Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh tiểu đường và tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh tiểu đường và tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng

80% bệnh nhân đái tháo đường tử vong là do biến chứng tim mạch

Hưởng ứng ngày thế giới phòng chống đái tháo đường 14/11, Bộ Y tế đã phối hợp với Sở Y tế TPHCM và Trung tâm Dinh Dưỡng TPHCM tổ chức mít tinh kêu gọi người dân cùng quan tâm ngăn chặn sự gia tăng của bệnh đái tháo đường vào sáng12/11.

Bệnh đái tháo đường và những biến chứng tim mạch nghiêm trọng có thể được tầm soát nếu như có những biện pháp can thiệp đúng đắn.



Tại ngày hội, người dân đã được các bác sĩ tư vấn về dinh dưỡng và sức khỏe, hướng dẫn các biện pháp giúp ổn định đường huyết, kiểm soát đường huyết và cách phòng chống bệnh đái tháo đường. Bác sỹ Đỗ Thị Ngọc Diệp, Giám đốc Trung Tâm Dinh Dưỡng TPHCM cho rằng: "Để phòng tránh bệnh này thì cần phải nhấn mạnh thông điệp đầu tiên là phòng tránh từ khi còn trẻ, duy trì lối sống lành mạnh bằng cách: ăn uống đầy đủ, dinh dưỡng hợp lí, tăng cường vận động thể lực, duy trì cân bằng trong tâm lí của chúng ta".

Theo ước tính, trên toàn thế giới hiện có trên 243 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, dự báo đến năm 2030 con số này sẽ tăng lên 430 triệu người, tăng 47%. Tính đến nay, Việt Nam cũng đã có 4,5 triệu người mắc bệnh lý này và với xu hướng ngày càng trẻ hóa. Có đến 65% bệnh nhân đái tháo đường khi phát hiện có biến chứng nặng nề do bệnh diễn biến âm thầm, khó phát hiện ở giai đoạn sớm. Bệnh đái tháo đường có thể làm tổn thương nhiều bộ phận trong cơ thể như tim mạch, mắt và thận. Nguy cơ bị tai biến mạch máu não ở người đái tháo đường được ước tính cao gấp bốn đến sáu lần so người cùng độ tuổi không bị bệnh.

Theo Tiến sỹ, bác sỹ Nguyễn Văn Tiến, Giám đốc Bệnh viện Nội tiết Trung ương, Trưởng ban chỉ đạo Chương trình phòng chống bệnh đái tháo đường: Hiện có gần 80% bệnh nhân mắc đái tháo đường tử vong là do biến chứng tim mạch, đột tử biến chứng suy tim, và 40% bệnh nhân phải chạy thận hiện nay là do đái tháo đường, bác sỹ Tiến cảnh báo: "Bản thân bệnh ĐTĐ gây ra tổn thương về bệnh tim không phải đơn thuần, biến chứng ĐTĐ gây tổn thương cả hệ thống mạch vành. Việc điều trị cho bệnh nhân ĐTĐ có bệnh tim khó khăn hơn bệnh nhân tim mạch không có ĐTĐ. Chúng tôi cũng cánh báo là, người ĐTĐ có bệnh mạch vành tim, các biểu hiện lâm sàng hầu như không có".

Với mức độ tăng nhanh của các biến chứng đái tháo đường, kèm theo đó là các chi phí để điều trị cho những người bệnh này cũng gia tăng một cách chóng mặt. Thạc sĩ Huỳnh Văn Biết, Phó Giám đốc Sở Y tế nhấn mạnh: "Điều đáng lo ngại hơn là 65% người bệnh không biết mình có bệnh. Tỉ lệ tiền ĐTĐ là 27%và là vấn đề nan giải, là gánh nặng của sự phát triển KTXH vì hậu quả nặng nề của bệnh do được phát hiện và điều trị muộn. Chi phí điều trị bệnh chiếm khoảng 3-6% ngân sách dành cho ngành y tế. Bệnh ĐTĐ có thể phòng ngừa, hạn chế được bằng các biện pháp tuyên truyền về dự phòng yếu tố nguy cơ, triển khai các công tác khám, tầm soát, điều trị và quản lý bệnh trong toàn xã hội".

Như vậy, bên cạnh sự quan tâm của chính quyền Nhà nước, sự nỗ lực của ngành y tế thì rất cần sự tham gia tích cực của mọi người dân trong việc nâng cao ý thức và kiến thức trong phòng, chống bệnh đái tháo đường vì căn bệnh này hoàn toàn có thể tầm soát và hạn chế được thông qua chế độ dinh dưỡng hợp lý, vận động đều đặn sẽ góp phần làm giảm các biến chứng do bệnh đái tháo đường gây ra.

Thuốc cao huyết áp cho người đái tháo đường týp 2



Người mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) tysp 2 thường hay bị cao huyết áp (với tỷ lệ 60-80%). Cao huyết áp kéo dài sẽ làm tổn thương các mạch máu nhỏ và các mạch máu lớn, nếu không được điều trị sẽ gây ra các bệnh lý ở mắt, thận, tim mạch và có thể dẫn đến đột quỵ.

Kiểm soát huyết áp cũng như kiểm soát đường huyết và lipid là những vấn đề rất quan trọng đối với người mắc bệnh tiểu đường týp 2, giúp làm chậm sự tiến triển của bệnh ĐTĐ và ngăn ngừa những biến chứng bệnh lý có thể xảy ra.

Huyết áp là áp lực của máu lên các thành mạch. Một người được cho là cao huyết áp khi HA tâm thu >140mg (HA tâm thu là huyết áp đo được khi tim co bóp máu đi) và HA tâm trương> 90mg (HA tâm trương là huyết áp đo được khi máu trở về tim : >140/90mg). Huyết áp của người khỏe mạnh bình thường là 120/80mg. Đối với người mắc bệnh ĐTĐ týp 2 mục tiêu điều trị là đưa huyết áp ở mức <130/85mg. Để điều trị cao huyết áp cho người ĐTĐ týp 2 có hai phương pháp là dùng thuốc và không dùng thuốc.

Phương pháp không dùng thuốc:

- Kiểm soát cân nặng, tránh béo phì.

- Tập thể dục điều độ với cường độ trung bình như đi bộ, bơi lội…

- Thư giãn đầu óc, tránh căng thẳng stress.

- Hạn chế uống rượu.

