Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh xơ vữa động mạch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh xơ vữa động mạch. Hiển thị tất cả bài đăng

Xơ vữa động mạch tuổi mãn kinh


Mãn kinh là một giai đoạn tất yếu trong đời sống sinh dục của người phụ nữ. Nó liên quan đến sự già hoá dần của buồng trứng và sự giảm đi của số lượng trứng. Đi cùng với những thay đổi về chuyển hoá lipid, người ta nhận thấy vữa xơ động mạch có xu hướng gia tăng ở phụ nữ mãn kinh.

Những chuyển hóa về lipid khi mãn kinh

Về phương diện sinh lý, quá trình mãn kinh có hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất kéo dài từ 5 - 10 năm (tuỳ từng trường hợp) gọi là giai đoạn tiền mãn kinh. Giai đoạn này lượng progesteron bị thiếu hụt một cách tương đối hoặc tuyệt đối. Giai đoạn thứ hai được gọi là mãn kinh thực sự, đặc trưng bởi sự thiếu hụt ostrogen.
Rối loạn mỡ máu hay gặp ở phụ nữ mãn kinh.

Ngày càng có nhiều bằng chứng khoa học cho thấy ostrogen có ảnh hưởng tới chuyển hoá lipid và gián tiếp qua trung gian chuyển hoá này tác động tới hệ thống mạch máu. Trong số người bình thường, nữ giới trong độ tuổi hoạt động sinh dục có tỷ lệ triglycerid thấp hơn so với nam giới. Sau khi mãn kinh, sự khác biệt này dần dần mất đi: lượng triglycerid và lipoprotein tỷ trọng thấp trong huyết tương của phụ nữ tăng dần và tiến gần đến giá trị bình thường của nam giới. Người ta cho rằng, ostrdiol gây tác động lên quá trình tổng hợp triglycerid của gan và làm cho lượng triglycerid của phụ nữ thấp. Ngược lại, khi dùng ostrogen tổng hợp theo đường uống lại làm tăng triglycerid máu. Cách thức ostrogen được vận chuyển vào gan (theo đường tĩnh mạch cửa hoặc tĩnh mạch dưới gan) và cấu trúc hoá học của ostrogen (tổng hợp hay tự nhiên) dường như gây ảnh hưởng rất khác nhau đối với chuyển hoá triglycerid.

Vữa xơ động mạch có xu hướng tăng lên

Đi cùng với những thay đổi về chuyển hoá lipid, người ta nhận thấy vữa xơ động mạch có xu hướng gia tăng ở phụ nữ mãn kinh và vữa xơ động mạch vành là loại vữa xơ động mạch nguy hiểm nhất. Trước tuổi 45, người ta thấy nam giới bị vữa xơ động mạch vành nhiều hơn nhưng sự vượt trội này cũng dần giảm xuống: mãn kinh hình như đã làm mất đi sự miễn dịch tương đối của giới nữ đối với vữa xơ mạch vành. Một số nhà nghiên cứu còn nhận thấy, bệnh động mạch vành phát triển nhiều ở những phụ nữ vai to, da dày, có hệ lông phát triển kiểu nam giới. Thể tạng này có thể do tăng bài tiết lượng hormon nam giới.

Hậu quả của vữa xơ động mạch là gây hẹp lòng động mạch. Đối với động mạch vành, khi lòng mạch bị hẹp từ 50% trở lên thì cơ tim sẽ bị thiếu máu nuôi dưỡng. Biểu hiện lâm sàng thường gặp của thiếu máu cơ tim là cơn đau thắt ngực. Cơn đau có thể xuất hiện khi gắng sức hoặc ngay cả khi nghỉ ngơi, kéo dài từ 3 - 10 phút. Vị trí đau thường ở phần cao của lồng ngực, sau xương ức, lan lên cổ hoặc vai, lan xuống cánh tay trái, thậm chí đau có thể lan xuống cả ngón tay. Khi gặp cơn đau như vậy, người bệnh nên đến khám tại chuyên khoa tim mạch để tránh một biến cố tim mạch nặng nề là nhồi máu cơ tim.

Đối với các động mạch chi dưới, hẹp lòng mạch do vữa xơ cũng gây thiếu máu các bắp cơ được chi phối bởi động mạch liên quan. Lâm sàng xuất hiện một dạng đau gọi là ''đau cách hồi'': Khi đi bộ một quãng đường (từ vài mét đến vài trăm mét), người ta buộc phải dừng lại vì đau. Cơn đau kiểu chuột rút, bắp cơ co cứng và hết đi sau vài phút nghỉ ngơi, sau đó lại xuất hiện nếu tiếp tục đi... Lúc này sự thăm khám chuyên khoa cũng là một việc nên làm.

Có nên sử dụng hormon thay thế?

Vào giai đoạn mãn kinh, điều trị bằng hormon thay thế là một biện pháp hợp lý vì phương pháp điều trị này giúp cho cơ thể có thêm các hormon buồng trứng ngoại sinh. Lượng hormon này có tác dụng bù lại những khiếm khuyết, những hậu quả về sinh hoá và lâm sàng do thiếu hụt các hormon sinh dục steroid nội sinh gây ra. Nó có thể làm bớt đi những rối loạn hoạt động của hệ thần kinh giao cảm, các cơn bốc hoả, nóng bừng, vã mồ hôi có thể thuyên giảm và chất lượng cuộc sống của người phụ nữ được cải thiện tốt hơn. Thế nhưng, trị liệu này có làm giảm tai biến mạch do vữa xơ động mạch (nhất là vữa xơ động mạch vành) hay không, cho đến nay vẫn chưa được khẳng định.

