫn đến bệnh tiểu đường típ 2; nhiều tế bào mỡ khác có thể tiết ra estrogen sau khi đã mãn kinh làm tăng nguy cơ bị ung thư vú; khoa học còn chưa biết rõ hormon quá nhiều ảnh hưởng đến sức khoẻ chung như thế nào nhưng đã biết chắc chắn rằng quá nhiều mỡ ở phủ tạng có thể làm rối loạn cân bằng hormon của cơ thể.

Làm thế nào biết lượng mỡ ở bụng đã đến mức bất lợi cho sức khoẻ? Có thể đo chỉ số khối lượng cơ thể (BMI, body mass index) hay tỉ lệ eo - hông nhưng chỉ cần đo vòng eo một cách đúng phương pháp là có thể biết lượng mỡ vùng bụng có trong giới hạn lành mạnh. BMI không phải thước đo chính xác tỉ lệ mỡ cơ thể hay sự phân bố mỡ, nhất là ở phụ nữ mãn kinh (cách đo BMI: trọng lượng cơ thể tính bằng kilôgram chia cho bình phuơng chiều cao tính bằng mét. Nếu kết quả từ 20-25 là tốt, nếu từ 26-30 là ở khu vực quá cân, nếu từ 31 trở lên là cần phải thận trọng, có nguy cơ bị bệnh béo phì).

Đo vòng eo đúng cách (thước dây đi qua rốn, không thót bụng, không kéo dây quá chặt), nếu phụ nữ có cân nặng bình thường mà vòng eo từ 89 cm trở lên chứng tỏ có sự tập trung mỡ quá nhiều ở bụng. Một số nghiên cứu khác còn cho rằng dù cân nặng như thế nào nếu vòng eo từ 84cm trở lên là tăng nguy cơ cho sức khoẻ.

Có thể làm giảm mỡ bụng? Mỡ bám quanh các nội tạng ở sâu trong ổ bụng nên khó giảm trong thời gian ngắn nhưng thật ra mỡ ở phủ tạng đáp ứng tốt với việc luyện tập thường xuyên, đều đặn và chế độ ăn lành mạnh. Những động tác tập cho bụng có thể làm cho thành bụng thêm săn chắc và làm cho bụng nhỏ lại. Chế độ ăn để không tăng lượng mỡ bụng, thay mỡ bão hoà bằng mỡ không bão hoà đa, tăng lượng carbohydrate phức hợp như rau quả, giảm lượng carbohydrate đơn như bánh mì trắng, gao trắng (xay kỹ); nếu cần giảm cân thì cũng cần giảm lượng calo đưa vào cơ thể.

BS Đào Xuân Dũng - Lao dong

Tăng cholesterol: thủ phạm gây ra bệnh tim mạch


Nồng độ cholesterol trong máu cao (còn gọi là mỡ máu cao) là nguyên nhân chủ yếu gây ra chứng xơ vữa động mạch. Từ các mảng xơ vữa sẽ làm hẹp các động mạch cung cấp máu để nuôi các cơ quan khác trong cơ thể, trong đó có động mạch vành ở tim. Khi động mạch vành bị hẹp thì lượng máu đến nuôi cơ tim bị thiếu, cho nên sẽ gây ra cơn đau thắt ngực, nếu thiếu máu nặng sẽ gây nên cơn nhồi máu cơ tim.

Các loại cholesterol trong máu

Cholesterol trong cơ thể bao gồm: LDL là loại cholesterol có hại, chúng tham gia vào quá trình xơ vữa mạch máu và cholesterol HDL là loại có ích, chúng có tác dụng bảo vệ thành mạch và chống lại bệnh xơ vữa động mạch. Tuy nhiên, bệnh lý về động mạch vành và các bệnh lý tim mạch khác càng tăng cao, nếu người bệnh có các yếu tố nguy cơ khác đi kèm như: hút thuốc lá, tăng huyết áp, đái tháo đường, ít vận động và thừa cân, béo phì.

Chế độ dinh dưỡng hợp lý góp phần quan trọng làm giảm cholesterol có hại.
Mỡ trong máu tồn tại dưới hai dạng chính là cholesterol và triglycerid, vì vậy khi kiểm soát mỡ máu cần phải đánh giá đầy đủ những yếu tố như: cholesterol toàn phần, LDL-C, HDL-C, triglycerid. Nếu chúng ta kiểm soát được chúng theo những chỉ tiêu như: cholesteol toàn phần dưới 5,2mmol/L, LDL-C dưới 3,4mmol/L, HDL-C trên 0,9mmol/L, triglycerid trong khoảng 0,46 -1,88mmol/L, thì sẽ phòng ngừa rất hữu hiệu bệnh xơ vữa động mạch. Giảm cholesterol trong máu còn được gọi là giảm mỡ trong máu, vì khi đó không chỉ có cholesterol trong máu giảm mà cả triglycerid cũng phải giảm.

Nếu kết quả xét nghiệm cholesterol toàn phần dưới 5,2mmol/ thì người đó hoàn toàn bình thường và nguy cơ mắc bệnh tim mạch ít hơn, khi đó có thể ăn uống và sinh hoạt bình thường. Việc tiến hành kiểm tra cholesterol trong máu nên thực hiện ít nhất mỗi 6 tháng một lần, nhất là đối với những người cao tuổi, thừa cân, tăng huyết áp hay bệnh mạn tính nào khác thì có thể kiểm tra nhiều lần hơn.