- Tốt nhất nên bỏ hút thuốc.

- Chế độ ăn kiêng mặn và chất béo.

Phương pháp dùng thuốc:

Có rất nhiều nhóm thuốc dùng để điều trị cao huyết áp như: thuốc lợi tiểu, thuốc chẹn thụ thể, thuốc đối kháng canxi, thuốc giãn mạch, thuốc tác động lên hệ thần kinh trung ương, thuốc ức chế men chuyển... Hầu hết các nhóm thuốc cao huyết áp đều có những tác dụng phụ. Người thầy thuốc phải lựa chọn nhóm thuốc nào có tác dụng tối ưu và hạn chế tác dụng phụ đặc biệt là những tác dụng phụ trên thận để điều trị cao huyết áp cho người bệnh ĐTĐ týp 2. Nhóm thuốc ức chế men chuyển (ACE) như thuốc captopril, enalapril... là lựa chọn hàng đầu của các thầy thuốc do vừa có tác dụng hạ huyết áp vừa có tác dụng bảo vệ thận.

Thuốc ức chế men chuyển - (ACE):

ACE (Angiotensin converting enzyme) là một peptidyl dipeptidase đóng vai trò xúc tác chuyển đổi ngiotensin I thành angiotensin II. Angiotensin II là chất co mạch nội sinh và có vai trò kích thích vỏ thượng thận tiết ra aldosteron gây giữ muối và nước. khi vào cơ thể, thuốc sẽ ức chế ACE ngăn chặn sự hình thành angiotensin II nên gây giãn mạch hạ huyết áp, đồng thời cũng ngăn chặn sự kích thích tiết ra aldosteron ở vỏ thượng thận nên có tác dụng bảo vệ thận.

Vì vậy, trong điều trị cao huyết áp ở người bệnh ĐTĐ týp 2, các thầy thuốc sẽ ưu tiên lựa chọn nhóm thuốc ức chế men chuyển vì vừa đạt hiệu quả vừa an toàn cho bệnh nhân. Ngoài ra trong trường hợp cần thiết, các thầy thuốc có thể phối hợp nhóm thuốc này với các nhóm thuốc hạ huyết áp khác để đạt hiệu quả điều trị như mong muốn.

Hiện nay có nhiều loại thuốc mà thành phần sự phối hợp giữa thuốc ức chế men chuyển và thuốc lợi tiểu như coversyl plus, captohasan...

DS. MAI XUÂN DŨNG

Rosiglitason gây biến cố tim mạch

Tháng 9/2010, Cơ quan quản lý thuốc châu Âu (EMA) khuyến cáo ngừng dùng các biệt dược chứa rosiglitazone (avandia, advandamed, avaglim). Trước đó tháng 7/2010, Hội đồng y khoa Vương quốc Anh (UKC) cũng khuyến cáo tới Cơ quan quản lý các chế phẩm y học và bảo vệ sức khỏe rút rosiglitazon (avanda) ra khỏi thị trường vì nguy cơ cao hơn lợi ích chữa bệnh của thuốc này. Hiện FDA vẫn cho dùng các sản phẩm này song ngày 23/9 thông báo phải hạn chế việc dùng cho những người trước đây dùng rosiglitason vì các thuốc khác không đáp ứng, mức giới hạn đó giống như mức vẫn áp dụng cho các thuốc có nguy cơ cao gây biến cố tim mạch (nhồi máu cơ tim, đột qụy).

Được biết, rosilgitason là thuốc tiểu đường týp 2 thuộc nhóm thiazolidin, có hiệu quả kiểm soát đường huyết tốt, đồng thời có hiệu quả trong việc ngăn ngừa các biến chứng không truyền thống của tiểu đường. Tuy nhiên nó cũng có các tác dụng phụ: làm tăng bệnh suy tim ở người có bệnh tim, tăng tốc độ suy tim dẫn tới nhập viện và tăng đáng kể tỷ lệ tử vong có liên quan tới đột qụy, làm tăng nguy cơ đột qụy khoảng 27%.

Hà Thủy Phước (Theo British Medical Journal)

Giảm 20% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường:

Đái tháo đường là căn bệnh đang có chiều hướng gia tăng ở khắp mọi nơi - tại Mỹ có gần 11% người lớn (khoảng 23 triệu người) mắc bệnh đái tháo đường typ 2; tại Việt Nam, tỷ lệ này vào khoảng 4,9% theo số liệu thống kê chưa đầy đủ...

Trung tuần tháng 6 vừa qua, Hãng tin Anh Reuters cho biết, sau khi kết thúc nghiên cứu dài kỳ trên 10 năm ở 38.000 người lớn, các nhà khoa học Anh đã phát hiện thấy khẩu phần ăn giàu hàm lượng vitamin K sẽ giảm được tới trên 20% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường (đái tháo đường) typ 2. Qua nghiên cứu, các nhà khoa học còn phát hiện thấy vitamin K (K1 và K2) đều có tác dụng tốt. Nguyên lý làm việc của vitamin K là giúp cơ thể giảm nguy cơ viêm nhiễm theo hệ thống, cải thiện khả năng sử dụng insulin của cơ thể. Theo nhiều nghiên cứu khoa học, việc thiếu hụt vitamin K gây ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình bài tiết insulin và kiểm soát đường huyết, giống như triệu chứng ở những người mắc bệnh ĐTĐ.

Những tác dụng tích cực khác của vitamin K:

* Phòng ngừa ung thư: Theo nghiên cứu của Bệnh viện Mayo Clinic (Mỹ), vitamin K2 có tác dụng giảm tới 32% rủi ro tử vong vì ung thư và 14% rủi ro mắc các loại bệnh ung thư, như ung thư gan, kết tràng, dạ dày, vòm họng, đồng thời có tác dụng tốt trong việc trị bệnh ung thư phổi, gan và máu trắng. Ngoài ra, nếu khẩu phần ăn giàu vitamin K2 còn làm giảm được tới 35% ung thư tuyến tiền liệt ở đàn ông.

* Tăng cường tỷ trọng xương: Vitamin K là dưỡng chất vô cùng quan trọng cho xương, đóng vai trò giống như một chất keo sinh học, lưu giữ canxi trong xương và được xem là dưỡng chất có thành phần không khác gì thuốc Didronel (thuốc trị bệnh loãng xương ở phụ nữ).