Cần điều trị rối loạn chuyển hóa lipid để giảm những biến chứng tim mạch

Một điều chắc chắn rằng, điều trị những rối loạn chuyển hoá lipid máu (nếu có) sẽ làm giảm đi một cách có ý nghĩa những biến cố tim mạch do vữa xơ động mạch (suy vành, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não...) giúp kéo dài tuổi thọ con người. Trong cách thức điều trị rối loạn chuyển hoá lipid máu, chế độ ăn mà mỗi người chúng ta thực hiện đóng một vai trò hết sức quan trọng. Người bị tăng triglycerid và/hoặc cholesterol máu không nên ăn các loại phủ tạng động vật (tim, gan, thận, lòng, tiết, não), hạn chế mỡ động vật, nên ăn dầu thực vật và có thể ăn nhiều cá nước ngọt thay cho lượng trứng, thịt nên giảm đi. Một điều không quên là phải tăng cường vận động, tránh lối sống quá tĩnh tại, bó hẹp trong căn nhà hoặc quanh bàn làm việc của mình suốt cả một ngày.

TS. Tạ Mạnh Cường - Skđs

Phòng ngừa xơ vữa động mạch ở người cao tuổi



Xơ vữa động mạch là hiện tượng thành của động mạch (phía trong lòng động mạch) bị xơ cứng làm cho lòng động mạch hẹp lại gây nên hiện tượng thiếu máu cục bộ cho cơ quan, có nơi lòng động mạch bị xơ vữa bong ra gây tắc mạch cục bộ. Xơ vữa động mạch có thể gặp mọi nơi trong cơ thể nhưng nguy hiểm nhất là động mạch nuôi tim (động mạch vành), động mạch não.

Nguyên nhân chính gây nên xơ vữa động mạch là cholesterol trong máu tăng cao (bình thường cholesterrol trong máu <>0,9mmol/l, khi HDL-C dưới chỉ số này là có hiện tượng bị giảm). Người ta nghiên cứu và tổng kết thấy rằng nguyên nhân của sự gia tăng cholesterol máu lệ thuộc rất nhiều vào chế độ ăn, ví dụ như ăn quá nhiều mỡ động vật, ăn quá nhiều thức ăn có chứa cholesterol như phủ tạng động vật, thịt có màu đỏ, tôm, trứng, dầu dừa, mỡ các loại động vật như mỡ lợn, mỡ trâu bò, mỡ cừu, mỡ gà... trứng, bơ, sữa toàn phần (là những thực phẩm có dầu mang nhiều axit béo bão hoà) hoặc có thể hay gặp ở người có chế độ ăn dư thừa năng lượng gây béo phì.

Thống kê cũng cho thấy tăng cholesterol có thể có tính chất gia đình (di truyền) hoặc do mắc một số bệnh như suy giáp trạng, hội chứng thận hư, đái tháo đường, một số bệnh gây rối loạn protein máu (đau tuỷ xương...). Ở những người do thiếu vận động hoặc ít vận động như ngồi bàn giấy nhiều giờ, nhiều ngày, công việc lao động bắt buộc ngồi lâu như thợ may, người đánh máy... lại ăn chế độ nhiều đạm, nhiều mỡ khiến cho năng lượng tích tụ lại thành mỡ, tăng lượng cholesterol xấu và giảm lượng cholesterol tốt.

Xơ vữa động mạch vành dễ gây nhồi máu cơ tim.

Biểu hiện bệnh âm thầm nhưng nguy hiểm

Bệnh xơ vữa động mạch có tính chất từ từ và xảy ra trong một thời gian nếu không phát hiện kịp thời thì mới có các triệu chứng điển hình. Xơ vữa động mạch thì sớm muộn cũng làm cho thành động mạch bị xơ cứng, lòng động mạch bị hẹp lại làm cho máu cung cấp cho các cơ quan giảm đi, nhất là xơ vữa động mạch vành gây thiếu máu cục bộ, thiếu máu cơ tim gây đau thắt ngực và có thể gây cơn đau tim đột ngột và tử vong. Nếu động mạch ở não bị xơ cứng thì làm hẹp lòng động mạch não gây hiện tượng rối loạn tuần hoàn não và nặng hơn là đột quỵ do tắc mạch não hoặc nhũn não. Xơ vữa động mạch xảy ra ở bất kỳ động mạch nào trong cơ thể, nếu xảy ra ở động mạch chân (cẳng chân) thì sẽ xuất hiện cơn đau cơ giống như cơn đau chuột rút. Bệnh xơ vữa động mạch cũng là một trong những nguyên nhân chính gây tăng huyết áp.

Làm thế nào để biết có nguy cơ bị xơ vữa động mạch?

Bệnh xơ vữa động mạch ở người cao tuổi (NCT) là một bệnh âm thầm nhưng rất nguy hiểm. Trong giai đoạn đầu của bệnh xơ vữa động mạch thì có rất ít triệu chứng, vì vậy NCT cần được khám bệnh định kỳ và làm xét nghiệm máu để biết có tăng cholesterol máu hay không. Khi làm xét nghiệm cần lưu ý xét nghiệm cholesterol toàn phần (cholesterol), cả cholesterol tốt và cholesterol xấu. Ngoài ra cũng nên kiểm tra đường máu lúc đói và đo huyết áp định kỳ. Khi đã được bác sĩ khám bệnh cho kết luận bị tăng huyết áp thì NCT càng cần kiểm tra huyết áp định kỳ và dùng thuốc đều đặn theo đơn chỉ dẫn của bác sĩ, không tự động đổi thuốc và không tự động ngừng thuốc làm giảm huyết áp khi chưa có ý kiến của bác sĩ khám bệnh cho mình. Đối với đường huyết khi có kết luận của bác sĩ khám bệnh, thông qua xét nghiệm máu lúc đói và làm nhiều lần là bị đái tháo đường thì cần lắng nghe và làm theo chỉ dẫn của bác sĩ khám bệnh, không nên quá lo lắng làm ảnh hưởng đến sức khoẻ nói chung và làm tăng bệnh đái tháo đường, bệnh xơ vữa động mạch. Khi bị đái tháo đường thì NCT nên chuẩn bị cho mình một máy đo đường huyết tự động để vừa theo dõi đường huyết tốt vừa tránh mất thời gian đi khám bệnh.