Nếu cholesterol toàn phần ở mức lớn hơn 5,2mmol/L, tức là bắt đầu có dấu hiệu cao nguy cơ mắc bệnh xơ vữa động mạch. Tuy nhiên, chúng ta nên làm thêm xét nghiệm LDL-C và HDLC, đường máu và kiểm tra huyết áp để đánh giá bệnh, từ đó sẽ có những biện pháp xử trí kịp thời.

Biện pháp phòng ngừa

Để giảm thiểu nguy cơ bệnh tim mạch do tăng cholesterol trong máu, chúng ta cần thực hiện tốt việc tầm soát để phát hiện và điều trị kịp thời. Để điều trị tăng cholesterol trong máu không phải là việc làm đơn giản, do đó công tác phòng ngừa là hết sức cần thiết.

Để phòng ngừa, chúng ta không nên ăn những thức ăn chứa nhiều cholesterol mà nên ăn những thức ăn có chứa acid béo không bão hòa rất cần thiết cho cơ thể như: dầu mè, dầu đậu phộng, dầu ô-liu, mỡ cá hồi, dầu đậu nành và ăn nhiều rau xanh, hoa quả. Việc điều trị tăng cholesterol trong máu có rất nhiều loại thuốc, tuy nhiên việc quyết định chế độ điều trị hoàn toàn phải do bác sĩ quyết định, chứ người bệnh không thể tự tiện điều trị.

Bên cạnh việc dùng thuốc thì việc thay đổi lối sống, thay đổi chế độ ăn cũng là biện pháp rất quan trọng góp phần làm giảm cholesterol có hại và phòng ngừa bệnh tim mạch, đó là hạn chế ăn những thức ăn làm tăng cholesterol, nhất là khả năng làm gia tăng cholesterol có hại cho cơ thể như: dầu cọ, dầu dừa, mỡ bò, pho-mát, bơ… nhất là những người có nguy cơ cao như: thừa cân, béo phì, đái tháo đường, cao huyết áp.

Ngoài ra, cần phải thường xuyên tập luyện thể dục thể thao như: đi bộ, chạy chậm, đi xe đạp… ở mức độ vừa phải, không nên gắng sức. Thời gian tập mỗi lần phải ít nhất 30 phút và tối đa không nên quá 45 phút, ít nhất tập 3 lần trong 1 tuần, đó cũng là một biện pháp quan trọng làm tiêu hao năng lượng dư thừa trong cơ thể, nhất là những người thường xuyên ngồi làm việc tại chỗ. Cần hạn chế sử dụng rượu, bia, cà phê, không hút thuốc lá vì những chất này cũng góp phần làm gia tăng cholesterol có hại, tức là làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đái tháo đường, cao huyết áp…

BS. HỒ VĂN CƯNG - skđs

Dinh dưỡng cho người bị mỡ máu cao


Chế độ ăn không hợp lý bao gồm nhiều chất béo, đặc biệt là các axit béo no và cholesterol sẽ làm tăng cholesterol máu là tiền đề của các bệnh tim mạch, cao huyết áp.

Chế độ ăn đóng vai trò quan trọng trong điều trị hạ cholesterol máu để ngăn ngừa vữa xơ động mạch và bệnh mạch vành với các nguyên tắc sau:

l. Giảm tổng lượng năng lượng trong ngày để giảm cân nhằm có chỉ số BMI thích hợp nếu có thừa cân, béo phì:

Giảm năng lượng của khẩu phần ăn từng bước một, mỗi tuần giảm khoảng 30 kcal so với khẩu phần ăn của bệnh nhân cho đến khi đạt năng lượng tương ứng với mức BMI.

Cần theo dõi cân nặng và BMI để điều chỉnh tổng lượng calo hàng tháng hoặc hàng quí đề phòng giảm cân quá nhanh hoặc quá nhiều. Khi giảm cân quá nhanh và quá nhiều sẽ làm cho cơ thể mệt mỏi, suy nhược có thể còn nguy hiểm tới sức khỏe.
Rau quả chứa nhiều chất xơ.

2. Giảm lượng chất béo (lipid) ăn vào.

- Tuỳ theo BMI, chất béo chỉ nên chiếm 15 - 20% tổng năng lượng với tỷ lệ sau: Chất béo no chiếm 1/3 tổng số chất béo, 1/3 là acid béo chưa no nhiều nối đôi và 1/3 còn lại là acid béo chưa no một nối đôi.

- Nên dùng dầu lạc, dầu olive, dầu đỗ tương thay cho mỡ và nên ăn các hạt có dầu như: vừng, lạc, hạt dẻ, hạt bí ngô để cung cấp các acid béo không no có nhiều nối đôi omega 3, omega 6. Nếu có điều kiện nên bổ sung dầu cá thiên nhiên vì chứa nhiều acid béo chưa no.

- Loại bỏ các thức ăn nhiều acid béo no như mỡ, bơ, nước luộc thịt.

BMI từ 25-29,9: Năng lượng đưa vào là 1.500 kcal/ngày.

BMI từ 30- 34,9: Năng lượng đưa vào là 1.200 kcal/ngày.