* Hạn chế bệnh tim mạch: Vitamin K có tác dụng giúp ngăn ngừa xơ cứng động mạch ở nhóm người mắc bệnh mạch vành và suy tim, bảo vệ thành lớp lót động mạch không bị tổn thương.

* Hạn chế bệnh giãn tĩnh mạch: Nếu cơ thể thiếu hụt vitamin K sẽ làm cho tính hoạt hoá của protein GLA bị suy giảm, đây là protein có vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khoẻ tĩnh mạch, nếu protein GLA bị suy yếu thì rủi ro mắc bệnh giãn tĩnh mạch rất cao.

* Giảm bệnh tiểu đường: Như đã đề cập ở trên vitamin K có vai trò vô cùng quan trọng trong việc duy trì quá trình bài tiết và sử dụng insulin của cơ thể và giảm được tới gần 20% rủi ro mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 ở người lớn.

Bổ sung bao nhiêu vitamin K là hợp lý ?

Vitamin K có nhiều trong các loại rau xanh dạng lá (như rau bina, bắp cải, cải xoăn, súp lơ v.v...) chiếm khoảng 90% lượng vitamin K mà cơ thể hấp thu. Vitamin K còn có trong thịt, pho-mat và trứng; cũng có nhiều trong thức ăn cổ điển của người Nhật làm từ đậu nành lên men có tên là Natto (nên người ta cũng lợi dụng quá trình lên men để sản xuất ra loại vitamin này).

Vitamin K là loại vitamin hoà tan trong mỡ, vì vậy để giúp cơ thể hấp thụ tốt thì nên ăn kèm theo một lượng mỡ nhất định. Riêng loại Vitamin K3 hoặc Menddione là dạng vitamin tổng hợp do con người sản xuất, giới chuyên môn khuyến cáo dùng hạn chế. Tốt nhất, chỉ nên dùng Vitamin K1 và K2 có trong thực phẩm.

Theo số liệu thống kê, hầu hết mọi người không được cung cấp đủ lượng vitamin K cho cơ thể. Viện Y học Mỹ khuyến cáo mỗi ngày nên bổ sung 120 mcg vitamin K cho nam giới và 90 mcg đối với phụ nữ, mức này sẽ giúp máu tuần hoàn tốt, có lợi cho xương, tim mạch và hệ miễn dịch. Riêng nhóm người mắc bệnh đái tháo đường nên dùng liều cao hơn, có thể từ 250-360 mcg. Trọng tâm đến các loại rau xanh dạng lá thẫm và thực phẩm lên men. Trường hợp thiếu các nguồn thực phẩm này có thể uống thuốc bổ, nhất là nhóm người có rủi ro loãng xương, hoặc mắc bệnh tim mạch và đái tháo đường cao.

ST

Phòng bệnh mạch vành ở bệnh nhân tiểu đường



Các bệnh nhân đái tháo đường (BN ĐTĐ) rất dễ bị mắc các biến chứng tim mạch như hẹp động mạch vành (ĐMV) hay đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não hay đột qụy. Tuy các biến chứng này là cực kỳ nguy hiểm nhưng có thể phòng ngừa được bằng cách điều trị tốt bệnh ĐTĐ và thực hiện lối sống lành mạnh.

Nhồi máu cơ tim là biến chứng đáng sợ nhất của bệnh ĐTĐ vì nó có thể gây tử vong rất nhanh, có khi BN chết trước khi đến được bệnh viện. Phần lớn các BN ĐTĐ bị đột tử cũng là do bị bệnh ĐMV.
Chế độ ăn nhiều rau thích hợp để phòng ngừa bệnh mạch vành ở bệnh nhân đái tháo đường.

Phòng ngừa bệnh ĐMV thế nào?

Để làm giảm nguy cơ bị bệnh ĐMV thì cần phải điều trị tốt bệnh ĐTĐ đạt được mục tiêu (ABC) bằng các biện pháp như chế độ ăn, hoạt động thể lực và dùng thuốc. Giảm cân cũng là một biện pháp tốt giúp người bệnh dễ đạt được các mục tiêu ABC hơn và phòng ngừa bệnh tim mạch dễ hơn. Vì vậy hãy phấn đấu để đạt mục tiêu ngay từ khi bắt đầu điều trị, càng đạt được nhiều mục tiêu thì cơ hội phòng ngừa các biến chứng tim mạch càng lớn. Các mục tiêu ABC là:

A là HbA1C (A-1-C): HbA1C là phần cấu trúc hemoglobin (viết tắt là Hb) của hồng cầu. Mỗi khi các tế bào hồng cầu được tủy xương sản xuất và giải phóng vào dòng máu nó sẽ gắn với một lượng glucose trong máu, mức độ gắn nhiều hay ít tùy thuộc vào nồng độ đường trong máu tại thời điểm đó cao hay thấp. Do hồng cầu có đời sống khoảng 100-120 ngày nên HbA1C có giá trị đánh giá nồng độ đường máu của bạn trong vòng 3-4 tháng trước đó và các bác sĩ thường chỉ định làm xét nghiệm HbA1C cho bệnh nhân mỗi 3-4 tháng (tương đương 3-4 lần mỗi năm). Lưu ý các BN ĐTĐ là cần phải kiểm soát tốt cả đường máu lúc đói và đường máu sau bữa ăn thì mới hy vọng đạt được mức HbA1C theo khuyến cáo của Hội ĐTĐ Mỹ là dưới 7%. Nếu để HbA1C tăng lên 1% thì nguy cơ bị bệnh ĐMV tăng lên 11%.

B (Blood pressure) là huyết áp (HA): Con số HA sẽ cho biết áp lực trong lòng động mạch của bạn. HA càng cao thì tim càng phải hoạt động mạnh để bơm được máu vào các mạch máu, vì vậy có nguy cơ bị suy tim nếu HA cao nhiều hoặc cao kéo dài. Khuyến cáo của Hội ĐTĐ Mỹ từ nhiều năm nay về mức HA cho các BN ĐTĐ là phải <130/80mmHg, mà tốt nhất là 120/70mmHg, mục tiêu này thấp hơn nhiều so với mức được chẩn đoán tăng HA là 140/90mmHg. Thuốc điều trị tăng HA tốt nhất cho các BN ĐTĐ là các thuốc nhóm ức chế men chuyển (coversyl, renitec, zestril...) hoặc nhóm ức chế thụ thể angiotensin (approvel, micardis...) vì ngoài tác dụng hạ HA nó còn có tác dụng bảo vệ tim và thận của người bệnh bị ĐTĐ. Nếu để HA tâm thu tăng thêm 10mmHg thì nguy cơ bị bệnh ĐMV tăng lên 15%.