Cách ngăn chặn xơ vữa động mạch

Chế độ ăn là hết sức quan trọng đối với việc phòng bệnh xơ vữa động mạch ở NCT. Cần hạn chế ăn mỡ động vật như mỡ lợn, mỡ bò, mỡ gà mà thay thế vào đó là dùng dầu thực vật như dầu lạc, dầu vừng. Không nên ăn loại dầu dừa vì dầu dừa có nhiều axít béo bão hoà dễ gây nên hiện tượng xơ vữa động mạch. Nên ăn các thức ăn có nguồn gốc từ đậu nành như đậu phụ. Mỗi tuần nên có từ 2 - 3 ngày ăn cá, trong mỡ của cá có nhiều chất béo omega-3 mà chất này rất tốt cho thành động mạch. Không nên ăn các loại lòng như lòng lợn, lòng trâu, bò và hạn chế ăn tôm, trứng. Các bữa ăn hàng ngày nên tăng cường lượng rau xanh, hoa quả (riêng người bị đái tháo đường hạn chế ăn loại quả ngọt như mít, na, xoài, hồng xiêm...).

Cần vận động cơ thể như tập thể dục dưỡng sinh, đi bộ, chơi thể thao tuỳ theo sức mình. Người ta thấy nếu vận động đều, có bài bản và phù hợp với từng cá thể thì có thể làm tăng lượng cholesterol tốt, giảm cholesterol xấu và đồng thời làm giảm huyết áp đối với người đang bị tăng huyết áp mạn tính. Nếu đã áp dụng tất cả các biện pháp nhằm làm giảm cholesterol mà không đạt kết quả thì phải dùng thuốc. Tất nhiên dùng loại thuốc gì và liều lượng ra sao, trong thời gian bao lâu cần có ý kiến của bác sĩ khám bệnh cho mình, người bệnh không nên tụ động mua thuốc để dùng.

PGS.TS. Bùi Khắc Hậu - skđs

Cholesterol: Những điều cần biết

Tại sao phải xét nghiệm cholesterol trong máu

Vì cholesterol máu có liên quan chặt chẽ với bệnh tim mạch, mà bệnh tim mạch là nguyên nhân tử vong hàng đầu trên thế giới. Bệnh tim mạch nói trong bài này gồm cả bệnh tim, chủ yếu các bệnh tim thiếu máu cục bộ như nhồi máu cơ tim, và bệnh mạch chủ yếu các tai biến mạch não như xuất huyết não hoặc nhồi máu não. Tử vong do bệnh tim đứng hàng đầu, còn tử vong do bệnh mạch đứng thứ hai, vậy tử vong tim mạch chiếm “thủ khoa” và chuyện dễ hiểu. Ðiều đáng nói ở đây là đa số trường hợp của cả hai bệnh trên đều do một nguyên nhân là vữa xơ động mạch, mà vữa xơ động mạch lại có liên quan chặt chẽ đến cholesterol huyết. Sang thế kỷ 21, Tổ chức Y tế Thế giới cho biết tử vong tim mạch vẫn đứng đầu, do đó xét nghiệm cholesterol trong máu vẫn còn rất cần thiết trong thời gian dài dài! Bảng 1 cho thấy cholesterol càng cao thì tử vong do bệnh tim thiếu máu cục bộ càng nhiều.

Vì cholesterol máu có liên quan chặt chẽ với bệnh tim mạch, mà bệnh tim mạch là nguyên nhân tử vong hàng đầu trên thế giới. Bệnh tim mạch nói trong bài này gồm cả bệnh tim, chủ yếu các bệnh tim thiếu máu cục bộ như nhồi máu cơ tim, và bệnh mạch chủ yếu các tai biến mạch não như xuất huyết não hoặc nhồi máu não. Tử vong do bệnh tim đứng hàng đầu, còn tử vong do bệnh mạch đứng thứ hai, vậy tử vong tim mạch chiếm “thủ khoa” và chuyện dễ hiểu. Ðiều đáng nói ở đây là đa số trường hợp của cả hai bệnh trên đều do một nguyên nhân là vữa xơ động mạch, mà vữa xơ động mạch lại có liên quan chặt chẽ đến cholesterol huyết. Sang thế kỷ 21, Tổ chức Y tế Thế giới cho biết tử vong tim mạch vẫn đứng đầu, do đó xét nghiệm cholesterol trong máu vẫn còn rất cần thiết trong thời gian dài dài! Bảng 1 cho thấy cholesterol càng cao thì tử vong do bệnh tim thiếu máu cục bộ càng nhiều.

Vì cholesterol máu có liên quan chặt chẽ với bệnh tim mạch, mà bệnh tim mạch là nguyên nhân tử vong hàng đầu trên thế giới. Bệnh tim mạch nói trong bài này gồm cả bệnh tim, chủ yếu các bệnh tim thiếu máu cục bộ như nhồi máu cơ tim, và bệnh mạch chủ yếu các tai biến mạch não như xuất huyết não hoặc nhồi máu não. Tử vong do bệnh tim đứng hàng đầu, còn tử vong do bệnh mạch đứng thứ hai, vậy tử vong tim mạch chiếm “thủ khoa” và chuyện dễ hiểu. Ðiều đáng nói ở đây là đa số trường hợp của cả hai bệnh trên đều do một nguyên nhân là vữa xơ động mạch, mà vữa xơ động mạch lại có liên quan chặt chẽ đến cholesterol huyết. Sang thế kỷ 21, Tổ chức Y tế Thế giới cho biết tử vong tim mạch vẫn đứng đầu, do đó xét nghiệm cholesterol trong máu vẫn còn rất cần thiết trong thời gian dài dài! Bảng 1 cho thấy cholesterol càng cao thì tử vong do bệnh tim thiếu máu cục bộ càng nhiều.

Những ai cần làm cholesterol huyết

Nếu có điều kiện, nên làm cholesterol cho tất cả mọi người trên 20 tuổi, nhưng để tiết kiệm, nên xét nghiệm ưu tiên cho những người mắc một trong những bệnh nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực, tai biến mạch não, bệnh động mạch ngoại biên (viêm tắc động mạch chi), tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì; hoặc cha, mẹ, anh chị em ruột mắc những bệnh trên. Trường hợp kết quả bình thường (xem dưới), sau 5 năm mới cần làm lại.

Cholesterol huyết, bao nhiêu là cao ?

