Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh cao huyết áp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh cao huyết áp. Hiển thị tất cả bài đăng

Những yếu tố nguy cơ không ngờ của bệnh cao huyết áp

Thực tế, có nhiều người không nhận thấy rằng họ đang có nguy cơ bị cao huyết áp. Đây là những yếu tố nguy cơ hàng đầu được các chuyên gia tim mạch và đột quỵ của Mỹ đưa ra.
Tiền sử gia đình: Nếu bố mẹ hoặc người thân của bạn bị cao huyết áp thì bạn cũng có nguy cơ mắc bệnh này.
Tuổi cao: Khi người nào đó có tuổi, họ sẽ tăng nguy cơ bị cao huyết áp và mắc bệnh tim mạch. Điều này là do khi về già mạch máu sẽ giảm độ dẻo dai dẫn tới tăng huyết áp lên hệ tim mạch.
Giới tính: Trước năm 45 tuổi, nam giới dễ bị cao huyết áp hơn nữ giới. Vì trong độ tuổi từ 45- 50 và từ 55-60, nguy cơ cao huyết áp là như nhau với cả hai giới. Nhưng sau năm 64 tuổi, phụ nữ lại có nguy cơ tăng huyết áp cao hơn nhiều so với nam giới.
Lười vận động: Ngồi nhiều sẽ làm tăng nguy cơ bị cao huyết áp. Do đó để chống tăng huyết áp và phòng ngừa các bệnh tim mạch thì bạn nên luyện tập thể dục thường xuyên. Đây là cách tự nhiên giúp giảm huyết áp hiệu quả.
Ăn quá mặn: Muối giữ quá nhiều nước trong cơ thể và có thể làm gia tăng gánh nặng cho tim, tăng nguy cơ bị cao huyết áp. Để giữ huyết áp ở mức bình thường và phòng tránh các bệnh tim mạch thì mỗi người chỉ nên hấp thụ dưới 1500 mg muối mỗi ngày.
Thừa cân hoặc béo phì: Hãy kiểm tra cân nặng. Nếu bạn bị thừa cân thì nên thực hiện chế độ giảm cân ngay vì chỉ cần giảm khoảng 4-9 kg cân nặng đã có thể giúp giảm huyết áp.
Không nên uống quá nhiều rượu: Thường xuyên uống quá nhiều rượu có thể dẫn tới tăng đột ngột huyết áp và cũng có thể dẫn tới suy tim, đột quỵ và loạn nhịp tim.

Những nhân tố khiến huyết áp thay đổi đột biến

Dưới ảnh hưởng của nhịp sinh học, mọi tiến trình thần kinh, nội tiết, biến dưỡng… không bao giờ vận hành theo kiểu một ngày như mọi ngày. Nếu nói riêng với hệ tim mạch, huyết áp không có trị số cố định nếu so sánh kết quả đo đạc vào buổi sáng với buổi chiều. Cũng chính vì thế mà người bệnh huyết áp khó tránh những thời điểm nhạy cảm khiến bệnh có thể trở thành nghiêm trọng.

Tăng huyết áp vì ăn trưa quá nhanh

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tai biến mạch máu não dễ xảy ra “đúng giờ ngọ”. Không có gì khó hiểu vì:

- Huyết áp có khuynh hướng nhích lên trong khoảng từ 11g - 13g. Tình trạng này càng rõ nét hơn nữa dưới ảnh hưởng của trời nắng gắt. Khi ghi nhận nhiệt độ cao của môi trường bên ngoài, cơ thể phản ứng bằng cách trương (giãn) mạch ngoài da đồng thời đổ mồ hôi để thoát nhiệt bên trong cơ thể. Vì phản ứng giãn mạch ngoài da kéo dài quá lâu nên lượng máu ra da càng lúc càng nhiều. Hậu quả là nhiều nơi khác khó tránh thiếu máu, nghĩa là sớm muộn cũng kéo theo thiếu dưỡng khí. Nếu xảy ra ở thành tim, ở não bộ thì nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ.


- Bên cạnh đó, không thiếu người có chế độ dinh dưỡng đúng nhưng vẫn bị tăng mỡ trong máu. Đã vậy lại là loại chất béo gây xơ vữa mạch máu như triglyceride! Nhiều người đã được điều trị bằng thuốc đặc hiệu nhưng hiệu quả không như mong muốn. Cũng may là thầy thuốc đã phát hiện nguyên nhân gắn liền với nếp sinh hoạt. Đó là vì bữa cơm trưa ăn quá nhanh khiến giờ ăn biến thành stress và dẫn đến phản ứng của tuyến thượng thận gây rối loạn biến dưỡng chất béo. Nên thêm 10 phút cho bữa cơm trưa tăng phần thư giãn để phòng bệnh.

Máu quá đậm đặc vì thiếu giấc ngủ trưa

Mạch máu không vô cớ bỗng tắc nghẽn làm chi rồi sinh tai biến mạch máu não, rồi gây hoại tử cục bộ trên thành tim đến độ nhồi máu cơ tim.

Đáng tiếc, vì bên cạnh việc dùng thuốc còn có cách khác đơn giản hơn nhiều để “hoạt huyết” mà khỏi lo phản ứng phụ. Thầy thuốc đã biết từ lâu về công năng đa dạng của giấc ngủ trưa, từ tác dụng thư giãn bước qua khả năng tổng hợp kháng thể, đến độ đặt tên là giấc ngủ năng lực (power sleep). Chẳng những thế, các nhà nghiên cứu cũng đã chứng minh là máu có độ loãng lý tưởng sau giấc ngủ trưa.

Điểm lợi của giấc ngủ trưa là không cần nhiều, thường không hơn 30 phút đã đủ để có tác dụng như mong muốn. Nhưng nếu thuốc nào cũng có tác dụng phụ thì ngủ trưa cũng thế. Đừng ngủ trưa trễ hơn 15 giờ vì khi đó giấc ngủ trưa chính là lý do dẫn đến rối loạn nhịp sinh học khiến gia chủ khó ngủ về đêm.

Đừng quên nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não vẫn trước sau là lý do khiến bệnh tim mạch đứng đầu trên bảng tỷ lệ tử vong. Đáng nói là phía sau hai căn bệnh đó hầu như bao giờ cũng có bàn tay phá hoại ngấm ngầm của bệnh tăng huyết áp.

BS. Lương Lễ Hoàng (Trung tâm Điều trị ôxy cao áp - TP.HCM)

5 loại thực phẩm giúp hạ huyết áp



Một bữa ăn nhiều chất xơ rất có hiệu quả trong việc dự phòng và điều trị nhiều dạng bệnh tim mạch trong đó có tăng huyết áp. Các loại thực phẩm như rau, yến mạch, pectin trong táo, đậu đỗ, củ gừng, bột hạt ca-ri... có tác dụng cung cấp chất xơ cho cơ thể.

Các chất xơ này, ngoài lợi ích chống tăng huyết áp, còn giúp giảm cân, chúng gắn với các kim loại nặg có hại trong cơ thể để thải ra ngoài. Vì vậy, chúng ta cũng cần chú ý đến những thực phẩm có lợi với bệnh tăng huyết áp.

Cần tây: Y học cổ truyền đã sử dụng cần tây trong điều trị tăng huyết áp từ xa xưa. Có một số bằng chứng thực nghiệm cho thấy cần tây rất hữu dụng trong việc làm giảm huyết áp, qua thử nghiệm bằng cách tiêm dịch chiết xuất cần tây vào động vật đã thấy tác dụng hạ huyết áp rõ rệt.

Ở người, hiệu quả thấy được trên huyết áp sau một thời gian sử dụng ít nhất bốn cây cần tây mỗi ngày. Hãy thử với cần tây xào thịt bò, nước ép cần tây.

Tỏi

Tỏi là một thứ thuốc diệu kỳ cho tim. Nó có tác dụng có lợi trên hệ tim mạch bao gồm huyết áp. Tỏi có công dụng hạ mỡ máu và hạ huyết áp.

Hằng ngày nếu kiên trì ăn đều đặn 2 tép tỏi sống hoặc đã ngâm giấm, hay uống 5ml dấm ngâm tỏi thì có thể duy trì huyết áp ổn định ở mức bình thường. Tỏi tương đối dễ sử dụng: cho vào đồ nấu, nước chấm và đặc biệt là tỏi ngâm giấm.

Hành

Hành rất có lợi đối với người tăng huyết áp. Hãy dùng hành với các món: hành ngâm dầu ăn, hành xào cần tây... Hiệu quả trên huyết áp của hành cũng dễ hiểu bởi nó là "anh em họ" với tỏi.

Đậu Hà Lan và đậu xanh: Là hai loại thực phẩm rất có lợi cho người tăng huyết áp. Hằng ngày nên dùng một nắm giá đậu Hà Lan rửa sạch rồi ép lấy nước uống, hoặc dùng làm rau ăn thường xuyên.

Dân gian thường dùng đậu xanh hầm với hải đới; hoặc đậu xanh và vừng đen sao thơm, tán bột, ăn mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 50g để phòng chống tăng huyết áp.

Cà rốt

Cà rốt có nhiều chất xơ và một phức hợp các chất có lợi cho huyết áp. Nếu uống 100ml nước ép cà rốt tươi, hai lần mỗi ngày trong 30 ngày sẽ thấy được tác dụng làm hạ huyết áp của nó. Ngoài ra, trong cà rốt còn có một chất bổ mắt là beta-caroten.
Cà chua và đậu Hà Lan là những thực phẩm hạ huyết áp


Cà chua

Có công dụng thanh nhiệt, giải độc, làm mát máu và hạ áp. Nó là thực phẩm rất giàu vitamin C và P. Nếu ăn thường xuyên mỗi ngày 1- 2 quả cà chua sống, bạn sẽ có khả năng phòng chống tăng huyết áp, đặc biệt là khi có biến chứng xuất huyết đáy mắt.

Cà chua có thể làm được nhiều món, nhưng người bị tăng huyết áp không nên dùng xốt cà chua (cà chua hộp) vì có nhiều muối.