C là mỡ máu (cholesterol): Cholesterol chính là lượng mỡ trong máu. Có nhiều loại mỡ khác nhau, ví dụ HDL cholesterol thì có tác dụng bảo vệ tim mạch còn LDL cholesterol thì lại có thể gây xơ vữa các mạch máu và dẫn tới bị các bệnh tim. Triglycerides cũng là một loại mỡ có hại cho tim. Mục tiêu cần đạt được về mỡ máu ở các BN ĐTĐ theo Hội ĐTĐ Mỹ: LDL cholesterol đạt dưới 2,6 mmol/l HDL cholesterol với trên 1,0 mmol/l (nam), trên 1,25mmol/l (nữ); triglyceride dưới 1,7mmol/l. Theo các nghiên cứu, nếu để LDL-C tăng lên 1mmol/l thì nguy cơ bị bệnh ĐMV tăng lên 57%. Nhưng nếu làm tăng được HDL-C lên thêm 0,1mmol/l thì sẽ làm giảm nguy cơ bị bệnh ĐMV xuống 15%.

Làm cách nào để đạt được các mục tiêu ABC?

Lựa chọn các loại thức ăn phù hợp, tích cực tập luyện và uống thuốc đều đặn sẽ giúp bạn đạt được các mục tiêu nêu trên.

Chọn các loại thức ăn phù hợp: Rất nhiều người bệnh hiểu rõ điều này vì sau khi thay đổi chế độ ăn, loại thức ăn thì đường máu, mỡ máu và cả HA của họ đều biến đổi rất lớn. Sau đây là một số cách lựa chọn thức ăn phù hợp mà bạn có thể áp dụng dễ dàng. Còn nếu bạn muốn biết thêm thông tin thì hãy trao đổi với bác sĩ điều trị của bạn:

- Ăn giảm mỡ, đặc biệt là các mỡ bão hoà (có trong thịt mỡ, mỡ lợn, da gà, bơ, sữa toàn phần, kem, pho-mát, dầu dừa, dầu palm (cọ), bánh mỡ.

- Chuyển sang ăn các loại thức ăn ít mỡ hoặc không có mỡ.

- Ăn vừa phải hoa quả và ăn nhiều rau hơn.

- Giảm ăn các loại thức ăn nhiều cholesterol (như lòng đỏ trứng, da gà, thịt gà béo và các loại bơ sữa giàu cholesterol).

- Chọn ăn các loại chất béo giúp làm giảm cholesterol trong máu, ví dụ dầu ôliu, dầu canola. Các loại hạt cũng là những thức ăn chứa mỡ "tốt".

- Ăn cá 2-3 lẫn mỗi tuần, ưu tiên các loại cá có nhiều mỡ tốt hay mỡ bảo vệ tim. Ví dụ các loại cá hồi, cá mòi, cá trích, cá thu.

- Chế biến món ăn ít mỡ như nướng, quay, hoặc sử dụng các loại chảo chống dính, cooking sprays).

- Ăn các loại thức ăn nhiều chất xơ như bột yến mạch (oatmeal), hạt khô, đậu, hoa quả và các loại rau.

- Ăn nhạt bớt.

Phấn đấu giảm cân hoặc phòng ngừa không để tăng cân:

- Ăn giảm lượng chất béo và lượng calo. Tăng cường tập thể dục thể thao, vận động thể lực nhiều hơn nữa.

Uống thuốc đều đặn: Các thuốc sẽ giúp bạn đạt mục tiêu ABC dễ hơn và làm giảm các nguy cơ bị các biến chứng tim mạch, bao gồm cả nhồi máu cơ tim và đột qụy. Có thể bạn sẽ cần phải uống hoặc tiêm nhiều loại thuốc cùng lúc, bao gồm:

- Các thuốc hạ đường máu loại uống như diamicron, amaryl, glucophage, avandia hoặc loại tiêm như insulin.

- Các thuốc hạ HA như coversyl, renitec, approvel, lacipil, amlor...

- Các thuốc điều trị rối loạn lipid máu như crestor, zocor, lipitor...

- Aspirin liều thấp (100 - 300mg/ngày) phòng xơ vữa mạch máu. Uống thuốc đều đặn có nghĩa là uống đúng liều lượng và thời gian, không được tự động ngừng thuốc hoặc điều chỉnh liều lượng mà không có sự đồng ý của thầy thuốc.

- Vì thuốc lá không chỉ có hại cho phổi mà còn rất nguy hiểm cho hệ tim mạch, làm gia tăng nguy cơ bị các biến chứng tim mạch nên cần bỏ thuốc lá càng sớm càng tốt. Không nên vin vào bất cứ lý do gì để trì hoãn việc này. Nếu bạn đã quyết tâm thì hãy báo cho bác sĩ, người thân và bạn bè biết để nhận được sự hướng dẫn và hỗ trợ hiệu quả.

Dự án quốc gia phòng chống bệnh đái tháo đường - Bệnh viện Nội tiết TW

Tiểu đường và tai biến mạch máu não

Trong các biến chứng của bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) thì tai biến mạch máu não là một biến chứng nguy hiểm, đe doạ đến tính mạng của người bệnh. Giúp người bệnh kiểm soát bệnh và đề phòng những tai biến có thể xảy ra, chúng tôi xin mời bạn đọc tham khảo bài viết về vấn đề này của GS.TS. Trần Đức Thọ, Chủ tịch Hội Nội tiết - đái tháo đường Việt Nam.

Vì sao bệnh nhân ĐTĐ có nguy cơ tai biến mạch máu não

Tai biến mạch máu não (TBMMN) là sự rối loạn tuần hoàn não dưới dạng cấp tính, bệnh xuất hiện đột ngột trong vài giây hoặc có thể xuất hiện nhanh trong vài giờ với các triệu chứng như: đau đầu dữ dội, nôn, buồn nôn, liệt chi, mất ngôn ngữ, mất phản xạ, xuất huyết não... Người bệnh có thể bị tử vong nhanh chóng nếu không được cấp cứu kịp thời, nếu qua khỏi thì cũng giảm tuổi thọ nghiêm trọng và suy giảm nhiều chức năng của cơ thể, thậm chí tàn phế. Đối với bệnh nhân ĐTĐ, nhiều trường hợp tử vong do nhồi máu não, đặc biệt là nhồi máu ổ khuyết.