BMI từ 35-39,9: Năng lượng đưa vào là 1.000 kcal/1ngày.

BML lớn hơn hoặc bằng 40 thì năng lượng đưa vào là 800 kcal/ngày.
- Giảm lượng cholesterol ăn vào xuống dưới 250 mg/ngày bằng cách không ăn các thực phẩm có nhiều cholesterol như: não (2.500mg%), bầu dục bò (400mg%), bầu dục lợn (375mg), gan lợn (300mg%), gan gà (440mg%). Hạn chế các thức ăn này góp phần làm giảm lượng cholesterol trong khẩu phần ăn. Lòng đỏ trứng có nhiều cholesterol, nhưng đồng thời có nhiều lecithin (một chất điều hoà chuyển hoá cholesterol trong cơ thể). Do đó, ở những người có cholesterol máu cao, không nhất thiết phải kiêng hẳn trứng mà chỉ nên ăn trứng l - 2 lần/tuần, mỗi lần ăn 1 quả.

3. Tăng lượng đạm (protein): Sử dụng thịt ít béo như thịt bò nạc, thịt gà nạc bỏ da, thịt lợn thăn, nên dùng cá, đậu đỗ. Nên ăn các sản phẩm được chế biến từ đậu tương: sữa đậu tương, đậu phụ, tào phớ, bột đậu tương, sữa chua đậu tương... thực phẩm làm từ đậu tương chứa nhiều estrogen thực vật hoặc isoflavon làm giảm đáng kể nồng độ cholesterol toàn phần, cholesterol lipoprotein tỷ trọng thấp (LĐL) và triglycerid (là những thành phần làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch). Cơ quan FDA của Mỹ đã đưa ra khuyến cáo: Để giảm các nguy cơ của bệnh tim mạch, nên tiêu thụ ít thất 25g đậu tương/ngày dưới bất cứ hình thức nào. Tuy nhiên, lượng đạm cũng không nên tăng quá nhiều so với bình thường sẽ dẫn đến các rối lọan chuyển hóa khác, chỉ nên ăn tăng thêm khoảng 1/6 (15%) so với bình thường.

4. Vai trò của các axit béo chưa no có nhiều nối đôi: Những thí nghiệm lâm sàng đánh giá hiệu quả của chế độ ăn ít axit béo no, nhiều axit béo chưa no có nhiều nối đôi với tỷ lệ mắc xơ vữa động mạch đã cho thấy rõ hiệu quả làm giảm cholesterol máu của các axit béo chưa no có nhiều nối đôi. Trong những năm gần đây, đã có nhiều nghiên cứu và chứng minh về vai trò tích cực của các loại axit béo Omega-3 và Omega-6 đối với giảm cholesterol máu và phòng chống các bệnh tim mạch. Các loại cá, dầu cá chứa nhiều axit béo Omega-3 như EPA(Eicosapentaenoic), DHA(Docosahessaenoic), các dầu thực vật (dầu đậu nành, dầu ngô, dầu vừng...) giàu axit béo Omega-6. Các nghiên cứu cho thấy các axit béo trên không những làm giảm cholesterol mà còn có tác dụng tốt để phòng chứng loạn nhịp tim, huyết khối và góp phần điều chỉnh huyết áp. Do vậy, để giảm cholesterol máu, nên ăn cá 2 - 3 lần/tuần, sử dụng dầu thực vật dưới dạng trộn xa lát hay xào thức ăn (cho dầu vào đảo đều trước khi bắc nồi thức ăn ra khỏi bếp).

5. Vai trò của chất xơ: Chất xơ có vai trò rõ rệt làm giảm nguy cơ tăng cholesterol máu và mắc bệnh về tim mạch. Người ta ví chất xơ như là cái chổi quét ra khỏi cơ thể cholesterol và các chất độc hại. Bữa ăn hàng ngày nhất thiết phải có rau, quả tươi. Nên ăn đa dạng phối hợp nhiều loại rau, củ, quả. Khi bị tăng huyết áp hay cholesterol cao, nên ăn nhiều rau, quả tươi hơn để bổ sung các vitamin, đặc biệt là kali giúp làm hạ huyết áp và chất xơ giúp làm giảm cholesterol máu.

TS. Hoàng Kim Thanh (Viện Dinh dưỡng Quốc gia)

Dùng thuốc chữa tăng lipid máu - Cần lưu ý gì?


Có nhiều người bệnh điều trị ngoại trú bệnh tăng lipid máu (cholesterol cao). Sự hiểu biết về thuốc sẽ giúp người bệnh dùng đúng, tránh sai sót và đạt hiệu quả chữa bệnh cao...

Thuốc thường dùng

Nhóm fibrat (lypanthyl, clofibrat): thuốc làm giảm cholesterol toàn phần và triglycerid. Tuy nhiên thuốc có thể gây tổn thương cơ (hay xảy ra hơn đối với người vốn bị bệnh đau cơ lan toả), có ảnh hưởng tới gan, thận nên không dùng cho người suy gan, suy thận. Chưa có thông tin đầy đủ về ảnh hưởng của thuốc với thai nhi và tiết sữa nên không dùng cho người có thai, cho con bú. Khi mới dùng thuốc có thể gây buồn nôn, đầy bụng, tiêu chảy, nóng rát dạ dày nhưng sau đó sẽ quen. Thuốc có thể làm tăng tỷ lệ sỏi mật.