Gia vị hỗn hợp

Gia vị hỗn hợp như thì là, hạt thì là, kinh giới (họ bạc hà), tiêu đen, húng quế, gừng,... có chứa những hoạt chất có lợi cho huyết áp. Tùy món ăn, hãy chế biến chúng cho hợp khẩu vị.

Theo Nguyễn Hoàng Quân - Sức Khỏe & Đời Sống

Thuốc cao huyết áp dùng cho phụ nữ có thai


Tình trạng cao huyết áp ở phụ nữ có thai (PNCT) sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi và gây ra những biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe của người mẹ. Trong trường hợp nghiêm trọng, có thể gây tử vong cả mẹ lẫn con.

Ở PNCT bị cao huyết áp, do đường truyền máu nuôi kém nên thai nhi chậm phát triển, nhẹ cân, suy dinh dưỡng và có thể sinh non.

Trong quá trình khám thai định kỳ, thầy thuốc sẽ kiểm tra huyết áp. Khi huyết áp của PNCT đo được vượt ngưỡng 140/90mmHg (huyết áp tâm thu/ huyết áp tâm trương) là cao huyết áp.

Phụ nữ có thai phải thận trọng khi dùng thuốc
Các nhóm cao huyết áp

Tình trạng cao huyết áp ở PNCT có thể chia làm ba nhóm:

- Cao huyết áp mãn tính: tình trạng cao huyết áp đã xảy ra từ trước khi có thai, nhưng đôi khi chỉ được biết đến khi đi khám thai định kỳ.

- Tiền sản giật: tình trạng nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng cả mẹ lẫn con, với các biểu hiện: cao huyết áp, phù, protein niệu. Tiền sản giật thường xảy ra ở sau tuần thứ 20 của thai kỳ. Nếu không được điều trị kịp thời, tiền sản giật sẽ chuyển sang cơn sản giật: thai phụ sẽ chuyển sang hôn mê do nhiễm độc huyết tiến triển, gây ra những biến chứng ở não (đau đầu, co giật), ở mắt (mờ mắt), ở gan (đau vùng bụng)… và có thể dẫn đến tử vong.

- Cao huyết áp đơn thuần: cũng thường xảy ra sau tuần thứ 20 của thai kỳ nhưng không có các biểu hiện của tiền sản giật.Tình trạng này thường không cần phải điều trị: huyết áp của PNCT sẽ trở về bình thường sau khi sinh con.

Thuốc cao huyết áp Loại được sử dụng:

Các thuốc cao huyết áp sau đây là những thuốc được ưu tiên chọn lựa hàng đầu trong điều trị cao huyết áp cho PNCT, do những thuốc này có tính an toàn, không gây những tác hại cho thai nhi và thai phụ.

- Methyldopa (aldomet): thuốc cao huyết áp tác động trên hệ thần kinh trung ương; được chỉ định điều trị cao huyết áp và cao huyết áp ở PNCT. Thuốc thường ở dạng viên với hàm lượng 250mg hoặc 500mg.

- Labetalol (trandate): thuốc cao huyết áp chẹn đồng thời ức chế thụ thể ở mạch ngoại vi, làm giảm sức cản ngoại vi gây hạ huyết áp.Thuốc dùng an toàn cho PNCT. Thuốc có thể trình bày ở dạng viên thường với hàm lượng 100mg hoặc 200mg hay ở dạng thuốc tiêm.

- Hydralazin (Apresolin): thuốc giãn mạch và giảm sức cản ngoại vi nên có tác dụng hạ huyết áp. Thường dùng dưới dạng thuốc tiêm qua đường tĩnh mạch trong điều trị cao huyết áp cấp ở PNCT.

Loại không được sử dụng:

Các thuốc cao huyết áp thuộc các nhóm sau đây không được sử dụng trong điều trị cao huyết áp cho PNCT, do các thuốc này khi vào cơ thể sẽ vượt qua nhau thai gây tác hại cho thai nhi như: hạ huyết áp, vô niệu, suy thận… và nghiêm trọng hơn là gây ra dị dạng, quái thai, thậm chí tử vong thai nhi.

- Nhóm thuốc ức chế men chuyển (ACE) như: captopril, enalapril…

- Nhóm thuốc đối kháng canxi như: nifedipin, amlodipin…

- Nhóm thuốc chẹn như: atenolol, propanolol…

- Nhóm thuốc đối kháng thụ thể angiotensin như: losartan, ibersartan…

- Nhóm thuốc lợi tiểu như: furosemid, hydrochlorothiazid…

DS. MAI XUÂN DŨNG

Giảm muối là can thiệp có hiệu quả cao nhất trong phòng, chống tăng huyết áp

Đột quỵ

Theo nghiên cứu phân tích về chi phí - hiệu quả các can thiệp phòng chống tăng huyết áp (THA) ở Việt Nam do Viện Chiến lược và Chính sách y tế thực hiện vừa công bố tại Hà Nội cho thấy, can thiệp truyền thông giảm muối là can thiệp có hiệu quả cao nhất trong phòng, chống bệnh THA; tiếp đến là can thiệp điều trị THA độ 1 bằng thuốc, giải pháp can thiệp điều trị THA độ 2, 3 bằng thuốc đứng ở vị trí thứ 3 trong hiệu quả phòng, chống bệnh THA.

Nghiên cứu này cũng chỉ ra giải pháp can thiệp truyền thông giảm thuốc lá - một trong những nguyên nhân gây ra bệnh THA, ung thư, tim mạch... đứng ở vị trí thứ tư và được coi là giảm chi phí và hiệu quả cao trong phòng, chống bệnh THA tại Việt Nam. Theo Viện Tim mạch Việt Nam, ở Việt Nam tỷ lệ THA đang ngày càng gia tăng, cứ 4 người lớn thì có 1 người bị THA. Tuy nhiên, hiểu biết về THA của người dân chưa đầy đủ, đặc biệt là người dân nông thôn. Theo điều tra có 77% người dân hiểu sai về bệnh và các yếu tố nguy cơ liên quan đến THA và có tới 52% người dân bị THA nhưng không biết.

Nguy hiểm chưa biết của bệnh tăng huyết áp

Nguy hiểm chưa biết của bệnh tăng huyết áp

Theo thống kê của Viện Tim mạch Việt Nam thì ước tính ở Việt Nam hiện có khoảng gần 25% dân số bị mắc bệnh tăng huyết áp. Tức là cứ 4 người thì có 1 người phải chung sống với căn bệnh này.

Nguy hiểm chưa biết của bệnh tăng huyết áp

Tuy nhiên cho đến nay, nhiều người vẫn không thực sự ý thức được sự nguy hiểm của tăng huyết áp. Sự nguy hiểm của tăng huyết áp ở chỗ, nó dễ gây các biến chứng về tim, mắt, thận và não. Và gần đây nhất các bác sỹ đã phát hiện ra tăng huyết áp còn có biến chứng phình tách động mạch chủ - một biến chứng vô cùng nguy hiểm.

Sau một cơn co giật bất ngờ, ông Nguyễn Trọng Quỳ, 67 tuổi phải đi cấp cứu và nằm điều trị tại Viện Tim mạch Việt Nam. Trước đây không hề thấy biểu hiện gì của bệnh, nên phải đến khi đến bệnh viện, ông mới biết mình đang bị bệnh rất nặng. Theo BS Trần Vũ Hoàng, Khoa C3, Viện Tim mạch Việt Nam ông Quỳ bị bệnh tách động mạch chủ rất nặng, có thể dẫn đến tử vong.

Không riêng ông Quỳ, nhiều bệnh nhân tăng huyết áp không hề biết mình bị bệnh đến khi đã bị biến chứng. Phình tách động mạch chủ là một trong những biến chứng nguy hiểm của bệnh tăng huyết áp.

GS.TS Nguyễn Lân Việt – Viện trưởng Viện Tim mạch Việt Nam cho biết: “Chúng ta hình dung từ quả tim đi ra một động mạch chủ, nó có thể vỡ bất cứ lúc nào, bệnh nhân có thể đột tử ngay lập tức. Khi đã bị phình tắc thì nếu ở tip A thì chúng tôi có thể điều trị được nhưng ở tip B thì rất khó. Và hậu quả thường rất nặng”.

Mặc dù trên thế giới, biến chứng phình tách động mạch chủ đã được phát hiện từ lâu, nhưng tại Việt Nam, mới đây căn bệnh này mới được phát hiện. Điều đáng báo động là số bệnh nhân bị phình tách động mạch chủ do tăng huyết áp đang ngày càng tăng cao. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do người bệnh tăng huyết áp không hề biết mình mang bệnh, để bệnh nặng trở thành biến chứng. Hoặc cũng có người biết mình bị tăng huyết áp nhưng chủ quan không điều trị kịp thời và dứt điểm.

Theo các bác sỹ, có một phương pháp đơn giản để phát hiện sớm căn bệnh này là đi khám sức khỏe định kỳ và theo dõi thường xuyên chỉ số huyết áp của mình. Ngoài ra, ăn bớt muối trong khẩu phần ăn hàng ngày cũng là một cách đơn giản để hạn chế căn bệnh này.

Cao huyết áp sáng sớm


Người cao huyết áp đang uống thuốc ban ngày huyết áp ổn nhưng sáng dậy thường huyết áp cao là do nguyên nhân gì ? Huyết áp số trên cao nhiều thường do nguyên nhân gì huyết áp số dưới cao nhiều thường do nguyên nhân gì?

(Nguyễn Hoàng - TP.HCM)

Trong bệnh cao huyết áp có tình trạng cao huyết áp lúc sáng sớm. Đây là một dạng bệnh khá nguy hiểm vì gây tỷ lệ tử vong cao và nhiều biến chứng tàn phế rất nặng nề. Theo các chuyên gia về tim mạch, không chỉ bệnh nhân mà ngay cả các bác sĩ cũng ít chú ý đến hiện tượng này. Khi nghiên cứu về cao huyết áp, một số quan niệm về điều trị và thay đổi lối sống đã thay đổi như: ở những bệnh nhân cao huyết áp không nên tập thể dục buổi sáng mà nên tập vào buổi chiều, sử dụng các loại thuốc điều trị cao huyết áp có tác dụng chậm và kéo dài để khi uống vào lúc trước khi đi ngủ cho đến sáng hôm sau thuốc vẫn còn tác dụng và nồng độ thuốc trong máu vẫn đủ để duy trì tác dụng hạ huyết áp.