Tăng huyết áp (THA) là biểu hiện thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ. THA kinh diễn là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến TBMMN. Tỷ lệ THA ở bệnh nhân ĐTĐ cao gấp 1,5 - 3 lần so với nhóm không bị ĐTĐ. Đối với ĐTĐ týp 1, THA xảy ra sau nhiều năm. Đối với bệnh nhân ĐTĐ týp 2, THA là vấn đề thường gặp, sẽ nghiêm trọng hơn về huyết áp nếu người bệnh có biến chứng ở thận.

ĐTĐ làm cho quá trình xơ vữa động mạch diễn ra nhanh hơn ở người bình thường, do vậy hiện tượng những cục huyết khối hình thành trong lòng động mạch hay các mảng xơ vữa làm bít tắc lòng động mạch là nguyên nhân làm cho máu, ôxy không đến nuôi dưỡng được vùng mạch máu đó cung cấp. Đây không chỉ là lý do dẫn đến tắc mạch máu não, phình vỡ mạch máu não mà còn gây ra đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim...

Hầu hết các bệnh nhân ĐTĐ thường bị nhiễm mỡ máu, có lượng cholesterol trong máu vượt quá khả năng cho phép, nhất là cholesterol có hại làm cho quá trình xơ vữa động mạch càng trở nên trầm trọng hơn, nguy cơ TBMMN càng cao. Điều quan trọng là các yếu tố này thường xuất hiện đồng thời ở bệnh nhân ĐTĐ, do vậy nguy cơ tai biến là rất có thể nếu không được kiểm soát và điều trị bệnh đúng đắn.

Làm thế nào để xác định bệnh và kiểm soát biến chứng TBMMN

Dựa trên các yếu tố nguy cơ như thừa cân, béo phì, có cuộc sống tĩnh tại, ít vận động, hút thuốc lá, gia đình có người bị ĐTĐ, phụ nữ sinh con lớn hơn 4kg... cần phải có kiểm tra đường huyết để xác định sớm bệnh. Khi đã có những biểu hiện bệnh như sút cân nhanh chóng, khát nước nhiều, ăn nhiều, tiểu nhiều, mệt mỏi, rụng tóc, rối loạn kinh nguyệt, chóng mặt, mất ngủ... cần phải đi khám bệnh ngay. Tại các cơ sở y tế, bác sĩ sẽ tiến hành đo nồng độ glucose huyết tương ngẫu nhiên hoặc nồng độ glucose huyết tương lúc đói. Kết quả này được khẳng định lại bằng xét nghiệm lần thứ 2.
Xác định TBMMN dựa trên những biểu hiện lâm sàng của bệnh và trên hình ảnh chụp CT não có tổn thương hoặc nhồi máu ổ khuyết. Cũng cần phần biệt bệnh nhân TBMMN não do các nguyên nhân khác như u não, bệnh van tim, bệnh máu, do dùng thuốc chống đông, phẫu thuật tạo hình, dị dạng mạch máu não...

Kiểm soát ĐTĐ và phòng ngừa TBMMN

Tất cả các bệnh nhân ĐTĐ đều phải được theo dõi chặt chẽ đường huyết, chỉ số đông máu, chỉ số cholesterol, triglycerid, huyết áp. Cụ thể: glucose lúc đói nhỏ hơn hoặc bằng 7mmol/lit (<126mg/dl);>

GS.TS. Trần Đức Thọ - skđs

Thuốc làm giảm cholesterol máu ở người đái tháo đường

Khoảng 40% bệnh nhân mắc đái tháo đường (ĐTĐ) có kèm theo tăng cholesterol máu. Sự gia tăng này có căn nguyên gốc là do các khiếm khuyết di truyền gen, do đó tăng cholesterol được coi là căn bệnh mạn tính cần được điều trị liên tục. 2/3 người mắc ĐTĐ tử vong vì các bệnh do tim mạch như nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não... do vậy, làm giảm được cholesterol máu được coi là mục tiêu quan trọng trong chiến lược điều trị bệnh ĐTĐ.

Thuốc giảm mỡ máu statin là gì?

Thuốc statin ức chế hoạt động của men gan - men đó chịu trách nhiệm tạo ra cholesterol máu. Nếu quá nhiều cholesterol trong máu có thể lắng đọng tạo nên các mảng bám ở thành mạch máu. Các mảng bám này làm hẹp và tắc mạch máu dần dần. Khi mảng bám này bong ra di chuyển đến chỗ hẹp hơn hoặc có cục máu đông trên mảng bám khiến cho mạch máu bị hẹp tắc đột ngột gây nên nhồi máu cơ tim hoặc đột qụy hoặc tắc mạch máu chi...

Thuốc statin không những có tác dụng làm giảm cholesterol máu, thuốc còn có một tác dụng mang lại lợi ích nhiều hơn thế với những người bị xơ xữa mạch máu: đó là thuốc góp phần đáng kể làm ổn định mảng xơ vữa, thậm chí làm nhỏ lại mảng xơ vữa bám trên thành mạch máu. Chính vì vậy, thuốc làm giảm được các tai biến tim mạch và đã được chứng minh bởi nhiều nghiên cứu, trong đó đáng lưu ý đến 2 nghiên cứu gần đây:

Nghiên cứu CARDS (Collaborative Atorvastatin Diabetes Study, tiến hành từ năm 2002)

Gần 2.838 bệnh nhân ĐTĐ type 2 có độ tuổi từ 40-75: trong đó 1.428 bệnh được cho uống atorvastatin 10mg/ngày và 1.410 bệnh được cho uống thuốc giả trong thời gian trung bình 3,9 năm.

Các bệnh nhân này không mắc bệnh tim nhưng lại có những yếu tố nguy cơ tim mạch như hút thuốc; tăng huyết áp; bệnh võng mạc do ĐTĐ hoặc có protein trong nước tiểu chứng tỏ rằng bệnh nhân có bệnh lý thận do ĐTĐ.