Nhóm statin (fluvastatin, atorvastatin, pravastatin): thuốc kìm hãm việc sản xuất cholesterol bằng cách ức chế enzym chủ chốt HMGCoA reductase, làm giảm cholesterol toàn phần, giảm LDL-C (cholesterol xấu), tăng HDL-C (cholesterol tốt), giảm triglycerid, tuỳ theo biệt dược, liều dùng. Do tác dụng này mà statin được chỉ định cho người tăng cholesterol (hỗ trợ với chế độ ăn uống), cho người cần dự phòng tiên phát các biến cố mạch vành (nhằm giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim, giảm nguy cơ tử vong do tim mạch), cho người đã vữa xơ động mạch (nhằm làm chậm sự tiến triển vữa xơ, giảm nguy cơ các biến cố mạch vành). Đa số statin hấp thụ nhanh, hoàn toàn (khoảng 98%). Tuy nhiên thuốc có thể gây tổn thương cơ (hay xảy ra hơn đối với người vốn bị bệnh đau cơ lan toả), tiêu huỷ cơ vân, có ảnh hưởng không lợi cho thận (kể cả gây suy thận thứ phát do tiêu huỷ cơ vân) và gây độc cho gan (tăng transaminase. Tuỳ theo biệt dược có thể làm gan to, gây xơ gan, gây ứ mật). Không dùng thuốc cho những người suy gan, thận. Có bằng chứng thuốc gây độc cho thai nhi, chưa có thông tin đầy đủ đối với việc tiết sữa vì thế không được dùng cho người nuôi con bú. Trong các độc tính nêu trên thì độc tính đối với cơ là quan trọng hơn cả, độc tính này tăng lên khi phối hợp statin với gemfibrozil và các thuốc nhóm fibrat. Do độc tính này, một biệt dược trong nhóm là cerivastatin đã được hãng Bayer cho rút khỏi thị trường.

Nhóm resin (cholestyramin, cholestipol): bản chất là các nhựa trao đổi ion, thuốc làm giảm lượng cholesterol toàn phần, giảm LDL-C. Tuy nhiên do bản chất của thuốc chỉ là nhựa trao đổi ion nên chỉ sau khi ngừng dùng 3-6 tháng, lượng cholesterol toàn phần và LDL-C tăng trở lại. Thuốc có thể gây táo bón, nôn, tiêu chảy nhưng tự mất đi khi quen dùng. Không dùng thuốc cho người suy thận hoặc tắc mật hoàn toàn. Thuốc ngăn cản sự hấp thu một số chất (như barbituric, aspirin, hormon tuyến giáp, vancomycin, tetracyclin), vì vậy chỉ được dùng các thuốc này trước khi dùng resin 1-2 giờ hay sau khi dùng resin 4-6 giờ. Thuốc còn làm giảm sự hấp thu các vitamin tan trong dầu (vitamin A,D,E,K) nên cần bổ sung các vitamin này. Thận trọng với người có thai, cho con bú, không dùng thuốc cho trẻ em. Không được dùng thuốc dạng khan mà phải dùng với đủ một lượng chất lỏng cần thiết.

Nhóm niacin (niaspan): thuốc làm giãn nở các động mạch nhỏ và mao mạch, làm giảm cholesterol máu, thường dùng phối hợp với nhóm statin.

Một vài lưu ý khi dùng thuốc

Tuỳ theo từng trường hợp, thầy thuốc quyết định nhóm thuốc, thời gian điều trị. Ví dụ: nếu chỉ bị rối loạn chuyển hoá cholesterol sơ phát, nhẹ có thể dùng nhóm resin, fibrat phụ trợ với việc cải thiện chế độ ăn uống, luyện tập trong một thời gian ngắn. Nhưng nếu bị rối loạn chuyển hoá cholesterol nặng có kèm thêm các nguy cơ bị bệnh tim mạch có thể chọn thuốc mạnh hơn là statin và dùng trong một thời gian dài. Không nên tự ý thay đổi nhóm thuốc và thời gian điều trị.

Một đợt điều trị thường bắt đầu với liều khởi đầu, khi đã đạt được hiệu quả thì dùng liều duy trì, sau đó nếu cholesterol đã ổn định thì có thể ngừng thuốc nhưng phải duy trì chế độ ăn uống và luyện tập, định kỳ theo dõi các chỉ số cholesterol. Khi cần thiết thầy thuốc có thể chỉ định điều trị đợt khác theo tuần tự như đã làm với đợt đầu. Người bệnh không tự ý tái điều trị. Riêng trường hợp với statin, khi chỉ định điều trị lâu dài để dự phòng các biến cố tim mạch thì người bệnh không nên tự ý ngừng thuốc.

Trong quá trình điều trị phải định kỳ (4 tuần/lần) xét nghiệm chỉ số các dạng cholesterol để đánh giá mức đáp ứng, điều chỉnh liều lượng), đồng thời xét nghiệm các chỉ số khác như chỉ số transaminase để đánh giá mức độ gây độc để có biện pháp xử lý kịp thời.