Do đó với tình trạng của bệnh nhân cần nên đến thầy thuốc đang điều trị cho mình trình bày rõ tình trạng trên để có thể thay loại thuốc hạ huyết áp thích hợp.

Trong các chỉ số về huyết áp có huyết áp tối đa (còn gọi là huyết áp ở trên) biểu hiện sức co bóp của cơ tim, khi cao huyết áp do trở lực trong thành động mạch tăng cao nên tim phải tăng cường co bóp để tống máu đi nuôi cơ thể và làm tăng huyết áp tối đa.

Còn huyết áp ở dưới hay còn gọi là huyết áp tối thiểu, biểu hiện sức co giãn đàn hồi của thành động mạch. Khi động mạch bị xơ vữa, sức đàn hồi kém sẽ làm cho huyết áp tối thiểu tăng lên. Ở những bệnh nhân này nguy cơ vỡ động mạch gây xuất huyết não là rất cao.

PGS.TS. NGUYỄN HOÀI NAM

Những điều cần lưu ý khi tự đo huyết áp

Ngày nay, bệnh cao huyết áp (HA) ngày càng trở nên phổ biến. Chính vì vậy, trên thị trường, thiết bị chăm sóc sức khỏe cũng xuất hiện nhiều loại máy tự đo HA, nhưng HA kế thủy ngân vẫn được xem là dụng cụ có hiệu quả cao trong việc chẩn đoán bệnh. Thế nhưng, tự đo HA không phải là một việc đơn giản. Vậy cần phải làm gì để đo được HA một cách chính xác nhất? Dưới đây là một số điểm bạn cần lưu ý.

Tự theo dõi huyết áp bằng máy điện tử.
Kỹ thuật đo

- Trước khi đo, bệnh nhân cần ngồi nghỉ ngơi trên ghế ít nhất 5 phút, chân đặt lên sàn nhà, tay đặt trên bàn ngang mức tim. Đây là tư thế của mức HA thường diễn ra hàng ngày.

- Đo HA tư thế đứng được thực hiện định kỳ 3-6 tháng/lần, đặc biệt là ở những người có nguy cơ hạ HA tư thế (suy tĩnh mạch, đái tháo đường).

- Băng quấn tay phải quấn được 80% cánh tay. Với người to lớn hoặc quá béo, bao tay nhỏ có thể làm tăng số đo (sai số tới 10-15 mmHg) và ngược lại.

- Đo ít nhất 2 lần, cách nhau ít nhất 2 phút. Trị số HA chính xác là giá trị trung bình cộng của 2 lần đo nói trên. Nếu 2 lần đo chênh lệch nhau trên 5 mmHg, cần thực hiện lần đo thứ 3 và lấy trung bình cộng của cả 3 lần.

- HA tâm thu được tính từ 2 tiếng đập liên tiếp đầu tiên. HA tâm trương được tính khi tiếng đập cuối cùng mất đi.

- Cần đo tay bên kia để đối chiếu mức HA của 2 tay.

- Người đo nên nói hoặc ghi lại cho người được đo trị số HA cũng như mức HA mục tiêu của họ.

Những điểm cần lưu ý:

- HA thay đổi theo nhịp sinh học (thức - ngủ, ngày - đêm) và chịu tác động của nhiều yếu tố như: chất kích thích, thuốc, trạng thái tâm lý, vận động thể lực... Vì vậy, con số lúc đo chỉ đánh giá được tình trạng HA ngay vào thời điểm đó mà thôi.

Muốn phản ánh chính xác tình trạng HA thực sự, cần sử dụng kỹ thuật theo dõi HA 24 giờ.

- Lý tưởng nhất là đo áp lực máu ở trung tâm, tức HA ở động mạch chủ.

Bởi vì những biến chứng chính của bệnh tăng HA (như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim) thường ảnh hưởng lên các mạch máu gần trung tâm hơn là các mạch máu chi, nơi chúng ta vẫn thường đo. Với cách đo thông thường hiện nay (đo ở tay), việc xác định chỉ số HA sẽ không chính xác đối với bệnh nhân xơ vữa động mạch, suy giảm tính đàn hồi của thành mạch.

- HA có thể tăng lên khi đo vì bệnh nhân lo lắng khi gặp thầy thuốc (hiệu ứng áo choàng trắng). Để xác định bệnh tăng HA, cần đo ít nhất 3 lần (cách nhau 1 tuần). Nếu dùng thuốc hạ áp, không được dùng loại quá mạnh cho bệnh nhân mới được phát hiện.

Ngoài ra sau một thời gian sử dụng, đa số HA kế đều có sai lệch. Vì vậy, bạn nên chỉnh lại cho chính xác 3 tháng 1 lần.

BS. Bùi Nguyên Kiểm-suckhoedoisong

Dùng máy đo huyết áp điện tử như thế nào?

Sự ra đời của các loại huyết áp kế điện tử là một bước tiến mới cho việc theo dõi và điều trị các bệnh cao huyết áp, tim mạch tại gia đình và cho mỗi cá nhân. Với huyết áp kế điện tử, bệnh nhân hay người nhà bệnh nhân có thể theo dõi huyết áp theo yêu cầu của bác sĩ, biết phòng ngừa hay điều trị cấp thời những cơn cao huyết áp có thể dẫn đến tử vong.

Tuy nhiên, như chúng tôi biết loại huyết áp kế này chỉ sử dụng cho từng cá nhân, không nên sử dụng cho tập thể, và khi đo phải tuân thủ nghiêm ngặt những điều hướng dẫn của nhà sản xuất mới mong có kết quả chính xác.

Trước khi đo huyết áp, bệnh nhân nằm nghỉ trong một môi trường yên tĩnh 10-15 phút. Khi đo, huyết áp kế luôn luôn được đặt ngang ngực với tầm của trái tim và sử dụng tay trái. Những bệnh nhân có bất thường về huyết áp ở hai tay phải và trái như trong bệnh hẹp eo động mạch chủ ngực hay bệnh hẹp động mạch chủ từng đoạn Takayasu thì không nên sử dụng loại huyết áp kế này, mà nên đến đo ở một cơ sở y tế. Chỗ đánh dấu có micro nhỏ phải đặt đúng vị trí của đường đi động mạch như động mạch cánh tay ở khuỷu, động mạch quay ở cổ tay. Trong thời gian đo, tay bệnh nhân thả lỏng hoàn toàn, không được gồng hay nâng lên hạ xuống.

Trong khi đo, nếu máy đo huyết áp báo lỗi hay huyết áp bị nghi ngờ là không chính xác chỉ được đo lại sau 15 phút. Khi có những bất thường về huyết áp, nên gọi điện thoại cho bác sĩ gia đình hay bác sĩ quen của bạn để được tư vấn. Không tùy tiện sử dụng các loại thuốc hạ huyết áp, nhất là các loại thuốc hạ huyết áp có tác dụng nhanh như Nefedipin dạng ngậm, đặc biệt là việc nhỏ ba giọt vào lưỡi như một số nhân viên y tế thường làm là một loại sai lầm rất hay gặp đối với nhiều bệnh nhân cao huyết áp và bệnh tim mạch. Việc hạ huyết áp quá nhanh có thể gây đột tử ở những bệnh nhân có nguy cơ nhồi máu cơ tim hay có thiểu năng tuần hoàn não.

Do vậy, khi mua máy đo huyết áp điện tử, chúng ta cần xác định mục đích sử dụng máy đo huyết áp dùng cho cá nhân hay trong các phòng khám bệnh. Vì nếu chỉ dùng cho cá nhân thì chỉ sử dụng loại máy đo huyết áp ở cổ tay là được. Các loại máy này có ưu điểm là rẻ tiền, dễ sử dụng. Tuy nhiên khó có thể nói nó chính xác đến bao nhiêu!

Trước khi sử dụng, đọc kỹ hướng dẫn của nhà sản xuất. Đưa huyết áp kế điện tử đến bác sĩ gia đình của bạn nhờ thử, hướng dẫn cách đo và chỉnh những sai số so với phương pháp đo huyết áp truyền thống do bác sĩ trực tiếp thực hiện.

Khi mua máy đo huyết áp, chọn những nhãn hiệu quen thuộc, nổi tiếng và có cơ sở bảo hành trong nước.

(PGS.TS NGUYỄN HOÀI NAM - TTO)

Trẻ nhỏ tăng huyết áp vì khói thuốc


Kết quả nghiên cứu khoa học vừa đăng trên Tạp chí của Hiệp hội Tim mạch của Mỹ cho thấy, thói quen hút thuốc lá gần trẻ nhỏ có thể làm gia tăng huyết áp ở trẻ.

Tiến sĩ Giacomo D. Simonetti và các đồng nghiệp thuộc ĐH Berne (Thụy Sĩ) đã tiến hành kiểm tra sức khỏe 4.236 trẻ mẫu giáo với độ tuổi trung bình là 6 tuổi ở Đức.

Trong số những bậc phụ huynh có thói quen hút thuốc lá của số trẻ nói trên, có 28,5% là các ông bố, 20,7% là các bà mẹ và 11,9% là cả 2 bố mẹ.

Kết quả cho thấy 21% trẻ nhỏ có bố mẹ hút thuốc có nguy cơ mắc chứng huyết áp tâm thu so với những trẻ có bố mẹ không hút thuốc. Kết quả này đo được sau khi đã điều chỉnh các nhân tố nguy cơ tim mạch khác.

danviet

Tỏi: "Thần dược" đối với bệnh nhân cao huyết áp


Kết quả nghiên cứu mới công bố trên tạp chí khoa học Maturitas của Australia cho thấy tỏi chính là "vũ khí" thực sự hiệu quả chống lại bệnh huyết áp cao.