Với những bệnh nhân được cho uống statin: nguy cơ bị nhồi máu cơ tim giảm 37%, nguy cơ bị đột qụy giảm 48% so với nhóm bệnh nhân được cho uống thuốc giả. Và điều thú vị hơn nữa là các lợi ích trên không phụ thuộc vào tuổi, giới hoặc có tăng cholesterol hay không (nghĩa là bệnh nhân không bị tăng cholesterol máu cũng được hưởng lợi từ việc uống đều đặn atorvastatin).

Nghiên cứu HPS (Heart Protection Stud, năm 2003)

Bao gồm 5.963 bệnh nhân ở độ tuổi 40-80 mắc ĐTĐ type 2 có kèm theo bệnh tim mạch hoặc không kèm theo bệnh tim mạch. Những bệnh nhân này được phân chia ngẫu nhiên làm 2 nhóm: nhóm 1 uống simvastatin 40mg/ngày và nhóm 2 cho uống giả dược. Cả 2 nhóm bệnh nhân này được dùng thuốc và theo dõi liên tục trong vòng 5 năm.

Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng: những bệnh nhân có bệnh tim mạch và được dùng simvastatin giảm được nhồi máu cơ tim và đột qụy 33%; những bệnh nhân không có bệnh tim mạch từ trước giảm được nhồi máu cơ tim và đột qụy 27% so với nhóm bệnh nhân dùng giả dược.

Tác dụng chính của thuốc statin

Thuốc statin làm giảm tổng hợp cholesterol và LDL-cholesterol (loại cholesterol xấu), mặt khác statin làm tăng HDL-cholesterol (loại cholesterol tốt). Do đó, statin giúp làm ổn định các mảng bám xơ vữa mạch máu và vì vậy làm giảm nhồi máu cơ tim và đột qụy.

Tác dụng phụ của statin

Tăng mỡ máu là căn bệnh mạn tính nên cần được dùng thuốc nhóm statin đều đặn (giống như thuốc điều trị tăng huyết áp và ĐTĐ) nên nhiều người e ngại về tính an toàn của thuốc.

Hầu hết mọi người uống statin đều dung nạp thuốc tốt. Tuy nhiên, một số người có biểu hiện tác dụng phụ thoáng qua một thời gian.

Những tác dụng phụ thường gặp nhất là đau đầu; khó ngủ; nổi mẩn đỏ; đau cơ; yếu cơ; chóng mặt; buồn nôn và nôn; đau bụng; đầy hơi; táo bón hoặc đi ngoài phân lỏng.

Tác dụng phụ nguy hiểm của statin

Viêm cơ: nguy cơ bị viêm cơ do statin tăng lên nếu dùng chung với một số loại thuốc. Nếu bệnh nhân tăng cholesterol máu đồng thời với tăng triglyceride máu, các bác sĩ có thể cho uống kết hợp statin với fibrate -thuốc làm giảm đồng thời cả triglyceride và cholesterol máu- khi đó nguy cơ bị viêm cơ tăng lên đáng kể.

Đau cơ: là biến chứng có thể gặp khi dùng statin. Đau cơ khiến bệnh nhân không thoải mái, làm xét nghiệm thấy men CPK tăng trung bình. Đây là biến chứng lành tính, đau cơ sẽ hết nhanh chóng sau khi ngừng thuốc statin.

Tiêu cơ: là biến chứng nguy hiểm nhất của statin. Cơ toàn thân đau nhức và yếu. Men CPK tăng cao, tiêu cơ còn có thể làm cho thận phải làm việc quá sức, các sản phẩm do tiêu cơ có thể gây tắc ống thận và gây suy thận cấp. Rất may mắn là biến chứng tiêu cơ rất hiếm gặp, ước chừng ít hơn 1/10.000 trường hợp sử dụng statin.

Statin có ảnh hưởng đến gan?

Thuốc thuộc nhóm statin không được dùng cho bệnh nhân đang có bệnh gan tiến triển và dùng thuốc một cách thận trọng với những người có tiền sử bệnh gan hoặc uống nhiều rượu. Các khuyến cáo nên xét nghiệm chức năng gan đều đặn là do khi mới được đưa vào sử dụng và khi thí nghiệm trên chuột ghi nhận có tăng men gan (GPT hoặc ALT) và do vậy người ta nghĩ rằng thuốc có tác dụng “độc” với gan.

Nhưng khi nghiên cứu ngẫu nhiên với số lượng bệnh nhân lớn, so sánh giữa nhóm sử dụng thuốc statin và nhóm dùng giả dược, các bác sĩ không thấy sự khác biệt về số người tăng men gan (khoảng 1%) cũng như không ghi nhận trường hợp nào bị bệnh gan nặng do dùng thuốc.
Một điều tra đã ghi nhận số liệu của 24 triệu bệnh nhân dùng lovastatin (một thuốc làm giảm cholesterol thuộc nhóm statin) từ năm 1986 đến năm 2002 (Theo Tolman; Am J Cardiol 2002 - 89: 1374-1380):

Theo số liệu nghiên cứu này, tỷ lệ viêm gan ở mức 1/100.000 người là rất nhỏ so với các loại thuốc khác. Với biến chứng suy gan cấp, tỷ lệ 1/130.000 người sử dụng statin tương đương như tỷ lệ suy gan cấp vô căn trong cộng đồng nên không thể kết luận đây là biến chứng do dùng statin được.

Làm gì để hạn chế tác dụng phụ của statin?

Để hạn chế nguy cơ bị tiêu cơ: tránh kết hợp dùng chung statin với các nhóm thuốc khác như erythromycin; gemfibrozil; clofibrate; cyclosporine; các thuốc diệt nấm gốc azole (ketoconazole; fluconazole; itraconazole). Đặc biệt nước bưởi cũng làm tăng nguy cơ bị tiêu cơ khi bệnh nhân uống statin.

Nhìn chung, thuốc giảm mỡ máu nhóm statin rất an toàn. Tỷ lệ tác dụng phụ nặng rất nhỏ trong khi lợi ích lên bệnh tim mạch ở người ĐTĐ là rất lớn. Thuốc nên được dùng đều đặn hàng ngày và trong nhiều năm liên tục mới phát huy hiệu quả phòng ngừa hoặc giảm nhẹ tai biến mạch máu hoặc nhồi máu cơ tim.