Các thuốc cùng nhóm có cơ chế tác dụng như nhau nhưng dược động học lại khác nhau tuỳ theo biệt dược, liều dùng. Người bệnh, người bán thuốc không được tự ý thay thế thuốc cùng nhóm khi chưa có ý kiến của thầy thuốc.

Có thể phối hợp thuốc để tăng hiệu lực hạ cholesterol như phối hợp statin và resin, phối hợp statin với niacin nhưng cần lưu ý: nếu phối hợp với resin thì phải uống thuốc vào lúc ngủ, cách 2 giờ sau khi uống resin. Không phối hợp statin với fibrat vì tăng tính độc.

DS. Vũ Trung Hải - skđs

Thuốc làm giảm cholesterol máu ở người đái tháo đường

Khoảng 40% bệnh nhân mắc đái tháo đường (ĐTĐ) có kèm theo tăng cholesterol máu. Sự gia tăng này có căn nguyên gốc là do các khiếm khuyết di truyền gen, do đó tăng cholesterol được coi là căn bệnh mạn tính cần được điều trị liên tục. 2/3 người mắc ĐTĐ tử vong vì các bệnh do tim mạch như nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não... do vậy, làm giảm được cholesterol máu được coi là mục tiêu quan trọng trong chiến lược điều trị bệnh ĐTĐ.

Thuốc giảm mỡ máu statin là gì?

Thuốc statin ức chế hoạt động của men gan - men đó chịu trách nhiệm tạo ra cholesterol máu. Nếu quá nhiều cholesterol trong máu có thể lắng đọng tạo nên các mảng bám ở thành mạch máu. Các mảng bám này làm hẹp và tắc mạch máu dần dần. Khi mảng bám này bong ra di chuyển đến chỗ hẹp hơn hoặc có cục máu đông trên mảng bám khiến cho mạch máu bị hẹp tắc đột ngột gây nên nhồi máu cơ tim hoặc đột qụy hoặc tắc mạch máu chi...

Thuốc statin không những có tác dụng làm giảm cholesterol máu, thuốc còn có một tác dụng mang lại lợi ích nhiều hơn thế với những người bị xơ xữa mạch máu: đó là thuốc góp phần đáng kể làm ổn định mảng xơ vữa, thậm chí làm nhỏ lại mảng xơ vữa bám trên thành mạch máu. Chính vì vậy, thuốc làm giảm được các tai biến tim mạch và đã được chứng minh bởi nhiều nghiên cứu, trong đó đáng lưu ý đến 2 nghiên cứu gần đây:

Nghiên cứu CARDS (Collaborative Atorvastatin Diabetes Study, tiến hành từ năm 2002)

Gần 2.838 bệnh nhân ĐTĐ type 2 có độ tuổi từ 40-75: trong đó 1.428 bệnh được cho uống atorvastatin 10mg/ngày và 1.410 bệnh được cho uống thuốc giả trong thời gian trung bình 3,9 năm.

Các bệnh nhân này không mắc bệnh tim nhưng lại có những yếu tố nguy cơ tim mạch như hút thuốc; tăng huyết áp; bệnh võng mạc do ĐTĐ hoặc có protein trong nước tiểu chứng tỏ rằng bệnh nhân có bệnh lý thận do ĐTĐ.

Với những bệnh nhân được cho uống statin: nguy cơ bị nhồi máu cơ tim giảm 37%, nguy cơ bị đột qụy giảm 48% so với nhóm bệnh nhân được cho uống thuốc giả. Và điều thú vị hơn nữa là các lợi ích trên không phụ thuộc vào tuổi, giới hoặc có tăng cholesterol hay không (nghĩa là bệnh nhân không bị tăng cholesterol máu cũng được hưởng lợi từ việc uống đều đặn atorvastatin).

Nghiên cứu HPS (Heart Protection Stud, năm 2003)

Bao gồm 5.963 bệnh nhân ở độ tuổi 40-80 mắc ĐTĐ type 2 có kèm theo bệnh tim mạch hoặc không kèm theo bệnh tim mạch. Những bệnh nhân này được phân chia ngẫu nhiên làm 2 nhóm: nhóm 1 uống simvastatin 40mg/ngày và nhóm 2 cho uống giả dược. Cả 2 nhóm bệnh nhân này được dùng thuốc và theo dõi liên tục trong vòng 5 năm.

Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng: những bệnh nhân có bệnh tim mạch và được dùng simvastatin giảm được nhồi máu cơ tim và đột qụy 33%; những bệnh nhân không có bệnh tim mạch từ trước giảm được nhồi máu cơ tim và đột qụy 27% so với nhóm bệnh nhân dùng giả dược.

Tác dụng chính của thuốc statin

Thuốc statin làm giảm tổng hợp cholesterol và LDL-cholesterol (loại cholesterol xấu), mặt khác statin làm tăng HDL-cholesterol (loại cholesterol tốt). Do đó, statin giúp làm ổn định các mảng bám xơ vữa mạch máu và vì vậy làm giảm nhồi máu cơ tim và đột qụy.

Tác dụng phụ của statin

Tăng mỡ máu là căn bệnh mạn tính nên cần được dùng thuốc nhóm statin đều đặn (giống như thuốc điều trị tăng huyết áp và ĐTĐ) nên nhiều người e ngại về tính an toàn của thuốc.