Các nhà khoa học thuộc trường Đại học Adelaid, Australia, đã tiến hành nghiên cứu đối với 50 bệnh nhân huyết áp cao trong khoảng thời gian 12 tuần.

Kết quả cho thấy huyết áp của những người uống bốn viên thuốc bổ chiết xuất từ tỏi mỗi ngày thấp hơn khoảng 10mmHg so với những người điều trị bằng các loại thuốc trị huyết áp thông thường.

Tuy nhiên, Chủ nhiệm công trình nghiên cứu trên, giáo sư Karen Reid cho biết sử dụng tỏi bằng bất kỳ cách nào, kể cả tỏi tươi chưa qua chế biến hoặc tỏi được sản xuất dưới dạng bột lại không cho tác dụng tương tự. Đó là do khi chế biến, những thành phần có trong tỏi mà tốt cho việc giảm huyết áp sẽ bị mất đi. Do vậy, thuốc bổ chiết xuất từ tỏi mới chính là liệu pháp hiệu quả nhất đối với bệnh nhân mắc bệnh cao huyết áp.

Từ hàng thế kỷ nay, tỏi đã được cho là rất tốt cho sức khỏe tim mạch và được dùng để ngăn ngừa chứng cao huyết áp. Huyết áp cao là "thủ phạm" chính dẫn đến các căn bệnh như tim mạch, suy thận, đột quỵ... Hiện trên thế giới có khoảng 1 tỷ người mắc bệnh cao huyết áp./.

Viemnam+

Nhóm thuốc ức chế men chuyển dạng angiotensin


Thuốc ức chế men chuyển dạng angiotensin-converting (thuốc ƯCMC) lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1977 không chỉ là hòn đá tảng điều trị suy tim mà còn nhanh chóng đóng vai trò quan trọng trong điều trị tăng huyết áp và bảo vệ tim mạch.

Cơ chế tác dụng của men chuyển là ức chế sự chuyển đổi từ angiotensin I sang angiotensin II hoạt hoá (gây ra sự co mạch mạnh và làm tăng sản phẩm aldosterone giữ muối và nước). Men chuyển dạng này không chỉ chuyển angiotensin-I sang angiotensin II mà còn làm bất hoạt bradikinin. Vì thế, thuốc ƯCMC làm giảm hoạt động của hệ thần kinh giao cảm gây giãn mạch làm giảm huyết áp. Ngoài hiệu quả giãn mạch, tác dụng hạ áp của ƯCMC còn thông qua các hoạt tính sau:

- Giảm tiết aldosterone, do đó tăng bài tiết natri.

- Tăng hoạt 11b-hydroxysteroid dehydrogenase, do đó bài tiết natri.

- Giảm tăng hoạt tính giao cảm khi giãn mạch, do đó ƯCMC dù làm giãn mạch nhưng tần số tim không tăng.

- Giảm tiết endothelin (chất co mạch từ nội mạc).

- Cải thiện chức năng nội mạc, chống tái cấu trúc và chết tế bào theo chương trình.
Các buồng tim ở bệnh nhân suy tim bị giãn rộng.

Các hoạt tính nêu trên giúp ƯCMC có hiệu quả giảm độ cứng của động mạch, đặc biệt là động mạch chủ do đó tăng tính giãn (compliance) của động mạch... Nhờ đó giúp giảm phì đại cơ tim và phì đại thành mạch. Ngoài hiệu quả trên mạch máu, ƯCMC còn giảm sợi hoá cơ tim, giảm phì đại thất trái, tăng lưu lượng máu động mạch vành và có tác dụng bảo vệ thận trên bệnh nhân đái tháo đường và bệnh nhân có protein niệu do bệnh thận.

Chỉ định điều trị tăng huyết áp của nhóm thuốc ƯCMC theo khuyến cáo JNC7 cho thấy, thuốc có thể sử dụng đơn trị liệu hoặc phối hợp với các thuốc khác như: lợi tiểu, chẹn kênh canxi, chẹn alpha giao cảm... Thuốc ƯCMC được xem như thuốc lựa chọn đầu tiên điều trị tăng huyết áp nguyên phát, đặc biệt tăng huyết áp có đái tháo đường. Ngoài ra ƯCMC còn là thuốc được lựa chọn hàng đầu trong trường hợp tăng huyết áp có suy tim, sau nhồi máu cơ tim, nguy cơ động mạch vành cao, đái tháo đường týp II, bệnh thận mạn và sau đột qụy.

Các đặc tính không mong muốn của ƯCMC bao gồm:

- Tăng kali máu qua đặc tính giảm tiết aldosterone của thuốc. Nguy cơ cao hơn ở bệnh nhân có bệnh thận hoặc phối hợp ƯCMC với lợi tiểu giữ kali.

- Giúp giảm đường huyết qua đặc tính tăng nhạy cảm với insulin của thuốc.

- Tương tác với erythropoietin, ƯCMC có thể ngăn cản một phần hoạt tính của erythropoietin gây thiếu máu.

- Suy giảm chức năng thận: xảy ra ở bệnh nhân hẹp động mạch thận hai bên hoặc hẹp động mạch thận trên bệnh nhân có một thận độc nhất. Trên bệnh nhân suy thận chỉ khi creatinin máu tăng trên 35% khi sử dụng ƯCMC điều trị tăng huyết áp mới cần ngừng ƯCMC.

- Ho: Đặc điểm của nó là ho khan từng cơn thường vào buổi đêm kèm cảm giác ngứa ở cổ họng. Đây là tác dụng không mong muốn thường gặp nhất của thuốc ƯCMC có tần suất thay đổi từ 5 - 12,3%. Khi gặp trường hợp này, giảm liều ƯCMC hoặc thay bằng nhóm thuốc chẹn thụ thể angiotensin (AT1) hoặc ngừng hẳn ƯCMC sẽ hết ho sau vài tuần lễ.

- Dị ứng kiểu phù mạch hoặc số phản vệ rất hiếm nhưng cũng có thể xảy ra cần ngừng thuốc và xử trí cấp cứu.

- Rối loạn vị giác thường ít gây hậu quả và không cần ngừng ƯCMC.

- Giảm bạch cầu chỉ xảy ra ở bệnh nhân suy thận sử dụng ƯCMC, đặc biệt thường gặp ở bệnh nhân có giảm miễn dịch hoặc dùng kèm thuốc giảm miễn dịch.

- Không được dùng ƯCMC trên phụ nữ có thai do nguy cơ tử vong, dị tật thai nhi.

Chương trình phòng chống Tăng huyết áp quốc gia - Viện Tim mạch Việt Nam

TS. Đỗ Quốc Hùng - suckhoedoisong

Phát hiện và xử trí cơn tăng huyết áp cấp tính

Tăng huyết áp (THA) là một bệnh rất thường gặp và ngày nay đã trở thành một vấn đề xã hội. Theo thống kê ở Việt Nam những năm cuối thập kỷ 80, tỷ lệ người lớn bị THA là 11% và theo điều tra năm 2008 của Viện Tim mạch Quốc gia tại 8 tỉnh/thành phố trên cả nước, tỷ lệ này là 25,1%. THA có thể gây nguy hiểm ngay cho bệnh nhân nhưng cũng có thể âm thầm ảnh hưởng đến các cơ quan đích như tim, não, thận, mắt, gây ra những di chứng nặng nề ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) gọi là THA khi huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140mmHg và hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90mmHg.

THA cấp cứu là tình huống THA kèm theo các biến chứng nặng cần phải hạ huyết áp xuống tức thì để tránh tổn thương các cơ quan đích, thường huyết áp trên 200/100mmHg. Các tình huống thường gặp trong THA cấp cứu:

1. Bệnh não do THA.

2. THA và nhồi máu cơ tim.

3. THA và đau ngực không ổn định.

4. THA kèm tách thành động mạch chủ.

5. Suy tim trái cấp do THA.

6. THA kèm xuất huyết dưới nhện và xuất huyết não.

7. Cơn THA trong u tủy thượng thận.

8. THA do dùng các thuốc kích thích (cocain, amphetamin...)

9. THA quanh phẫu thuật.

10. THA trong tình trạng sản giật và tiền sản giật.

Nguyên tắc xử trí cơn THA cấp cứu

- Xử trí khẩn trương, theo dõi sát. Bệnh nhân phải được nhập viện và theo dõi tại bệnh viện có chuyên khoa tim mạch và cấp cứu.

- Dùng các thuốc hạ huyết áp đường truyền tĩnh mạch. Việc lựa chọn thuốc cụ thể tùy từng trường hợp có liên quan đến các bệnh kèm theo và các tổn thương cơ quan đích của bệnh nhân, theo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa.

- Mức độ hạ huyết áp tùy từng trường hợp cụ thể.

Các thuốc điều trị THA đường tĩnh mạch

Trong các trường hợp THA cấp cứu, cần được điều trị giảm huyết áp nhanh chóng, nhưng không cần trở về bình thường ngay, nhất là ở những bệnh nhân bị tai biến mạch não kèm theo. Trường hợp bệnh nhân bị tách thành động mạch chủ cần đưa huyết áp xuống mức thấp nhất có thể. Sau khi qua cơn THA cấp cứu, bệnh nhân cần tiếp tục theo dõi và điều trị THA và các yếu tố nguy cơ. Sau khi đã qua cơn THA cấp tính, bệnh nhân cần được đánh giá lại tình trạng toàn thân, các tổn thương cơ quan đích và các yếu tố nguy cơ kèm theo để được theo dõi, tư vấn và điều trị lâu dài, tránh các biến chứng.

Tổn thương các cơ quan đích có thể gặp trong THA.

1. Tim.

- Cấp: phù phổi cấp, NMCT cấp.

- Mạn: dày thất trái, suy vành mạn, suy tim...

2. Mạch não:

- Cấp: tai biến mạch não, bệnh não do THA...

- Mạn: tai biến mạch não, tai biến mạch não thoáng qua.