ThS.BS. Nguyễn Huy Cường - skđs

Mối liên quan giữa đái tháo đường và bệnh tim mạch

Theo thông báo của Hiệp hội Đái tháo đường quốc tế, năm 1995, cả thế giới có 135 triệu người mắc bệnh ĐTĐ (chiếm 4% dân số toàn thế giới). Dự báo đến năm 2010 con số đó sẽ là 221 triệu người mắc bệnh ĐTĐ.

Biến chứng tim mạch ở người đái tháo đường là phổ biến nhất.

Trong số các biến chứng do bệnh ĐTĐ gây nên, biến chứng tim mạch là phổ biến nhất. Nguyên nhân tử vong do căn nguyên tim mạch chiếm tới 70% ở các bệnh nhân ĐTĐ. Chính vì vậy, việc hiểu biết đặc điểm về bệnh lý cũng như những biểu hiện lâm sàng của biến chứng tim mạch sẽ góp phần phòng ngừa, hạn chế sự tiến triển của bệnh tim mạch ở các bệnh nhân ĐTĐ.

Cơ chế biến chứng tim mạch ở các bệnh nhân ĐTĐ

Cơ chế quan trọng nhất là bệnh ĐTĐ sẽ gây nên tổn thương sớm ở tế bào nội mạc, làm rối loạn chức năng nội mạc mạch máu. Lớp nội mạc là lớp tế bào trong cùng của thành mạch, nơi tiếp xúc trực tiếp giữa thành mạch và các thành phần của máu. Khi chức năng nội mạc bị rối loạn nó sẽ làm cho các phân tử cholesterol dễ dàng chui qua lớp nội mạc vào trong, kết hợp với tăng khả năng kết dính và xuyên thành của tế bào bạch cầu vào trong lớp nội mạc. Từ đó sẽ hình thành mảng vữa xơ động mạch, hoặc mảng vữa xơ đã hình thành thì tiến triển rất nhanh dẫn đến hẹp dần lòng mạch, gây nên các biểu hiện lâm sàng của bệnh thiếu máu cục bộ mạn tính ở cơ quan tổ chức. Ngoài ra, khi lớp nội mạc mạch máu bị tổn thương, sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho sự co mạch kết hợp với sự kết dính các tế bào tiểu cầu, hình thành nên cục huyết khối trong lòng mạch làm tắc mạch cấp tính, gây nên các biểu hiện lâm sàng của thiếu máu cục bộ cấp tính của tổ chức như cơn đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não... đe dọa nghiêm trọng tính mạng người bệnh.

Tùy theo vị trí của mạch máu bị thương tổn mà có các biểu hiện lâm sàng khác nhau. Nếu tổn thương động mạch mắt sẽ gây nên giảm thị lực rồi dẫn đến mù lòa. Nếu tổn thương ở động mạch thận sẽ dẫn đến suy thận, tăng huyết áp. Tổn thương động mạch vành sẽ dẫn đến cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, đột tử, tổn thương mạch máu não sẽ dẫn đến tai biến mạch máu não và tổn thương ở động mạch chi sẽ dẫn đến biểu hiện viêm tắc động mạch (đi cà nhắc cách hồi, hoại tử đầu chi...).

Các yếu tố làm nặng nề thêm biến chứng tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ

Các yếu tố này khi kết hợp với ĐTĐ sẽ làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch lên nhiều lần. Càng nhiều yếu tố kết hợp, tỷ lệ biến chứng tim mạch càng tăng mạnh.

Các yếu tố đó gồm: Tuổi cao; tăng huyết áp; rối loạn lipid máu (tăng cholesterol hoặc triglycerid máu); béo phì (đặc biệt là béo bụng); nghiện thuốc lào, thuốc lá; tình trạng ít vận động; tiền sử gia đình có người chết vì nhồi máu cơ tim.

Trong số này, có 2 yếu tố không thể tác động được, đó là tuổi cao và tiền sử gia đình; các yếu tố còn lại đều có thể tác động làm thay đổi được. Chính vì vậy, khi điều trị bệnh ĐTĐ, không bao giờ được bỏ quên tác động vào các yếu tố nguy cơ này, đặc biệt là thói quen hút thuốc lá.

Các biểu hiện chủ yếu của bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ

- Bệnh mạch vành: đây là căn nguyên tử vong chủ yếu của bệnh lý tim mạch ở các bệnh nhân ĐTĐ. Một đặc điểm rất quan trọng phải luôn luôn nhấn mạnh, đó là biểu hiện lâm sàng bệnh mạch vành ở các bệnh nhân ĐTĐ rất nghèo nàn. Rất nhiều bệnh nhân bị thiếu máu cơ tim, thậm chí nhồi máu cơ tim nặng mà không hề biết, chỉ khi đi khám kiểm tra sức khỏe mới tình cờ phát hiện được. Chính vì lý do đó, những bệnh nhân bị bệnh ĐTĐ phải thường xuyên đi kiểm tra tim mạch định kỳ mới có thể phát hiện sớm các dấu hiệu của thiếu máu cục bộ cơ tim. Tuy nhiên, cũng có nhiều bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng bằng cơn đau thắt ngực (cơn đau thắt sau xương ức, đau có cảm giác như bóp nghẹt tim, lan lên vai trái, cằm hoặc cánh tay trái); hoặc cảm giác tức nặng ngực trái, hồi hộp đánh trống ngực... Trước tất cả các dấu hiệu bất thường, dù là rất nhỏ, người bệnh cũng cần được khám xét kỹ lưỡng về tim mạch. Bệnh nhân có thể được chỉ định làm các thăm dò cần thiết để chẩn đoán bệnh mạch vành như ghi điện tâm đồ lúc nghỉ, ghi điện tim liên tục 24 giờ theo phương pháp Holter; siêu âm tim, nghiệm pháp gắng sức, xạ hình tưới máu cơ tim và chụp mạch vành để phát hiện kịp thời các dấu hiệu của thiếu máu cơ tim và xử trí.

- Bệnh lý mạch máu não:

Chủ yếu là gặp tai biến mạch máu não (hay đột quỵ não), biểu hiện bằng nhồi máu não hoặc xuất huyết não. Biểu hiện lâm sàng bằng đột ngột bại hoặc liệt một nửa người, méo miệng, có thể kèm theo rối loạn ý thức ở các mức độ khác nhau. Các biểu hiện lâm sàng cũng có thể thoáng qua rồi mất, sau đó lại tái phát, cũng có thể bị nặng ngay từ đầu để lại di chứng tàn phế hoặc có thể tử vong; hoặc một vài lần bị tai biến thoáng qua, sau đó bị nặng.