Hầu hết mọi người uống statin đều dung nạp thuốc tốt. Tuy nhiên, một số người có biểu hiện tác dụng phụ thoáng qua một thời gian.

Những tác dụng phụ thường gặp nhất là đau đầu; khó ngủ; nổi mẩn đỏ; đau cơ; yếu cơ; chóng mặt; buồn nôn và nôn; đau bụng; đầy hơi; táo bón hoặc đi ngoài phân lỏng.

Tác dụng phụ nguy hiểm của statin

Viêm cơ: nguy cơ bị viêm cơ do statin tăng lên nếu dùng chung với một số loại thuốc. Nếu bệnh nhân tăng cholesterol máu đồng thời với tăng triglyceride máu, các bác sĩ có thể cho uống kết hợp statin với fibrate -thuốc làm giảm đồng thời cả triglyceride và cholesterol máu- khi đó nguy cơ bị viêm cơ tăng lên đáng kể.

Đau cơ: là biến chứng có thể gặp khi dùng statin. Đau cơ khiến bệnh nhân không thoải mái, làm xét nghiệm thấy men CPK tăng trung bình. Đây là biến chứng lành tính, đau cơ sẽ hết nhanh chóng sau khi ngừng thuốc statin.

Tiêu cơ: là biến chứng nguy hiểm nhất của statin. Cơ toàn thân đau nhức và yếu. Men CPK tăng cao, tiêu cơ còn có thể làm cho thận phải làm việc quá sức, các sản phẩm do tiêu cơ có thể gây tắc ống thận và gây suy thận cấp. Rất may mắn là biến chứng tiêu cơ rất hiếm gặp, ước chừng ít hơn 1/10.000 trường hợp sử dụng statin.

Statin có ảnh hưởng đến gan?

Thuốc thuộc nhóm statin không được dùng cho bệnh nhân đang có bệnh gan tiến triển và dùng thuốc một cách thận trọng với những người có tiền sử bệnh gan hoặc uống nhiều rượu. Các khuyến cáo nên xét nghiệm chức năng gan đều đặn là do khi mới được đưa vào sử dụng và khi thí nghiệm trên chuột ghi nhận có tăng men gan (GPT hoặc ALT) và do vậy người ta nghĩ rằng thuốc có tác dụng “độc” với gan.

Nhưng khi nghiên cứu ngẫu nhiên với số lượng bệnh nhân lớn, so sánh giữa nhóm sử dụng thuốc statin và nhóm dùng giả dược, các bác sĩ không thấy sự khác biệt về số người tăng men gan (khoảng 1%) cũng như không ghi nhận trường hợp nào bị bệnh gan nặng do dùng thuốc.
Một điều tra đã ghi nhận số liệu của 24 triệu bệnh nhân dùng lovastatin (một thuốc làm giảm cholesterol thuộc nhóm statin) từ năm 1986 đến năm 2002 (Theo Tolman; Am J Cardiol 2002 - 89: 1374-1380):

Theo số liệu nghiên cứu này, tỷ lệ viêm gan ở mức 1/100.000 người là rất nhỏ so với các loại thuốc khác. Với biến chứng suy gan cấp, tỷ lệ 1/130.000 người sử dụng statin tương đương như tỷ lệ suy gan cấp vô căn trong cộng đồng nên không thể kết luận đây là biến chứng do dùng statin được.

Làm gì để hạn chế tác dụng phụ của statin?

Để hạn chế nguy cơ bị tiêu cơ: tránh kết hợp dùng chung statin với các nhóm thuốc khác như erythromycin; gemfibrozil; clofibrate; cyclosporine; các thuốc diệt nấm gốc azole (ketoconazole; fluconazole; itraconazole). Đặc biệt nước bưởi cũng làm tăng nguy cơ bị tiêu cơ khi bệnh nhân uống statin.

Nhìn chung, thuốc giảm mỡ máu nhóm statin rất an toàn. Tỷ lệ tác dụng phụ nặng rất nhỏ trong khi lợi ích lên bệnh tim mạch ở người ĐTĐ là rất lớn. Thuốc nên được dùng đều đặn hàng ngày và trong nhiều năm liên tục mới phát huy hiệu quả phòng ngừa hoặc giảm nhẹ tai biến mạch máu hoặc nhồi máu cơ tim.

ThS.BS. Nguyễn Huy Cường - skđs

Điều trị tăng mỡ máu

Việc điều trị tăng mỡ máu (TMM) là làm sao giảm được lượng LDL-C và tăng lượng HDL-C. Còn TG là một loại mỡ khác, được vận chuyển trong máu dưới dạng VLDL (Very Low Density Lipoprotein) và chylomicron.

Đây là nguồn năng lượng cung cấp cho các hoạt động của cơ thể. Nếu TG tăng cao góp phần làm nặng thêm bệnh xơ vữa mạch máu, thâm nhập vào gan gây gan nhiễm mỡ, kích hoạt các men ở tụy gây viêm tụy cấp… Do vậy, việc điều trị TMM cũng phải chú ý đến giảm TG.