3. Thận:

- Đái máu, đái ra protein, suy thận.

4. Đáy mắt:

- Phù, xuất huyết, xuất tiết, mạch co nhỏ...

5. Bệnh động mạch ngoại vi: tắc động mạch chi, tắc động mạch cảnh...

Như vậy, THA là một bệnh lý khá phổ biến, nếu không được theo dõi điều trị tốt có khá nhiều biến chứng làm ảnh hưởng đến tính mạng và sức khỏe sau này của bệnh nhân. Một trong những tình trạng đó là cơn THA cấp tính. Khi xảy ra cơn THA cấp tính, bệnh nhân cần được nhập viện cấp cứu và được theo dõi, điều trị tại bệnh khoa chuyên ngành tim mạch. Sau khi đã qua tình trạng cấp cứu bệnh nhân vẫn cần được theo dõi, điều trị lâu dài và cần được tư vấn, giáo dục để đề phòng các biến chứng sau này.

Chương trình mục tiêu Quốc gia Phòng, chống tăng huyết áp

ThS. Đỗ Kim Bảng (Viện Tim mạch Quốc gia) - suckhoedoisong

Chế độ dinh dưỡng cho người cao huyết áp


Khi bị cao huyết áp (HA), ngoài thuốc, việc lựa chọn và duy trì một chế độ ăn khôn ngoan và thích hợp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, bên cạnh vấn đề tuân thủ những nguyên tắc chung như: ăn nhạt, hạn chế mỡ động vật, kiêng các chất kích thích… người bệnh nhiều khi tỏ ra lúng túng khi chọn dùng các đồ ăn thức uống hàng ngày để được một chế độ dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe.

Cần tây: dùng loại càng tươi càng ốt, rửa thật sạch, giã nát rồi ép lấy nước (nếu có máy ép thì càng tốt). Chế thêm một chút mật ong, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 40ml. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, nước ép cần tây có tác dụng làm giãn mạch, lợi niệu và hạ HA.

Cải cúc: là loại rau thông dụng, có hương thơm đặc biệt, chứa nhiều acid amin và tinh dầu, có tác dụng làm thanh sáng đầu óc và hạ HA. Bạn nên dùng làm rau ăn hàng ngày hoặc ép lấy nước cốt uống, mỗi ngày chừng 50ml, chia 2 lần sáng, chiều. Đặc biệt, cải cúc thích hợp với những người bị cao HA có kèm theo đau và nặng đầu.

Rau muống: chứa nhiều canxi, rất có lợi cho việc duy trì áp lực thẩm thấu của thành mạch và HA trong giới hạn bình thường, là thứ rau đặc biệt thích hợp cho những người bị cao HA có kèm theo triệu chứng đau đầu.

Cà chua: có công dụng thanh nhiệt giải độc, lương huyết bình can và hạ HA. Nó là thực phẩm rất giàu vitamin C và P, nếu ăn thường xuyên mỗi ngày 1- 2 quả cà chua sống sẽ có khả năng phòng chống cao HA rất tốt, đặc biệt là khi có biến chứng xuất huyết đáy mắt.

Cà tím: là thực phẩm rất giàu vitamin P, giúp cho thành mạch máu được mềm mại, dự phòng tích cực tình trạng rối loạn vi tuần hoàn hay gặp ở những người bị cao HA và các bệnh lý tim mạch khác.

Cà rốt: có tác dụng làm mềm thành mạch, điều chỉnh rối loạn lipid máu và ổn định HA. Nên dùng dạng tươi, rửa sạch, ép lấy nước uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần chừng 50ml. Đây là thứ nước giải khát đặc biệt tốt cho những người bị cao HA có kèm theo tình trạng đau đầu, chóng mặt.

Hành tây: trong thành phần không chứa chất béo, có khả năng làm giảm sức cản ngoại vi, đối kháng với tác dụng làm tăng HA của catecholamine, duy trì sự ổn định của quá trình bài tiết muối natri trong cơ thể nên làm giảm HA. Ngoài ra, vỏ hành tây còn chứa nhiều rutin rất có lợi cho việc làm vững bền thành mạch, dự phòng tai biến xuất huyết não.

Nấm hương và nấm rơm: là những thực phẩm giàu chất dinh dưỡng nhưng lại có khả năng phòng chống xơ vữa động mạch và hạ HA, rất thích hợp cho những người bị cao HA vào mùa hè - thu.

Mộc nhĩ: mộc nhĩ đen hay mộc nhĩ trắng đều là những thực phẩm rất có lợi cho người bị cao HA. Hàng ngày, bạn có thể dùng mộc nhĩ trắng 10g hoặc mộc nhĩ đen 6g, đem nấu nhừ rồi chế thêm 10g đường phèn ăn trong ngày. Khi có biến chứng xuất huyết đáy mắt thì đây là loại thức ăn lý tưởng.

Tỏi: có công dụng hạ mỡ máu và hạ HA. Hàng ngày nếu kiên trì ăn đều đặn 2 tép tỏi sống hoặc đã ngâm giấm, hay uống 5ml giấm ngâm tỏi thì có thể duy trì HA ổn định ở mức bình thường.

Đậu Hà Lan và đậu xanh: là hai loại thực phẩm rất có lợi cho người bị cao HA. Hàng ngày bạn nên dùng một nắm giá đậu Hà Lan, rửa sạch rồi ép lấy nước uống hoặc dùng làm rau ăn thường xuyên. Kinh nghiệm dân gian thường dùng đậu xanh hầm với hải đới hoặc đậu xanh và vừng đen sao thơm, tán bột ăn mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 50g để phòng chống cao HA.

Sữa đậu nành: là đồ uống lý tưởng cho người bị cao HA, có công dụng phòng chống xơ vữa động mạch, điều chỉnh rối loạn lipid máu và hạ HA. Mỗi ngày, bạn nên dùng 1.000ml sữa đậu nành pha với 100g đường trắng, chia uống vài lần trong ngày.

Táo: là loại táo to nhập từ Trung Quốc và các nước châu Âu, chứa nhiều kali có thể kết hợp với lượng natri dư thừa để đào thải ra bên ngoài, giúp cho cơ thể duy trì HA ở mức bình thường. Mỗi ngày, bạn nên ăn 3 quả hoặc ép lấy nước uống 3 lần, mỗi lần chừng 50ml.

Ngoài ra, việc ăn thêm lê, chuối tiêu, dưa hấu, dưa chuột, nho, mã thầy, vừng, hạt sen, ngó sen, củ cải, đậu tương, cải xanh, bắp cải, dầu thực vật, trà tâm sen... đều rất tốt cho những người bị cao HA. Người HA cao nên hạn chế dùng một số thực phẩm như: lòng đỏ trứng, não, gan, thịt dê, thận lợn, mỡ động vật, rượu trắng, dưa hoặc cà muối mặn, thuốc lá, cà phê, trà đặc, hạt tiêu, ớt, gừng...

BS. NGỌC ANH - skđs

Sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp an toàn và hợp lý


Tại sao phải điều trị tăng huyết áp? Huyết áp cao thường gây ra các tai biến nghiêm trọng như tử vong và hôn mê do tai biến mạch máu não, di chứng liệt nửa người, suy tim, thiếu máu cơ tim, suy thận, phình bóc tách động mạch chủ... Do đó mục đích chính của điều trị tăng huyết áp là để phòng ngừa những biến chứng này.

Hiện nay có trên 80 thuốc đang được sử dụng. Cơ chế tác dụng của các thuốc điều trị tăng huyết áp theo nhiều cơ chế khác nhau. Thuốc có thể làm thay đổi sức cản ngoại vi toàn phần, thể tích tống máu, nhịp tim hoặc cung lượng tim; tất cả đều dẫn tới hạ huyết áp. Những thay đổi tim mạch này là do tác động dược lý của thuốc bao gồm thay đổi trao đổi ion natri ở cơ trơn mạch máu (thí dụ: các thuốc lợi tiểu); ức chế men chuyển angiotesin (ACE), ức chế thụ thể AT1, hoặc giảm hoạt động giao cảm (thí dụ: các chất chẹn alpha, chẹn bêta và các chất đối kháng alpha trên hệ thần kinh trung ương), chẹn kênh canxi.

Các nhóm thuốc điều trị THA hiện nay bao gồm:

Lợi tiểu: lợi tiểu thiazide, lợi tiểu giống thiazide, lợi tiểu quai, lợi tiểu giữ kali.

Ức chế bêta adrenergic: propranolol, atenolol, metoprolol, bisoprolol, carvedilol...

Chống tăng huyết áp giãn mạch: hydralazine, minoxidil...

Chống tăng huyết áp tác dụng thần kinh trung ương: clonidine, methyldopa...

Ức chế thụ thể anpha adrenergic: doxazosin, prazosin, terazosin...

Ức chế men chuyển: captopril, enalapril, imidapril, lisinopril, perindopril, ramipril...

Ức chế thụ thể angiotensin II: irbesartan, losartan, telmisartan, valsartan...

Chẹn kênh canxi: verapamil, diltiazem, nifedipine, amlodipine, felodipine, lacipine...

Trong sử dụng thuốc điều trị THA cần cân nhắc vài yếu tố trước khi điều trị như: mức độ THA, có hay không tổn thương cơ quan đích, có hay không biểu hiện lâm sàng bệnh tim và những yếu tố nguy cơ khác.

Hiệu quả của thuốc điều trị: Hạ huyết áp bằng thuốc làm giảm rõ bệnh suất và tử suất do tim mạch. Hiệu quả bảo vệ rõ rệt đối với tai biến mạch máu não, bệnh mạch vành, suy tim, tiến triển bệnh thận, tiến triển đến THA nặng hơn.
Biến chứng nhồi máu cơ tim do tăng huyết áp.