Cholesterol từ 5,2 mmol/1 trở xuống là bình thường, từ 5,2 đến 6,2 là hơi cao, từ 6,2 trở lên là cao rõ. Tuy nhiên, các con số trên chỉ là tương đối. Vì ngay những người cholesterol dưới 5,2 cũng có 3-4 phần nghìn chết do thiếu máu cục bộ (Bảng 1).

Bảng 1. Các trị số bình thường và bệnh lý của “bộ mỡ”

1. Cholesterol toàn phần

Bình thường <>Nghi bệnh lý 5.2 – 6.2 mmol/l

Bệnh lý rõ >6.2 mmol/l

2. Triglycerid

<1.72>2.3 mmol/l

3. HDL-C

>1.5 mmol/l

1.5 – 1 mmol/l

<1.0>

4. LDL-C

<3.4>4.1 mmol/l

Như vậy cholesterol huyết càng thấp càng tốt, không sợ thấp quá. Nhưng cholesterol càng cao, tử vong càng tăng: 5,2 lên 6,2 tử vong tăng gấp đôi; 6,2 lên 7,7 tử vong từ 8% tăng lên 16% !

Tại sao lại phải xét nghiệm cả “bộ mỡ’

Vài chục năm gần đây, người ta thấy phải phân biệt cholesterol tốt là HDL-C có tác dụng bảo vệ tim, với cholesterol xấu là LDL-C hay gây vữa xơ động mạch. Do đó, nên làm cả “bộ mỡ” thì tốt hơn. Bộ mỡ gồm: 1. cholesterol toàn phần; 2. Triglycerid cũng là chất mỡ nhưng không phải cholesterol; 3. HDL-C; Và 4.LDL-C. Bảng 1 trên cho biết các trị số bình thường và bệnh lí của ‘bộ mỡ”. Chú ý: (Không nên định lượng lipid toàn phần như ngày xưa, vì không giúp gì cho chẩn đoán.) – Ðịnh lượng cholesterol toàn phần và HDL không cần nhịn đói như đối với triglycerid và LDL.

Vài chục năm gần đây, người ta thấy phải phân biệt cholesterol tốt là HDL-C có tác dụng bảo vệ tim, với cholesterol xấu là LDL-C hay gây vữa xơ động mạch. Do đó, nên làm cả “bộ mỡ” thì tốt hơn. Bộ mỡ gồm: 1. cholesterol toàn phần; 2. Triglycerid cũng là chất mỡ nhưng không phải cholesterol; 3. HDL-C; Và 4.LDL-C. Bảng 1 trên cho biết các trị số bình thường và bệnh lí của ‘bộ mỡ”. Chú ý: (Không nên định lượng lipid toàn phần như ngày xưa, vì không giúp gì cho chẩn đoán.) – Ðịnh lượng cholesterol toàn phần và HDL không cần nhịn đói như đối với triglycerid và LDL.

Cholesterol cao tới bao nhiêu thì phải điều trị ?

Ngày nay, người ta căn cứ vào LDL nhiều hơn vào cholesterol toàn phần, Bảng 1 đã cho thấy LDL bao nhiêu là bệnh lí, những để điều trị người ta còn phải xét các yếu tố nguy cơ rồi phân biệt các trường hợp sau đây: 1- Trường hợp nguy cơ cao, nghĩa là có bị nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực hoặc đái tháo đường: LDL từ 2,6 đã phải bắt đầu điều trị, và từ 3,4 đã phải dùng thuốc. 2- Trường hợp nguy cơ trung bình nghĩa là có 2 yếu tố nguy cơ trở lên (xin xem bảng 2 liệt kê các yếu tố nguy cơ thí dụ tăng huyết áp và hút thuốc lá: LDL 3,4 mới điều trị ; LDL 4,1 dùng thuốc. 3. HDL thấp <> 1,5 mmol/1 thì được trừ một yếu tố nguy cơ. 4- Tiền sử gia đình trực hệ có bệnh mạch vành sớm (nam <55> 45; nữ > 55 tuổi 5- Trường hợp nguy cơ thấp, nghĩa là chỉ có 1 yếu tố nguy cơ trong Bảng 2 : LDL phải từ 4 trở nên mới cần điều trị, và chỉ xét dùng thuốc khi LDL quá 4,9. Nếu không làm được LDL, có thể căn cứ vào cholesterol toàn phần; LDL 3,4 và 4,1 coi như tương đương với cholesterol 5,2 và 6,2.

Ðiều trị tăng cholesterol huyết như thế nào !

Trừ khi nguy cơ cao, bao giờ cũng nên bắt đầu bằng sửa đổi cách sống trong 2-3 tháng, nếu chưa đạt mục tiêu mới dùng thuốc.

Sửa đổi cách sống gồm 4 điểm chính: 1. Ăn ít mỡ bão hòa và ít cholesterol; 2. Ăn nhiều chất xơ. 3. Giảm cân nặng 4. Tăng hoạt động thể lực. Xin xem bài viết riêng về những điểm này.

Theo Thong Tin Y Dược Việt Nam

Huyết khối do xơ vữa động mạch

Hằng năm trên thế giới có khoảng 7 triệu người tử vong vì nhồi máu cơ tim và 5 triệu người chết vì đột quỵ. Đây là hai trong những bệnh gây tử vong hàng đầu hiện nay và đều xuất phát từ một nguyên nhân, đó là chứng huyết khối do xơ vữa động mạch (huyết khối xơ vữa).

Theo dự báo của WHO thì huyết khối xơ vữa sẽ là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu vào năm 2020.

Có thể hiểu nôm na huyết khối xơ vữa là chất béo tích tụ trong thành động mạch và tạo thành mảng xơ vữa động mạch. Khi mảng xơ vữa bị vỡ ra, tại những chỗ này, máu sẽ bị hoạt hóa và đông cục gây tắc động mạch. Những cục máu đông đó được gọi là huyết khối.

Tiến triển xơ vữa động mạch.