- Bệnh lý mạch máu ngoại biên:

Biểu hiện sớm của tổn thương mạch máu ngoại biên là dấu hiệu "đi cà nhắc cách hồi", nghĩa là người bệnh thấy đau, mỏi chân hay chuột rút khi đi bộ; sau khi nghỉ ngơi, các dấu hiệu hết đi, bệnh nhân lại có thể tiếp tục đi được cho đến khi lại xuất hiện lại các triệu chứng đau. Ngoài ra còn gặp các dấu hiệu khác như chuột rút, loét hay hoại tử đầu chi; sờ mạch có thể thấy mạch mu chân mất hoặc yếu; mất mạch khoeo, huyết áp chi dưới thấp...

Dự án phòng chống ĐTĐ Quốc gia - BV Nội tiết TW

Bệnh đái tháo đường và chế độ luyện tập

Nguy cơ biến chứng tim mạch ở những bệnh nhân đái tháo đường là rất cao nhưng luyện tập thể thao có thể hạn chế tốt những biến chứng này vì hạn chế được tăng huyết áp, giảm được cholesterol có hại, cải thiện chức năng tim mạch của người bệnh như làm giảm nhịp tim lúc nghỉ, làm tăng khả năng co bóp tống máu của cơ tim, duy trì sự dẻo dai của cơ xương khớp. Tuy nhiên bệnh nhân cũng gặp phải những nguy hiểm nếu tập luyện quá mức.

Lợi ích và nguy cơ khi tập luyện

Người bệnh đái tháo đường cần luyện tập phù hợp với sức khỏe.
Tập luyện thường xuyên làm gia tăng nồng độ HDL (loại cholesterol tốt), gia tăng sự tiêu hao năng lượng, giúp giảm trọng lượng cơ thể ở bệnh nhân béo phì. Quá trình tập luyện còn giúp người ta tăng sự hưng phấn, giảm được áp lực bệnh tật và công việc, hạn chế tình trạng stress. Tập thể dục đều đặn còn có tác dụng cao hơn đối với người có chế độ ăn với lượng calo vừa phải, nhưng sẽ ít hoặc không có tác dụng nếu bệnh nhân áp dụng chế độ ăn kiêng với lượng calo thấp (khoảng 600- 800kcal/ngày). Hoạt động thể lực đều đặn ở người bệnh đái tháo đường có thể giảm nồng độ đường máu cả trong và sau khi tập luyện. Người ta thấy rằng nếu tập đều đặn có thể cải thiện mức cân bằng lượng đường trong máu một thời gian dài và kiểm soát mức đường hằng ngày. Tập luyện còn giúp cơ thể tăng độ nhạy với insulin máu, do vậy nhu cầu insulin bổ sung hằng ngày có thể được giảm đi. Đây là tác dụng rất quan trọng với bệnh nhân đái tháo đường týp 2, vì tình trạng giảm độ nhạy với insulin là nguyên nhân chính gây tăng đường huyết ở người bệnh.

Tuy nhiên, nếu tập luyện quá mức không phù hợp với sức khỏe sẽ dẫn đến những hậu quả nguy hiểm. Đó là cơn hạ đường huyết có thể xuất hiện ngay trong lúc tập hoặc sau khi kết thúc bài tập. Thậm chí ở một số bệnh nhân đái tháo đường týp 1, nguy cơ này có thể xảy ra muộn, sau thời điểm tập là 6 - 14 giờ, thậm chí là 24 giờ nếu cường độ tập nặng và lâu. Ngược lại, một số bệnh nhân lại bị tăng đường huyết sau khi tập vài giờ, bệnh nhân đái tháo đường týp 1 có hiện tượng này sẽ bị rơi vào tình trạng nhiễm toan ceton. Triệu chứng thường gặp nhất là hạ đường huyết xảy ra ở bệnh nhân đang điều trị insulin hoặc đang dùng thuốc hạ đường huyết. Một số bệnh nhân lại do ăn kiêng quá mức làm cho cơ thể không đủ năng lượng hoạt động hoặc do tự ý tăng liều insulin mà không theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc. Lúc này người bệnh sẽ có các biểu hiện như đói, run tay chân, vã mồ hôi, thậm chí hôn mê...

Các cơn đau thắt ngực, loạn nhịp tim thậm chí là nhồi máu cơ tim cũng có thể xuất hiện. Bên cạnh đó, các biến chứng khác cũng có thể trầm trọng thêm như gây xuất huyết đáy mắt hoặc làm bong võng mạc ở những người đã có biến chứng đáy mắt giai đoạn 3. Sự tiêu hao năng lượng trong luyện tập làm mất thêm chất đạm qua nước tiểu và làm trầm trọng bệnh lý thận do đái tháo đường gây ra. Đối với những người bị thoái hóa khớp, việc tập luyện quá mức có thể làm tổn thương khớp.

Kiểm soát bệnh chặt chẽ và lựa chọn mức độ luyện tập phù hợp

Những nguy cơ xảy ra là do người bệnh tập luyện quá mức sức khỏe của mình, trong số đó có người còn dùng quá liều thuốc hạ đường huyết hay ăn uống kiêng khem quá mức, dẫn đến cơ thể bị mất sức khi tập luyện. Một số người lại vận dụng một cách quá máy móc các bài tập, không kể lúc khỏe, lúc mệt. Do vậy bài tập phù hợp nhất cho người đái tháo đường là đi bộ hằng ngày, vào buổi sáng và chiều mát, mỗi lần đi khoảng 30 phút. Người bệnh phải chọn giày vải mềm. Trong khi tập luyện nếu thấy dấu hiệu hoa mắt chóng mặt cần ngừng tập ngay lập tức, đặc biệt chú ý đối với người già, người có các bệnh mạn tính đi kèm khác. Hằng ngày nên đo đường huyết để có sự điều trị và tập luyện phù hợp. Những người mới mắc bệnh hay bệnh được kiểm soát tốt cũng không nên tham gia những môn thể thao đòi hỏi nhiều sức như đá bóng, chạy việt dã, tập tạ... Bên cạnh tập luyện, người bệnh phải có một chế độ dinh dưỡng phù hợp với bệnh của mình.

BS. Hoàng Minh Quang