Những cân nhắc khi điều trị bằng thuốc

Hầu hết bệnh nhân nên dùng liều thấp lúc khởi đầu, tăng lên dần phụ thuộc vào tuổi, nhu cầu và đáp ứng với thuốc. Phác đồ tối ưu là dùng liều duy nhất có hiệu quả 24 giờ, ít nhất 50% hiệu quả tối đa giữ được đến cuối của 24 giờ. Thuốc tác dụng dài 24 giờ tốt hơn loại tác dụng ngắn vì nhiều lý do sau: Bệnh nhân tuân thủ tốt hơn với liều duy nhất trong ngày, sử dụng thuốc có hiệu quả hơn thì ít tốn kém hơn. Phác đồ gần đây cung cấp nhiều cách chọn lựa thuốc. Ví dụ, kết hợp 2 thuốc liều thấp làm tăng tác dụng hạ áp và làm giảm tác dụng ngoại ý do liều cao, kết hợp liều thấp thuốc ức chế men chuyển với một thuốc chẹn kênh calci không thuộc nhóm dihydropyridine làm giảm đạm niệu nhiều hơn dùng đơn độc. Kết hợp giữa thuốc chẹn kênh calci nhóm dihydropyridine và thuốc ức chế men chuyển ít gây phù mắt cá hơn dùng thuốc đối kháng calci đơn độc. Thuốc ức chế men chuyển đã được chứng minh có hiệu quả trong nhiều vấn đề liên quan đến THA gồm suy tim tâm thu và bệnh thận. Thuốc ức chế thụ thể Angiotensin II được giới thiệu gần đây có hiệu quả huyết động học tương tự thuốc ức chế men chuyển nhưng tránh được hầu hết tác dụng phụ thông thường như ho khan.

Vài thuốc chống THA - như thuốc giãn mạch trực tiếp, thuốc ức chế alpha 2 trung ương và thuốc đối kháng giao cảm ngoại biên - không phù hợp với điều trị đơn độc lúc khởi đầu do có nhiều tác dụng phụ. Thuốc giãn mạch trực tiếp (ví dụ hydralazine, minoxidil) thường gây phản xạ kích thích giao cảm và ứ dịch. Nifedipine tác dụng nhanh gây tai biến mạch vành và liều cao có thể làm tăng tử suất do mạch vành. Do đó thuốc này nên rất thận trọng khi dùng.

Những cân nhắc đặc biệt

Cân nhắc đặc biệt trong việc chọn lựa điều trị khởi đầu gồm đặc tính như bệnh cùng xảy ra có thể bị ảnh hưởng xấu khi điều trị thuốc chống THA, chất lượng cuộc sống, giá cả có ý nghĩa đặc biệt với những bệnh nhân nghèo và tương tác với thuốc khác đang sử dụng cùng lúc. Khi chọn một thuốc có lợi cho nhiều bệnh cùng lúc.

Chương trình Phòng chống tăng huyết áp - Viện Tim mạch Việt Nam

TS.BS. Phạm Quốc Khánh - skgđ

Điều trị tăng huyết áp có kiểm soát: Rất lợi cho người bệnh

Cách tiến hành cụ thể:

1. Nhận bệnh nhân

1. Khám chẩn đoán xác định bệnh, làm hồ sơ bệnh án.

2. Hướng dẫn giải thích giáo dục sức khỏe trực tiếp cho người người bệnh hiểu và tự giác thực hiện.

3. Phổ biến các quy định cụ thể cho người bệnh như khám bệnh, điều trị bao gồm thuốc, thay đổi lối sống..., hướng dẫn cách tự theo dõi bệnh ở nhà, cách liên hệ với thầy thuốc...

4. Bệnh nhân khi đã có nhận thức về điều trị cần có cam kết cụ thể.

2. Quản lý, theo dõi bệnh nhân.

Mỗi bệnh nhân cần có hồ sơ bệnh án được theo dõi lâu dài và một sổ để bệnh nhân tự theo dõi ở nhà. Mỗi lần khám bệnh, bác sĩ cần ghi nhận xét đầy đủ và các chỉ định hướng dẫn điều trị vào cả hai sổ này. Bệnh nhân có thể ghi những biểu hiện về sức khỏe, số đo huyết áp, nhịp tim và các dấu hiệu khác thường của họ theo thời gian vào sổ tự theo dõi, mỗi lần đến khám lại bác sĩ có thể biết được diễn biến của người bệnh.

Xây dựng mẫu về thời gian thực hiện các xét nghiệm thăm dò đánh giá người bệnh (hàng năm kiểm tra tối thiểu 1 lần).
GS. Nguyễn Lân Việt hướng dẫn cách thăm khám người bệnh.

Giai đoạn đầu khi chưa xác định được liều thuốc phù hợp, người bệnh cần được theo dõi hàng tháng. Khi đã xác định liều thuốc phù hợp thì tùy vào mức độ nguy cơ tim mạch để đưa ra thời gian khám lại cho phù hợp.

Cần có biện pháp để biết được ngày hẹn khám lại của bệnh nhân và có biện pháp nhắc nhở (điện thoại, gửi thư) khi người bệnh quên khám lại.

Cần kiểm tra việc dùng thuốc hàng ngày của bệnh nhân bằng nhiều hình thức như kiểm tra vỏ vỉ thuốc, ghi chép của người bệnh trong sổ tự theo dõi...

Cần đánh giá hiệu quả điều trị:

Huyết áp mục tiêu.

Các yếu tố nguy cơ đi kèm.

Các tác dụng không mong muốn.

Giá thành và khả năng thực hiện của người bệnh.

Một số kết quả ban đầu:

Tỷ lệ bệnh nhân được theo dõi điều trị lâu dài: có từ 60% - 80% số bệnh nhân (tùy từng đơn vị) bị tăng huyết áp đã được quản lý điều trị lâu dài.

Số bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu: có từ >50% - 74% số bệnh nhân (tùy từng đơn vị) được quản lý điều trị đạt được huyết áp mục tiêu.

Tỷ lệ tử vong và biến cố tim mạch giảm...

Những khó khăn, thuận lợi khi thực hiện quản lý điều trị bệnh tăng huyết áp ngoại trú tập trung.

Số bệnh nhân chỉ điều trị trong thời gian ngắn rồi bỏ: 20% - 40%.

Một số tự động thay đổi đơn thuốc hay quên uống thuốc.

Một số không đến khám kiểm tra theo hẹn.

Một số khuyến cáo:

Nên có những đơn vị để quản lý điều trị bệnh tăng huyết áp ở cơ sở y tế cho những người bệnh tăng huyết áp thuận tiện tham gia. Tùy điều kiện thực tế mà đưa ra mô hình cụ thể.

Mục đích của đơn vị quản lý điều trị tăng huyết áp là kiểm soát, theo dõi và đánh giá kết quả điều trị lâu dài cho người bệnh nhằm nâng cao tỷ lệ đạt và duy trì huyết áp mục tiêu, giảm các yếu tố nguy cơ khác để làm giảm tỷ lệ biến cố và tử vong ở bệnh nhân tăng huyết áp.

Cần có nhiều hình thức tuyên truyền, giáo dục sức khỏe như giáo dục trực tiếp cho người bệnh, hay dưới hình thức câu lạc bộ bệnh nhân, gián tiếp qua các tài liệu, tờ rơi, các phương tiện truyền thông như truyền hình, báo, internet... để người bệnh tự giác tham gia việc điều trị bệnh cho chính họ một cách có hiệu quả nhất.

Một số mô hình quản lý điều trị THA có thể tham khảo: Đơn vị quản lý điều trị THA, Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Bạch mai, Hà Nội, đơn vị quản lý điều trị THA Bệnh viện đa khoa Bắc Giang, Bệnh viện đa khoa khu vực Phú Thọ.

Dự án Phòng chống bệnh tăng huyết áp - Viện Tim mạch VN - TS. Viên Văn Đoan- Trưởng khoa Khám bệnh - BV Mạch Mai

GS. Nguyễn Lân Việt - Làm thế nào để quản lý huyết áp mục tiêu?


Theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, tăng huyết áp (THA) ảnh hưởng đến sức khỏe của hơn 1 tỷ người trên toàn thế giới và là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất liên quan đến bệnh mạch vành, suy tim, bệnh mạch máu não và suy thận mạn tính. Với bệnh nhân THA, làm thế nào để kiểm soát được huyết áp mục tiêu, giảm biến chứng của bệnh? GS.TS. Nguyễn Lân Việt, Viện trưởng Viện Tim mạch Quốc gia, Chủ nhiệm Dự án Phòng chống bệnh THA đã có cuộc trao đổi với phóng viên (PV) báo SK&ĐS xung quanh vấn đề này.

PV: Xin GS cho biết về tình hình bệnh THA ở nước ta hiện nay. Đối với bệnh nhân THA thì hậu quả của việc không tuân thủ điều trị (uống thuốc thất thường) sẽ như thế nào?

GS. Nguyễn Lân Việt: Tại Việt Nam, tần suất THA ở người lớn ngày càng gia tăng. Trong những năm 1960, tỷ lệ THA là khoảng 1%, năm 1992 là 11,2%, năm 2001 là 16,3% và năm 2005 là 18,3%. Theo một điều tra gần đây nhất (2008) của Viện Tim mạch Việt Nam tiến hành ở người lớn ( từ 25 tuổi trở lên) trên toàn quốc cho thấy, tỷ lệ THA đã tăng lên đến 25,1%. Với dân số hiện nay của Việt Nam là khoảng 88 triệu dân thì ước tính sẽ có khoảng 11 triệu người bị THA.

Trong số những người bị THA có tới 52% (khoảng 5,7 triệu người) không biết mình có bị THA; 30% (khoảng 1,6 triệu người) biết bị THA nhưng không có một biện pháp điều trị nào; và 64% (khoảng 2,4 triệu người) THA đã được điều trị nhưng vẫn chưa đưa được huyết áp về số huyết áp mục tiêu. Như vậy hiện nay Việt Nam có khoảng 9,7 triệu người dân hoặc là không biết bị THA, hoặc là THA nhưng không được điều trị, hoặc có điều trị nhưng chưa đưa được huyết áp về mức bình thường.