BS Hồ Huỳnh Quang Trí, Trưởng khoa Hồi sức Viện Tim TP HCM, cho biết nguyên nhân chủ yếu của xơ vữa động mạch xuất phát từ sự thụ động trong cuộc sống, ít vận động, chế độ ăn uống không hợp lý, nhiều dầu mỡ, thường xuyên hút thuốc lá, uống bia rượu, stress…

Bệnh thường xảy ra ở những người trung niên (trên 40 tuổi). Bên cạnh đó, những người béo phì, cao huyết áp, đái tháo đường, đều là đối tượng nằm trong tầm ngắm của chứng huyết khối xơ vữa. Yếu tố di truyền cũng khiến nguy cơ mắc bệnh huyết khối xơ vữa tăng cao.

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc bệnh huyết khối xơ vữa càng ngày càng tăng cao và đồng thời càng có nhiều người trẻ tuổi bị. Huyết khối xơ vữa đã thật sự trở thành mối đe dọa đối với sức khỏe con người.

Bệnh này đáng ngại bởi nó có thể sinh những biến chứng gây tử vong cao

Nhồi máu cơ tim: Là hiện tượng xảy ra khi huyết khối xuất hiện ở động mạch vành (động mạch dẫn máu nuôi tim), dẫn đến chết mô tim, loạn nhịp tim, thậm chí ngưng tim.

Nhồi máu cơ tim thường xảy ra đột ngột, nhanh và rất nguy hiểm. Khoảng 1/4 đến 1/3 bệnh nhân chết trước khi kịp đến bệnh viện. Trong số những người nhập viện, có 5 đến 10% chết do các biến chứng như suy tim, choáng tim, rối loạn nhịp tim. Theo thống kê cứ 6 người bị nhồi máu cơ tim thì có một người sẽ bị tái phát cơn nhồi máu cơ tim, đột quỵ, tử vong do tim mạch sau một năm.

Đột quỵ (hay còn gọi là tai biến mạch máu não): là căn bệnh nguy hiểm đứng thứ ba sau tim mạch và ung thư. Ở Việt Nam, tuy chưa có con số thống kê chính xác, nhưng theo số liệu của các bệnh viện chuyên tim mạch như Bệnh viện Tim trung ương, TP HCM, Hà Nội… 30% số bệnh nhân nhập viện là do mắc tai biến mạch máu não. Còn ở khoa Hồi sức cấp cứu của các bệnh viện, bệnh nhân đột quỵ chiếm đa số.

Đột quỵ dạng nhũn não xảy ra khi xuất hiện huyết khối ở động mạch dẫn máu lên não. Nếu nhẹ có thể bị tê liệt nửa người, trường hợp nặng, bệnh nhân có thể ngưng thở và tử vong. Bệnh khởi phát rất nhanh, rất đột ngột với ít dấu hiệu cảnh báo, nhưng sẽ gây chết người nếu không xử lý thật nhanh. Hiện nay tai biến mạch máu não cũng xuất hiện nhiều ở những người trẻ tuổi.

Việc phòng bệnh bao giờ cũng tốt hơn chữa bệnh. Do vậy, mỗi người chúng ta, đặc biệt là các đối tượng trong nhóm nguy cơ cao, cần phải tập cho mình có một lối sống lành mạnh, vận động thường xuyên, ăn uống hợp lý, hạn chế những thức ăn chứa nhiều chất béo và cũng như các tác nhân gây hại như rượu bia, thuốc lá.

Đặc biệt lưu ý, các biến chứng của huyết khối xơ vữa có nguy cơ gây tử vong rất cao nên việc điều trị phải hết sức khẩn trương, nhất là trong khoảng 3 giờ đầu. Do vậy, khi phát hiện ra các biến chứng, bệnh nhân phải ngay lập tức đến bệnh viện để điều trị kịp thời.

Với những người đã mắc bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch, điều quan trọng nhất là phải tuân thủ theo chỉ định của bác sĩ một cách nghiêm ngặt, từ lịch thăm khám đến việc dùng thuốc… Hậu quả có thể bạn không thấy tức thời, nhưng sau 5- 10 năm, tính mạng của bạn có thể bị đe dọa.

TTO

Rối loạn lipid máu trọng bệnh xơ vữa động mạch

Xơ vữa động mạch là một bệnh do nhiều nguyên nhân: Rối loạn chuyển hoá lipid tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, hút thuốc lá nhiều và hoạt động thể dục ít...

Trong các nguyên nhân trên, rối loạn chuyển hoá lipid có vai trò chủ yếu và là yếu tố đe doạ gây bệnh tim mạch.

Xơ vữa động mạch là bệnh của thành mạch, vữa xơ động mạch xuất hiện trên bề mặt động mạch do sự rối loạn thâm nhập của lipid. Nó làm thay đổi cấu trúc của thành mạch. Một màng lipid sẽ hình thành ở mảng trong của mạch đặc biệt là khu vực ngã ba của động mạch, ở đó lưu lượng máu chảy tạo thành những dòng xoáy. Dòng xoáy giống như vi tổn thương mạch tạo những tổn thương của nội mô. Những tổn thương này là cơ sở để tạo thành các sẹo động mạch và những mảng xơ vữa, bởi vậy các mảng xơ vữa là một loại sẹo xơ mỡ và collagen.

Hiện nay, chưa có biện pháp nào có thể đề phòng những tai biến mạch máu. Nhất là ở tim và não do xơ vữa động mạch gây nên, đôi khi ở tuổi 30. Do vậy, người ta phải bằng lòng trong thực hành lâm sàng, xác định nhữnh yếu tố có nhiều khả năng gây xơ vữa động mạch. Qua đó người thầy thuốc, có thể cho bệnh nhân những lời khuyên về chế độ ăn hoặc thuốc thích hợp.

Về phương diện sinh học tốt nhất nên tiến hành, kiểm tra định kỳ các thông số về lipid máu (triglycesid, cholesterol toàn phần, HDL cholesterol, LDL cholesterol, apoA, apoB, urê, acid ulie, glucose máu, glucose niệu) ở tuổi dưới 30, sau 2-3 năm kiểm tra một lần, và duới 45 tuổi mỗi năm một lần. Mọi chỉ số cao bất thường cần phải được xem kỹ lưỡng khả năng gây xơ vữa động mạch.