TMM có khi chỉ tăng đơn thuần cholesterol hoặc tăng TG, có khi tăng cả hai thành phần mỡ trên. Tùy từng trường hợp, chúng ta sẽ có những cách điều trị khác nhau. Việc điều trị

TMM trước tiên là áp dụng các biện pháp không dùng thuốc như tiết chế ăn uống, tăng vận động thể lực, thay đổi một số thói quen sinh hoạt có ảnh hưởng xấu làm TMM. Những trường hợp nhẹ, chỉ cần các biện pháp nêu trên đã đủ để ổn định tình trạng TMM.

Đối với trường hợp TMM nặng hơn, không kiểm soát được bằng các biện pháp không dùng thuốc, chúng ta phải dùng thêm các thuốc giảm mỡ máu.


Các biện pháp điều trị không dùng thuốc bao g
ồm: Tiết chế ăn uống: hạn chế các chất bột - đường, giảm các loại mỡ bảo hoà có nguồn gốc từ động vật, tăng lượng rau quả tươi để tăng chất xơ, hạn chế rượu bia và các loại thức ăn, thức uống quá ngọt.

Giảm thời gian ngồi tại chỗ (<> 60 phút mỗi ngày). Tăng vận động có thể làm tăng lượng HDL-C. Vận động này cần duy trì đều đặn, ít nhất là 3–4 lần mỗi tuần.

Các thuốc làm giảm mỡ máu:

Áp dụng cụ thể:

* Khi LDL-C cao:

- Nếu LDL-C tăng nhẹ, có thể bắt đầu bằng các biện pháp điều trị không dùng thuốc. Nếu LDL-C tăng vừa hoặc cao, phải kết hợp thêm thuốc hạ mỡ máu.

- Tuỳ trường hợp bệnh nhân có bệnh mạch vành (MV) hoặc có các yếu tố nguy cơ (YTNC) hay không mà mức bắt đầu điều trị và mức cần đạt được có khác nhau (Bảng 1.1).


Bảng: Các đối tượng và các mức tăng LDL- C cần điều trị:

Chế độ điều trị

Tùy từng loại bệnh nhân

Mức LDL-C mg/dL (mmol/L)

Mức bắt đầu điều trị

Mức cần đạt được

Điều trị tiết chế ăn uống + tập luyện:

- Không có bệnh MV và £ 2 YTNC*

- Không có bệnh MV và > 2 YTNC

- Có bệnh MV

³ 160 (4.1)

³ 130 (3.4)

³ 100 (2.6)

< 160 (4.1)

< 100 (2.6)

< 70

Phối hợp với Điều trị bằng thuốc:

- Không có bệnh MV và có £ 2 YTNC*

- Không có bệnh MV và có > 2 YTNC

- Có bệnh MV

³ 190 (4.9)

³ 160 (4.1)

³ 130 (3.4)

< 160 (4.1)

< 100 (2.6)

< 70

* Các yếu tố nguy cơ cho bệnh tim mạch:

- Nam ³ 45 tuổi, nữ ³55 tuổi hay đang trong giai đoạn tiền mãn kinh không dùng estrogen thay thế

- HDL-C <>

- Tiền căn gia đình có người mắc bệnh MV sớm, nhồi máu cơ tim hay đột tử trước 55 tuổi (nam) hay trước 65 (nữ)

- Có tiền căn bệnh mạch máu ngoại biên, nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não

- Hút thuốc lá

- Tăng huyết áp (> 140/90 mmHg), đang sử dụng thuốc hạ áp

- Đái tháo đường

* Tăng TG:

- Nếu TG ở mức <>

- Khi TG ở mức cao (200 – 499 mg%): phải dùng thuốc làm giảm TG <>

- Khi TG rất cao (> 500 mg%): ưu tiên làm giảm TG xuống <150mg%,>

* Khi HDL-C thấp:

- Ở bệnh nhân có HDL-C thấp, cần làm giảm LDL-C trước và kết hợp giảm cân nặng, tăng cường hoạt động thể lực để đưa mức HDL-C lên ≥ 40 mg%.

- Nếu HDL-C thấp mà có tăng TG (200 – 499 mg%): cần điều trị tăng TG trước.

Thông tin thêm về điều trị bệnh này, mời các bạn tìm đọc “Bác sĩ gia đình” 68, chuyên đề: Rối loạn mỡ máu.

TS.BS Bùi Hữu Hoàng – TS.BS Trương Quang Bình

Bệnh viện Đại Học Y Dược TPHCM

Rối loạn lipid máu trọng bệnh xơ vữa động mạch

Xơ vữa động mạch là một bệnh do nhiều nguyên nhân: Rối loạn chuyển hoá lipid tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, hút thuốc lá nhiều và hoạt động thể dục ít...

Trong các nguyên nhân trên, rối loạn chuyển hoá lipid có vai trò chủ yếu và là yếu tố đe doạ gây bệnh tim mạch.

Xơ vữa động mạch là bệnh của thành mạch, vữa xơ động mạch xuất hiện trên bề mặt động mạch do sự rối loạn thâm nhập của lipid. Nó làm thay đổi cấu trúc của thành mạch. Một màng lipid sẽ hình thành ở mảng trong của mạch đặc biệt là khu vực ngã ba của động mạch, ở đó lưu lượng máu chảy tạo thành những dòng xoáy. Dòng xoáy giống như vi tổn thương mạch tạo những tổn thương của nội mô. Những tổn thương này là cơ sở để tạo thành các sẹo động mạch và những mảng xơ vữa, bởi vậy các mảng xơ vữa là một loại sẹo xơ mỡ và collagen.