THA nếu không được điều trị đúng và đầy đủ sẽ có rất nhiều biến chứng nặng nề, thậm chí có thể gây tử vong hoặc để lại các di chứng ảnh hưởng đến sức khỏe, sức lao động của người bệnh và trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Một số biến chứng chính của THA như: suy tim, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não, xuất huyết não, suy thận, giảm thị lực, mù lòa hoặc phình tách động mạch chủ... Theo một điều tra của Viện Tim mạch tại 4 tỉnh phía Bắc nước ta năm 2003 cho thấy, THA là nguyên nhân hàng đầu (10%) gây suy tim tại cộng đồng ở người lớn Việt Nam. 46% bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được điều trị tại Viện Tim mạch (2005) có liên quan với THA và hơn 1/3 bệnh nhân tai biến mạch máu não điều trị tại Khoa Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai (2003) có nguyên nhân là THA.

PV: Được biết Chương trình quốc gia về phòng chống THA đã được triển khai xuống cộng đồng. Vậy người bệnh được phát hiện, theo dõi và quản lý như thế nào

GS. Nguyễn Lân Việt: Tháng 12/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định đưa dự án phòng chống THA thành Chương trình mục tiêu quốc gia. Đến nay dự án bước đầu đã được triển khai tại 16 tỉnh/thành phố trong cả nước. Dự kiến đến năm 2011 sẽ triển khai trên phạm vi toàn quốc ở tất cả 63 tỉnh/thành phố. Tại mỗi tỉnh/thành phố sẽ có Ban Chủ nhiệm dự án trực thuộc Sở Y tế, có các đơn vị phòng chống THA tại các bệnh viện đa khoa tỉnh/thành phố hoặc bệnh viện đa khoa quận/huyện. Đơn vị trực tiếp thực hiện các hoạt động sàng lọc, điều trị và theo dõi những người dân bị THA là các trạm y tế xã/phường.

Một trong các hoạt động chính và quan trọng của chương trình là khám sàng lọc phát hiện sớm THA tại cộng đồng. Công tác khám sàng lọc này sẽ được triển khai tại các xã/phường tham gia trong dự án cho người dân từ 25 tuổi trở lên. Tại các đợt khám sàng lọc, người dân được phỏng vấn theo phiếu khám sàng lọc, điều tra về tiền sử bệnh tim mạch và các yếu tố nguy cơ tim mạch, được đo chiều cao, cân nặng để tính chỉ số khối cơ thể (BMI: Body Mass Index), được đo huyết áp, nhịp tim, được khám các biến chứng của THA (nếu có). Dựa vào phiếu sàng lọc, người dân sẽ được xác định có bị THA hay không, được lượng giá mức độ nguy cơ bị bệnh tim mạch, đánh giá các biến chứng của THA (nếu có) và xác định huyết áp mục tiêu cần đạt được khi bị THA . Hiện nay dự án đang làm việc với Vụ Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế để đưa hoạt động khám sàng lọc THA tại cộng đồng là một dịch vụ khám chữa bệnh được bảo hiểm y tế thanh toán.

Một hoạt động quan trọng khác của dự án là theo dõi, điều trị và quản lý người dân bị THA tại cộng đồng. Phần lớn người dân bị THA phát hiện qua khám sàng lọc hoặc đã được chẩn đoán trước đó sẽ được theo dõi, điều trị và quản lý tại trạm y tế xã/phường. Mỗi bệnh nhân sẽ có sổ khám chữa bệnh riêng, được khám và tư vấn và phát thuốc hạ huyết áp (nếu cần) định kỳ hằng tháng tại trạm y tế xã/phường.

Nhân viên y tế tại các trạm y tế sẽ được tập huấn về các biện pháp theo dõi, điều trị và quản lý bệnh nhân THA. Các trạm y tế sẽ được cung cấp các trang thiết bị, sổ sách khám chữa bệnh, các tài liệu tuyên truyền, thuốc hạ huyết áp... cho công tác quản lý THA như máy đo huyết áp, ống nghe, máy điện tim đồ, sổ khám chữa bệnh, sổ quản lý bệnh nhân, tờ rơi, áp-phích, pa-nô tuyên truyền, các sách và tài liệu chuyên môn về THA cho nhân viên y tế, cộng tác viên y tế...

Đối với những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị hoặc có biến chứng hoặc có tình trạng bệnh vượt quá khả năng quản lý tại tuyến xã/phường sẽ được chuyển đến các đơn vị phòng chống THA ở cấp cao hơn như tuyến quận/huyện hoặc tỉnh/thành phố hoặc Trung ương. Những bệnh nhân này sau khi đã được điều trị ổn định và kiểm soát được huyết áp và các yếu tố nguy cơ sẽ được gửi về trạm y tế xã/phường để tiếp tục theo dõi và quản lý bệnh lâu dài.

Dự án cũng đang làm việc với Vụ Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế để đưa hoạt động khám và cấp phát thuốc bảo hiểm về THA được thực hiện tại các trạm y tế xã/phường sẽ được bảo hiểm y tế thanh toán theo đúng quy định hiện hành.

PV:Đối với bệnh nhân THA ngoài việc dùng thuốc, việc điều chỉnh lối sống hằng ngày là rất quan trọng. GS có lời khuyên gì cho những bệnh nhân này?

GS. Nguyễn Lân Việt: Khi đã được chẩn đoán bị THA, người dân cần được theo dõi, điều trị đúng, đầy đủ và liên tục.

Nguyên tắc chung:

- THA là bệnh mạn tính nên cần theo dõi đều, điều trị đúng và đầy đủ hằng ngày, điều trị lâu dài; mục tiêu điều trị là đạt "huyết áp mục tiêu" và giảm tối đa "nguy cơ tim mạch"; "huyết áp mục tiêu" cần đạt là dưới 140/90mmHg và thấp hơn nữa nếu người bệnh vẫn dung nạp được. Nếu nguy cơ tim mạch từ cao đến rất cao thì huyết áp mục tiêu cần đạt là dưới 130/80mmHg. Khi điều trị đã đạt huyết áp mục tiêu, cần tiếp tục duy trì phác đồ điều trị lâu dài kèm theo việc theo dõi chặt chẽ, định kỳ để điều chỉnh kịp thời. Điều trị cần hết sức tích cực ở những bệnh nhân đã có tổn thương cơ quan đích. Không nên hạ huyết áp quá nhanh để tránh biến chứng thiếu máu ở các cơ quan đích, trừ tình huống cấp cứu.

Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống trong điều trị THA: các biện pháp này được áp dụng cho mọi bệnh nhân để ngăn ngừa tiến triển và giảm được số đo huyết áp, giảm số thuốc cần dùng. Đó là:

- Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng: Giảm mặn (dưới 6g muối hay 1 thìa cà phê muối mỗi ngày), tăng cường rau xanh, hoa quả tươi, hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và acid béo no.

- Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với BMI từ 18,5 đến 23kg/m2.

- Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90cm ở nam và dưới 80cm ở nữ.

- Hạn chế uống rượu, bia: số lượng ít hơn 3 cốc/ngày (nam), ít hơn 2 cốc/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc/tuần (nam), ít hơn 9 cốc/tuần (nữ): cốc tiêu chuẩn tương đương với 340ml bia hoặc 140ml rượu vang, hoặc 40ml rượu nặng.

- Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào.

- Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30-60 phút mỗi ngày.

- Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý.

- Tránh bị lạnh đột ngột.

SkĐs

Thuốc điều trị tăng huyết áp tác động lên hệ renin – angiotensin



Tăng huyết áp (THA) là một bệnh rất thường gặp và là vấn đề xã hội. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hiện nay, THA được xem là 1 trong 10 bệnh nguy hiểm ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ nhân loại. Việc điều trị không đúng bệnh THA sẽ gây ra nhiều tai biến...

Ở các nước phát triển, tỷ lệ THA ở người lớn là khoảng gần 30% và có trên một nửa dân số trên 50 tuổi có THA. Thực tế cũng đã cho thấy hậu quả của việc điều trị không đúng sẽ dẫn đến tình trạng huyết áp tăng cao đột ngột có thể làm tổn thương mạch máu não gây xuất huyết não, đột qụy, suy tim cấp, phù phổi cấp hay tình trạng huyết áp tăng vừa phải thường xuyên sẽ gây ra suy tim mạn, suy thận mạn, tổn thương ở đáy mắt. Qua đó chúng ta thấy hầu hết các biến chứng này đều nguy hiểm tính mạng hoặc để lại những di chứng nặng nề. Ngày nay đã có khá nhiều thay đổi trong quan niệm về THA, phương thức điều trị cũng như việc nâng cao ý thức cho bệnh nhân đã tác động đến tiên lượng của THA. Trong các thuốc điều trị THA thì thuốc tác động lên hệ renin - angiotensin là nhóm thuốc được nghiên cứu và áp dụng nhiều trong những năm gần đây.

Thuốc ức chế men chuyển

Gồm các thuốc captopril, enalapril, lisinipril, peridopril... Đây là những thuốc điều trị THA tốt, ít gây những tác dụng phụ trầm trọng, không ảnh hưởng đến nhịp tim và sức co bóp cơ tim, không gây những rối loạn về mỡ máu hay đường máu khi dùng kéo dài. Thuốc đặc biệt có giá trị ở những bệnh nhân có kèm theo suy tim.

Cơ chế tác dụng: Ức chế men chuyển từ angiotensin I thành angiotensin II, do đó làm giãn mạch, giảm tiết aldosteron gây hạ huyết áp. Nó còn ức chế con đường chuyển hóa của bradykinin làm chất này ứ đọng cũng gây ra giãn mạch hạ huyết áp.

Đặc điểm của thuốc: Không gây rối loạn mỡ máu, đường máu, acid uric khi dùng kéo dài.

Tác dụng phụ: Tác dụng khó chịu hay gặp của thuốc ức chế men chuyển là gây ho khan, nhiều khi phải cho ngừng thuốc vì tác dụng phụ này. Vì thuốc gây giãn tiểu động mạch đi ở cầu thận nên có thể gây suy thận đột ngột do giảm dòng máu tới thận ở những bệnh nhân bị hẹp động mạch thận hai bên. Thuốc làm tăng kali máu nên thận trọng ở bệnh nhân suy thận, đang dùng thuốc lợi tiểu giữ kali, hoặc chế độ bồi phụ kali.