PGS.TS Thái Qúy

Tổng Thư ký Hội Huyết học truyền máu Việt Nam

Xơ vữa động mạch - Bệnh lý nhồi máu cơ tim

Bấm vào cửa sổ xem HìnhNhồi máu cơ tim là gì ?

Nhồi máu cơ tim là thuật ngữ mà người ta dùng để chỉ cho tình trạng bị nghẽn đột ngột mạch vành. Ðiều này trong y khoa gọi là" tắt mạch vành" có thể dẫn đến tử vong nhưng đa số là còn sống. Tử vong có thể xảy ra khi sự tắt nghẽn gây ra rối loạn nhịp tim hoặc tổn thương cơ tim lan rộng. Trong cả 2 trường hợp này thì cơ tim đều không còn đủ khả năng bơm máu cung cấp oxi cho não và những cơ quan khác.

Ða số trường hợp nhồi máu cơ tim xảy ra ở ngưòi có tình trạng bịnh lý mạch vành ( xơ vữa mạch vành ). Vì thế bài này sẽ giúp ôn lại hình ảnh cấu trúc mạch vành bình thường ,cấu trúc mạch vành bất thường trong xơ vữa động mạch và ảnh hưởng của những bất thường này trên tim.

Ðiều gì xảy ra đối với những trường hợp xơ vữa mạch vành?

Trong bịnh động mạch vành (xơ vữa đông mạch) chấn thương lớp trong của động mạch dẫn đến sự hình thành những mãng làm dầy lên của lớp trong động mạch. Những mãng đó hình thành như thế nào trong việc đáp ứng với chấn thương, những mảng này từ lớp giữa và có thể từ lớp ngoài di chuyển vào lớp trong . Ở đây chúng tái tạo lại (bằng cách phân chia) và tổng hợp nên lớp mô liên kết. Quá trình xâm nhập, phân chia, tổng hợp tập trung trong lớp trong này gây ra dầy lớp trong. Khi cholesterol, những mỡ khác, tế bào viêm(bạch cầu) vào chỗ phát triễn dầy lên này tạo nên một mãng xơ vữa. Kế đó những mãng này phát triễn và chồng chất những mô sẹo (mô sợi) và những canxi thừa thải (canxi là chất cứng trong răng và xương).Vì thế những mãng này thường cứng đó là lý do tại sao thỉnh thoảng xơ vữa mạch máu có liên quan đến sự "cứng động mạch".

Ai bị những mãng xơ vữa mạch máu và cái gì xảy ra với những mãng xơ vữa ?

Ða số những người lớn tuổi đều có một số mãng xơ vữa trong lớp trong của động mạch vành. Ngay cả những người trẻ ở thập niên 20 thường có những mãng dày lớp trong khu trú ở mạch vành. Sự phân bố, mức độ (số lượng mãng xơ vữa) và tỉ lệ phát triển những mãng xơ vữa trong động mạch thay đổi rất lớn ở mỗi người khác nhau. Mãng xơ vữa chắc này có thể phát triển một cách chậm chạp nhưng có mặt trong còn nguyên vẹn và không có cục máu đông trên bề mặt này.

Nguyên nhân của nhồi máu cơ tim là gì ?

Việc vỡ mãng xơ vữa trong mạch vành là sự kiện sinh bịnh đầu tiên trong nhồi máu cơ tim. Khi mãng xơ vữa vỡ ra, cục máu đông bất thình lình hình thành trong động mạch ở chỗ mãng xơ vữa bị vỡ. Chảy máu thường kèm theo với vỡ mãng xơ vữa. Rồi thì cục máu đông làm tắt động mạch vành và giảm tốc độ máu đến tim. Hậu quả của những biến cố này ở mạch vành là vấn đề cơ bản của trên 75% người bị nhồi máu cơ tim.

Một người còn sống sau nhồi máu cơ tim thì bị điều gì ?

Theo những nghiên cứu trong y khoa, 50-70% người còn sống trong lần nhồi máu đầu tiên. Những người chết do nhồi máu cơ tim vì giảm tốc độ máu trong mạch vành gây ra sự bất thường trong nhịp tim và tổn thương cơ tim lan rộng. Hình 4 cho thấy tim của bịnh nhân chết sau nhồi máu cơ tim 5 ngày. Hình ảnh cho thấy tim bị nhồi máu thất trái và lát cắt để xem vách cơ. Khoảng 90% nhồi máu cơ tim liên quan đến thất trái, là nơi bơm máu giàu oxi đến các cơ quan. 10% khác liên quan đến thất phải, nơi bơm máu vào phổi.

Nếu một người còn sống sau nhồi máu cơ tim,cơ tim có thể trở lại bình thường hoặc trở thành vùng cơ chết. Số lượng và sự khỏe mạnh của phần cơ tim còn lại quyết định chất lượng cuộc sống cũng như kéo dài tuổi thọ của bịnh nhân sau nhồi máu cơ tim. Nhồi máu cơ tim cũng gây ngắt quảng dòng điện tim bình thường dẫn đến rối loạn nhịp. Nhồi máu cơ tim cũng làm yếu đi lực bơm của tim gây ra khó thở do suy tim. Mỗi biến chứng của cơ tim này có thể xảy ra ở bất kỳ lúc nào trong quá trình hồi phục tạo sẹo cơ tim.

Một người có thể bị hơn một lần nhồi máu cơ tim không ?

Vâng. Không phải là không thông thường, người bịnh mạch vành có thể có hơn một lần nhồi máu cơ tim trong cuộc sống. Sự thật, bằng việc xem xét cơ tim khi mỗ xác những nhà bịnh học có thể nói nhồi máu cơ tim đã xảy ra khi nào. Theo cách đó thì nhồi máu cơ tim mới có thể xuất hiện một vùng nâu nhạt, nhồi máu cơ tim bán cấp thì màu vàng và nhồi máu cơ tim đã lành thì có sẹo trắng của cơ tim.

Theo Bác sĩ gia đình

Vữa xơ động mạch là gì? Có phải là xơ cứng động mạch không?