Hiện nay, chưa có biện pháp nào có thể đề phòng những tai biến mạch máu. Nhất là ở tim và não do xơ vữa động mạch gây nên, đôi khi ở tuổi 30. Do vậy, người ta phải bằng lòng trong thực hành lâm sàng, xác định nhữnh yếu tố có nhiều khả năng gây xơ vữa động mạch. Qua đó người thầy thuốc, có thể cho bệnh nhân những lời khuyên về chế độ ăn hoặc thuốc thích hợp.

Về phương diện sinh học tốt nhất nên tiến hành, kiểm tra định kỳ các thông số về lipid máu (triglycesid, cholesterol toàn phần, HDL cholesterol, LDL cholesterol, apoA, apoB, urê, acid ulie, glucose máu, glucose niệu) ở tuổi dưới 30, sau 2-3 năm kiểm tra một lần, và duới 45 tuổi mỗi năm một lần. Mọi chỉ số cao bất thường cần phải được xem kỹ lưỡng khả năng gây xơ vữa động mạch.

PGS.TS Thái Qúy

Tổng Thư ký Hội Huyết học truyền máu Việt Nam

Rối loạn lipid máu trong bệnh tăng huyết áp

Về mặt sinh lý bệnh học, bệnh tăng huyết áp là hậu quả của sự mất cân bằng giữa hai hệ thống đối kháng trong cơ thể là hệ thống tăng áp xuất và hệ thống hạ áp xuất.


Về phương diện thực hành lâm sàng, người ta phân biệt tăng huyết áp vô căn hay nguyên phát. Huyết áp tăng vừa, xuất hiện ở lứa tuổi trên 50, không có nguyên nhân rõ rệt. Theo một số thống kê nước ngoài, loại này phổ biến, thường chiếm tỷ lệ 60% trong số các trường hợp tăng huyết áp.

Tăng huyết áp thứ phát, ít gặp hơn, khoảng 40% các trường hợp. Ở bệnh nhân tuổi dưới 40 tăng huyết áp thứ phát thường do các bệnh về thận.

Cấp: Viêm cầu thận có phù và protein niệu. Nhiễm độc thai nghén (theo dõi huyết áp và protein niệu).

Mạn: Tăng huyết áp là một biến chứng hầu như không thể tránh khỏi của mọi trường hợp suy thận mạn. Trong trường hợp này, nhất thiết phải tiến hành thăm dò các thông số hoá sinh về bệnh thận (protein niệu, cseatimin máu, sơ đồ máu) cùng các xét nghiệm về Xquang đặc hiệu.

PGS.TS Thái Qúy

Uống thuốc ngừa thai dài ngày dễ bị xơ vữa động mạch

Những phụ nữ dùng thuốc tránh thai nhiều năm liền có thể bị tăng nguy cơ tắc mạch máu, dẫn đến đau tim hay đột quỵ, một nghiên cứu của Bỉ vừa tiết lộ.

Bấm vào cửa sổ xem Hình
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng cho biết phát hiện này không đồng nghĩa với việc phải báo động.

"Lưu ý cuối cùng - không nên dừng thuốc đột ngột. Không nên hoảng sợ. Đừng gọi ngay cho thầy thuốc phụ khoa của bạn vào sáng mai", trưởng nhóm nghiên cứu, tiến sĩ Ernst Rietzschel từ Đại học Ghent ở Bỉ, phát biểu tại buổi giới thiệu nghiên cứu trong cuộc gặp của Hiệp hội Tim mạch Mỹ tuần này.

Nhóm của Rietzschel đã nghiên cứu 1.300 phụ nữ tuổi từ 35 đến 55. Trong đó, 81% đã sử dụng thuốc tránh thai trung bình 13 năm. Họ đo các mảng bám phát sinh trong mạch máu bằng kỹ thuật siêu âm mạch.

Kết quả là, ở những người dùng thuốc cả chục năm, hai mạch máu lớn là động mạch cảnh ở cổ và động mạch đùi có số mảng bám tăng 20 - 30% so với người bình thường.

Việc tích luỹ dần dần các mảng bám (có thành phần là mỡ, cholestero, canxi và các vật liệu khác) lên thành mạch có thể dẫn tới xơ vữa động mạch, là tình trạng mà mạch máu rắn lại và bị thu hẹp.

"Điều lo ngại chính là nếu một người có tỷ lệ mảng bám cao, người đó có thể phát sinh một cục chặn trong mạch máu, dẫn đến đột quỵ hoặc tử vong đột ngột", Rietzschel nói.

Rietzschel cho biết, những phụ nữ đã dùng loại thuốc này dài ngày có thể thực hiện các biện pháp phòng bệnh khác, chẳng hạn ăn uống lành mạnh, tập luyện thể dục, bỏ thuốc lá và kiểm soát cholesterol. Ngoài ra, "còn có những cách khác để tránh thai. Uống thuốc không phải là khả năng duy nhất", ông nói.

Đây là nghiên cứu đầu tiên cho rằng xơ vữa động mạch là tác dụng phụ của việc dùng thuốc ngừa thai.

Theo VnExpress