Tuyệt đối không dùng thuốc cho bệnh nhân có hẹp động mạch thận hai bên; không dùng ở phụ nữ có thai.

Các thuốc kháng thụ thể angiotensin

Nằm trong nhóm này gồm các thuốc losartan, valsartan, irbesartan, telmisartan... Đây là các thuốc khá mới trong điều trị THA và suy tim. Thuốc hoạt động với cơ chế là ức chế thụ thể AT1 - nơi tiếp nhận tác dụng của angiotensin II gây co mạch - do đó làm hạn chế tác dụng của angiotensin II, từ đó làm hạ huyết áp. Vì cơ chế vậy nên thường không gây ra ho như khi dùng thuốc ức chế men chuyển.

Các thuốc này có thể có tác dụng phụ như viêm phù mạch ngoại vi, dị ứng, ngứa... Tác động lên thận và kali máu ít hơn khi dùng ức chế men chuyển.

Thuốc ức chế renin

Renin là chất được tạo nên bởi thán khí thể tích máu hoặc lưu lượng máu qua thận bị giảm. Renin tham dự vào một giai đoạn của sự tạo thành angiotensin II có tính chất làm THA. Khi ta sử dụng thuốc hạ huyết áp là ức chế men chuyển, thuốc kháng thụ thể angiotensin do không ức chế hoàn toàn hệ thống renin - angiotesin - aldosterone nên sẽ tạo nên tác động ngược (feedback) gây phản ứng tăng renin trong huyết tương (plasma renin activity - PRA). Trong điều trị bằng ức chế men chuyển, tăng PRA làm tăng angiotensin I do đó phục hồi angiotensin II qua đường sinh học không tùy thuộc vào men chuyển. Trong điều trị bằng ức chế thụ thể angiotensin phản ứng tăng PRA làm tăng angiotensin I, II, IV làm đảo ngược tác dụng lợi tiểu natri và trương lực mạch máu.

Thuốc ức chế renin là thuốc mới được Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm (FDA) công nhận tháng 3/2007. Ngoài việc có tác dụng ức chế trực tiếp renin, thuốc ức chế cả angiotensin I và II do đó tránh được tác dụng phản hồi (feedback) nên hoạt tính renin không tăng. Do đó vừa hạ được huyết áp mà lại không gây tăng hoạt tính của renin.

Nằm trong nhóm này bao gồm các thuốc: aliskiren, tekturna, rasilez. Aliskiren phải uống mỗi ngày vào cùng thời gian. Một bữa ăn nhiều chất béo sẽ làm giảm hiệu ứng của thuốc. Phụ nữ mang thai phải ngừng uống thuốc vì thuốc có hại cho thai nhi.

Thuốc có thể gây phù, gây tăng kali máu, gây hạ huyết áp, tiêu chảy, dị ứng... Khi có dấu hiệu này phải ngừng thuốc ngay.

Bs. Trần Tất đạt - skđs

Phòng ngừa tăng huyết áp từ sớm

Tăng huyết áp (THA) đang trở thành một vấn đề thời sự vì sự gia tăng nhanh chóng của căn bệnh này trong cộng đồng. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã có khoảng trên 1,5 tỷ người trên thế giới bị tăng huyết áp, khoảng 17,5 triệu người trên thế giới bị tử vong do THA và các biến chứng tim mạch.

Giữa tháng 5 vừa qua, Hội Tim mạch VN đã tổ chức “Ngày Phòng chống tăng huyết áp thế giới” nhằm tuyên truyền và phổ biến kiến thức về căn bệnh này trong cộng đồng.

Để tìm hiểu và phòng ngừa bệnh tăng huyết áp, chúng tôi đã có buổi trao đổi với GS.TS Nguyễn Lân Việt - Viện trưởng Viện Tim mạch VN.

Xin GS.TS vui lòng cho biết tình hình bệnh tăng huyết áp hiện nay tại VN và đánh giá của riêng ông?

Ở Việt Nam, cách đây khoảng 50 năm chỉ có khoảng 1% người bị THA trong cộng đồng, nhưng đến thập kỷ 90 của thế kỷ trước tỷ lệ THA khoảng 12%. Đến năm 2003, tỷ lệ này tăng lên tới 16,3% và theo một điều tra gần đây nhất của Viện Tim mạch Quốc gia tại 8 tỉnh và thành phố thì tỷ lệ THA của những người từ 25 tuổi trở lên đã là 27,4%.

Đứng trước tình hình gia tăng nhanh chóng và những biến chứng nặng nề của bệnh Tăng huyết áp như vậy, ngày 19 tháng 12 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định phê duyệt chương trình phòng chống Tăng huyết áp trở thành Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2006 – 2010. Ban Điều hành quốc gia phòng chống Tăng huyết áp với nòng cốt là các cán bộ của Viện Tim mạch Việt Nam đã tích tham gia triển khai các hoạt động trong cộng đồng như truyền thông, giáo dục sức khoẻ, khám sàng lọc tăng huyết áp, xây dựng các mô hình phòng chống tăng huyết áp từ tuyến xã, phường tới tuyến trung ương. Với việc thiết lập hệ thống chăm sóc sức khoẻ kiểm soát tăng huyết áp như vậy cùng với sự nỗ lực của cả cộng đồng, hy vọng chúng ta có thể kiểm soát chủ động được THA và các yếu tố nguy cơ tim mạch.

Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ của THA là gì thưa GS.TS? Và có thể kiểm có thể kiểm soát được không?

Có một điều đáng lưu ý là có tới trên 90% trường hợp THA không rõ nguyên nhân (THA nguyên phát), chỉ có dưới 10% các trường hợp THA là có căn nguyên rõ ràng (THA thứ phát) bao gồm các nguyên nhân như: bệnh lý thận, tiết niệu, nội tiết, bệnh lý động mạch, ...

Các yếu tố nguy cơ của THA và các bệnh lý tim mạch không thể thay đổi được như: tuổi tác, giới tính, hoàn cảnh gia đình, chủng tộc,... Chẳng hạn, tuổi càng cao tỷ lệ tăng huyết áp càng gia tăng.

Bên cạnh đó, còn có các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được mà chúng ta đang nỗ lực kiểm soát và loại trừ nó trong cuộc sống bao gồm: béo phì, thừa cân, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường, hút thuốc lá, uống nhiều rượu bia, lối sống ít vận động, cuộc sống có quá nhiều căng thẳng (stress),...
Biến chứng của THA rất đa dạng, nhiều mức độ làm cho người bệnh trở nên tàn phế và thậm chí có thể tử vong với các biến chứng ở tim, não, mắt, thận và mạch máu, như: cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim, xuất huyết não, nhũn não, đái ra protein, phù, suy thận, mờ mắt, xuất huyết, xuất tiết, phình thành động mạch …

Tăng huyết áp là bệnh phải điều trị suốt đời, chi phí tốn kém, vậy GS.TS có lời khuyên gì để phòng ngừa?

Đúng vậy, THA là bệnh phải điều trị lâu dài và liên tục nhưng chi phí không quá tốn kém nếu đem so sánh với hậu quả nặng nề vì các biến chứng của nó gây ra. Đặc biệt, vấn đề điều trị phải kết hợp giữa một lối sống lành mạnh với thuốc điều trị phù hợp cũng như khả năng kinh tế của bệnh nhân. Chúng ta không nên nghĩ cứ thuốc đắt tiền mới có tác dụng điều trị tốt nhất. Việc cổ vũ lối sống lành mạnh và thay đổi những lối sống có hại cho mỗi cá nhân chính là “vũ khí” hữu ích hàng đầu trong cuộc chiến chống lại “kẻ thù thầm lặng này”.

Vậy các biện pháp cụ thể là gì thưa bác sĩ?

Những biện pháp cụ thể sau đây luôn là những lời khuyên có ích cho mỗi chúng ta trong việc phòng chống bệnh THA. Đó là giảm cân nặng (nếu thừa cân), hông hút thuốc lá, thuốc lào, không ăn nhiều chất béo bão hòa, ăn mặn, tập thể dục đều đặn, hạn chế uống rượu bia. Tránh các căng thẳng, lo âu, tự tạo cho mình một cuộc sống hài hòa, vui vẻ và kiểm tra số đo huyết áp, các yếu tố nguy cơ khác (rối loạn đường máu, lipid máu…) để có thể kiểm soát kịp thời.

Theo DT

Người cao huyết áp nên cười nhiều

Người cao huyết áp nên  cười nhiều

Theo GS.TS Nguyễn Lân Việt - Giám đốc BV Tim mạch Việt Nam, tăng huyết áp là bệnh lý có thể gây ra rất nhiều biến chứng khác nhau, làm cho người bệnh trở nên tàn phế, thậm chí có thể tử vong...

Và có thể gọi tăng huyết áp (THA) là căn bệnh "giết người thầm lặng". Ở Việt Nam, một nghiên cứu mới cho thấy, tỷ lệ THA trong cộng đồng lên đến 27% ở những người từ tuổi 25 trở lên.
Nếu không điều trị hoặc điều trị không đúng, THA có thể gây ra tổn thương các cơ quan đích như phì đại thất trái, đau thắt ngực hoặc nhồi máu cơ tim, suy tim; đột quỵ hay cơn thiếu máu não thoáng qua; bệnh thận mạn tính; bệnh mạch máu ngoại biên; bệnh võng mạc... Theo các bác sĩ chuyên khoa về bệnh THA, những người bị THA nên tập thể dục thường xuyên, đi bộ từ 30 - 45 phút trong ngày, ăn nhạt, hạn chế mỡ động vật và thức ăn chứa nhiều cholesterol, hạn chế rượu bia, không hút thuốc và nên có kế hoạch làm việc, nghỉ ngơi hợp lý. Cười đùa trong khi chơi cũng rất tốt cho người THA.

Theo Đàn ông