Ðộng mạch là những ống đưa máu từ tim đi cung cấp oxy và các chất bổ cho toàn cơ thể, khác với tĩnh mạch là các ống đưa máu trở về tim. Ở người bình thường trẻ tuổi mặt trong các động mạch nhìn nhẵn bóng; còn các động mạch bị vữa xơ mặt trong thấy những chỗ nổi lên, đó là những mảng vữa xơ. Gọi là mảng vữa xơ (atheroma) vì nó có một vỏ ngoài bằng những sợi xơ cứng, bao bọc lấy một lõi,gồm một số chất mỡ, một số tế bào bị hủy hoại và cả những sợi xơ nữa, lổn nhổn như­ cháo, như­ vữa. Tóm lại, màng vữa xơ =lõi vữa + vỏ xơ. Vì các chất mỡ có nhiều ống lõi của mảng vữa xơ nên có tác giả là xơ mỡ động mạnh cũng đúng

Còn chữ xơ cứng động mạch là một chữ chung chung, để chỉ tất cả các trường hợp động mạch bị cứng trong đó vữa xơ động mạch là phổ biến và gây nhiều tai hại nhất. Cụm từ xơ cứng động mạch ngày nay rất ít khi dùng đến.

Người trẻ tuổi có bao giờ bị vữa xơ động mạch không?

Các nghiên cứu từ nửa thế kỷ nay đều cho biết vữa xơ động mạch xuất hiện từ khi người ta còn rất trẻ, đến 20 - 30 tuổi đa số đã bị vữa xơ động mạch rồi. Tất nhiên khi mới xuất hiện ở người trẻ, mặt trong các động mạch chưa có những mảng vữa xơ thật sự như tả ở trên, mà chỉ mới nhìn thấy các dải mỡ màu vàng, chưa lồi lên lẫn vào lòng động mạch, đó là vữa xơ động mạch độ 1. Sau này, với thời gian và tuổi tác, các dải này mới dày lên thành các mảng vữa xơ lồi lên (độ 2) có khi ngấm cả calci (độ 3), hoặc loét ra (độ 4).

Như vậy người trẻ tuổi cũng đã có vữa xơ động mạch rồi. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quý Tảo cho biết từ 25 đến 20 tuổi, 50% người Việt Nam có vữa xơ động mạch, còn từ 30 tuổi trở lên thì 100% đều có bệnh này...

Tuy nhiên, bệnh vữa xơ động mạch ở người trẻ ít khi thể hiện ra, và cũng rất ít khi biến chứng như ở người nhiều tuổi cho nên cũng có thể nối rằng vữa xơ động mạch là bệnh chủ yếu ở người già.

Vữa xơ động mạch có triệu chứng gì? và gây ra bệnh gì?

Ðại đa số: trường hợp vữa xơ động mạch không có triệu chứng gì cả. Ðó là những trường hợp nhẹ, mảng vữa xơ gây hẹp mạch ít, thí dụ, vữa xơ động mạch ở người tương đối trẻ hoặc ở nữ giới. Vì vậy, mặc dù bị vữa xơ động mạch, người bệnh vẫn sinh hoạt, làm việc như thư­ờng, không có vấn đề gì. Chỉ khi nào mảng vữa xơ lồi lên chít hẹp đáng kể lòng động mạch, người bệnh mới có một số triệu chứng, những triệu chứng này tùy thuộc vào động mạch nào bị hẹp, và hẹp nhiều hay ít. Những động mạch hay bị vữa xơ hơn cả là động mạch vành, động mạch cảnh, động mạch chi; gây nên các bệnh tương ứng là bệnh tim thiếu máu cục bộ, tai biến mạch não, biến động. Vữa xơ động mạch vành với bệnh tim thiếu máu cục bộ. Các động mạch vành được giao nhiệm vụ cung cấp máu, tức oxy cho cơ tim, cho nên nếu chúng bị các mảng vừa xơ hẹp lại, thì một vùng cơ tim sẽ bị thiếu máu. Ðó là trường hợp các bệnh tim do thiếu máu cục bộ, còn gọi là bệnh tim vành biểu hiện quan trọng nhất của vữa xơ động mạch. Hai bệnh tim thiếu máu cục bộ hay gặp hơn cả là đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim.

Trong đau thắt ngực, người bệnh mỗi khi lao động chân tay nặng như: chạy, lên thang gác, leo dốc, và cả khi xúc động mạnh nữa, thấy đau ngực. Gọi là đau thắt ngực, nhưng thật ra ít khi đau thật, lại càng ít khi có cảm giác "thắt", mà thường chỉ là tức, nặng ở ngực, nghỉ 5-10 phút lại hết. Vì vậy, người ta gọi là đau thắt ngực khi gắng sức. Trong thực tế, chỉ khi nào động mạch vành hẹp nhiều, diện tích lòng mạch giảm khoảng 70%, mới thấy đau thắt ngực; vữa xơ động mạch vành nhẹ, hẹp ít, không có triệu chứng này. Người đau thắt ngực nếu biết cách xử lý, có thể sống chung với bệnh hàng năm trời được, tất nhiên phải dùng thuốc theo cách dặn dò của thầy thuốc. Còn nhồi máu cơ tim là một bệnh nặng hơn rất nhiều: trong bệnh này mảng vữa xơ lớn hơn nữa lại bị nứt ra, hình thành một cục huyết (huyết khối) chít hẳn lòng động mạch. Vùng cơ tim do động mạch vành đó phụ trách vì vậy, bị cắt nguồn máu cung cấp, không có oxy nuôi, gọi là bị nhồi máu. Chỉ một thời gian ngắn, khoảng 6 đến12 giờ sau, là vùng đó bị hoại tử, tức là chết hẳn, ảnh h­ưởng rất lớn đến hoạt động của quả tim.

Vữa xơ động mạch vành còn có thể gây ra một số bệnh ít gặp hơn nh­ư suy tim, loạn nhịp tim, chết đột ngột .v.v....

Vữa xơ động mạch cảnh, động mạch não với tai biến mạch não

Các động mạch cảnh ở 2 bên cổ, đưa máu lên các động mạch não để nuôi các tế bào thần kinh rất nhạy cảm. Vữa xơ động mạch này hay gây các tai biến mạch não rất nặng, không tử vong thì cũng tàn phế suốt đời. Có 3 dạng tai biến mạch não do vữa xơ động mạch

1. Hoặc mảng vữa xơ ở động mạch não lớn đến mức làm tắc hẳn động mạch, người bệnh sẽ bị nhồi máu não (trước đây gọi là nhũn não). Vùng não hoại tử không hồi phục được, gây liệt nửa người. Ðây là dạng hay gặp nhất, chiếm tới 60-70 % tai biến mạch não nói chung.

2: Hoặc mảng vữa xơ ở động mạch cảnh tan vỡ, một mảnh theo dòng máu lên làm tắc một động mạch não. Tai hại cũng như vậy: nhồi máu não, hoại tử não, liệt nửa người.

3. Hoặc vữa xơ động mạch, theo một cơ chế phức tạp, không làm tắc mà làm vỡ một mạch máu não. Máu tràn ra động mạch, phá hủy các tế bào não, đó là xuất huyết não, ít gặp hơn nhồi máu não, nhưng nặng hơn nhiều.

Vữa xơ động mạch chi, với bệnh động mạch ngoại biên

Khi một động mạch chi trên hoặc chi dưới bị mảng vữa xơ chít hẹp, hoặc tắc hẳn, chi đó cũng bị thiếu máu cục bộ, bị thiếu oxy. Ðó là bệnh động mạch ngoại biên hay gặp ở chi dư­ới là chính. Hiện nay chuyên khoa tim mạch không dùng thuật ngữ như viêm tắc động mạch chi, xơ cứng động mạch gây tắc. v.v... nữa.

Triệu chứng của bệnh này diễn biến qua 4 giai đoạn.

Giai đoạn I vô triệu chứng: bệnh nhân đi lại, hoạt động như­ thường, không biết mình có bệnh.

Giai đoạn II đau cách hồi: bệnh nhân thấy lúc nghỉ thì không sao, nhưng cứ đi một quãng là đau chân, phải ngừng lại vài phút đau mới hết. Bệnh càng nặng, quãng đi được càng ngắn; Nếu đi được trên 200 m là giai đoạn IIA, nếu đi chưa đến 200m đã đau là IIB. Vị trí đau thường là bụng chân, nhưng cũng có thể cao hơn ở mông, đùi; hoặc thấp hơn ở cổ chân, bàn chân.

Giai đoạn III là bệnh nhân đau thường xuyên, không đi lại cũng đau.

Giai đoạn IV: loét, hoại tử. Tại sao người ta lại bị vữa xơ dộng mạch.Vữa xơ động mạch không có một nguyên nhân nào rõ rệt. Nhưng khảo sát số lớn đối tượng trong thời gian dài,người ta nhận thấy những người có biểu hiện vữa xơ động mạch, nhất là vữa xơ động mạch vành, có một số yếu tố hay gặp hơn các người khác. Người ta gọi đó là những yếu tố nguy cơ đối với bệnh tim mạch, có thể hiểu là những yếu tố nguy cơ đối với vữa xơ động mạch. Ngày nay, các nhà tim mạch học đều nhất trí công nhận những yếu tố nguy cơ sau đây:

1 . Những rối loạn lipid trong máu, thí dụ tăng cholesterol toàn phần, tăng LDL-C, giảm HDL-C và tăng triglycerid.

2. Hút thuốc lá.

3. Tăng huyết áp tâm thu > 140 hoặc tăng huyết áp tâm trương >90mmHg.

4. Ðái tháo đường, hoặc kháng insulin.

5. Thiếu vận động thể lực và béo phì.

6. Căng thẳng tinh thần.

Ba yếu tố trên (1, 2 và 3) có mối liên quan rất chặt chẽ, nhưng người ta ít nói đến, vì không thể đảo ngược được, đó là:

Tuổi già, càng già càng nhiều nguy cơ. Giới nam nhiều nguy cơ hơn nữ. Gia đình có người mắc bệnh tim mạch tương đối trẻ, nam dư­ới 65 tuổi và nữ dưới 55.

Làm thế nào để điều trị và dự phòng vữa xơ động mạch?

Gần đây điều trị các bệnh do vữa xơ động mạch có rất nhiều tiến bộ: người ta đã có biện pháp nong các động mạch bị hẹp, thông các động mạch bị tắc bằng thuốc hoặc bằng ống thông; mổ bắc cầu nối để máu tránh nơi tắc mà vẫn đến cơ quan đang thiếu máu cục bộ, v.v...

Những biện pháp này các nhà chuyên khoa tim mạch nước ta đều đã làm được thành thạo và chữa được nhiều trường hợp hiểm nghèo. Nhưng dù sao đó cũng là những biện pháp khó áp dụng rộng rãi, vì đòi hỏi kỹ thuật cao và chi phí lớn. Cho nên người ta vẫn thấy phòng bệnh có ích lợi hơn chữa bệnh rất nhiều. Với mục tiêu đó, Tổ chức Y tế thế giới khuyên các nước đang phát triển nên tập trung vào 4 nội dung giáo dục sức khỏe sau để phòng bệnh tim mạch:

1. Cải tiến cách ăn uống: bớt mỡ, bớt muối, bớt calo.

2. Chống hút thuốc lá.

3. Phòng và chữa tăng huyết áp

4. Tăng hoạt động thể lực và chống béo.

Về thuốc, tùy trường hợp các bác sĩ có thể cho thêm thuốc để hạ cholesterol, hạ huyết áp, chữa đái tháo đường, v v. Gần đây, năm 2001, các tác giả khuyên nên dùng một số thuốc để phòng bệnh tim mạch: aspirin cho những người nhiều nguy cơ; chẹn beta cho những bệnh nhân đã bị nhồi máu cơ tim; nội tiết tố nữ cho bệnh nhân mãn kinh v.v...

Tất cả những thuốc trên, đều phải có hư­ớng dẫn chặt chẽ của bác sĩ mới được dùng.