Hiển thị các bài đăng có nhãn Thể dục phòng bệnh tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thể dục phòng bệnh tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng

Tập luyện thể dục thể thao với người bệnh động mạch vành


Bệnh động mạch vành rất nguy hiểm và đặc biệt là rất dễ mắc khi ít vận động, hút thuốc lá và cao huyết áp. Khoảng 82% người tử vong vì bệnh mạch vành tim. Đó là một con số không nhỏ. Thế nhưng khi đã bị bệnh rồi, nếu biết tập thể thao một cách khoa học thì chắc chắn nguy cơ sẽ được đẩy lùi.

Bệnh tim mạch vành và thể thao

Bệnh tim mạch vành là tên gọi cho một số bệnh tim do mạch máu vành tim bị nghẽn đưa đến tình trạng cơ tim bị thiếu dưỡng khí. Các tên gọi khác của bệnh này là bệnh mạch vành, bệnh động mạch vành, bệnh tim do xơ vữa động mạch, bệnh tim thiếu máu cục bộ. Theo các nhà khoa học, những người mắc bệnh động mạch vành nên tham gia tập luyện TDTT.

Những môn thể thao thích hợp sẽ giúp tăng cường cung cấp dưỡng khí cho cơ tim, thúc đẩy cơ tim hình thành vòng tuần hoàn nhánh và tăng lượng huyết lưu của tuần hoàn nhánh, đồng thời, những bài tập phù hợp cũng giúp cơ tim giảm thiểu lượng dưỡng khí tiêu hao, tăng khả năng phản ứng của hệ thống tuần hoàn máu, giúp cải thiện quá trình thay thế chất béo, giảm thấp nồng độ cholesterol trong máu; làm bệnh nhân cảm thấy tinh thần sảng khoái, bớt chú ý đến bệnh tật, phát huy các nhân tố tích cực nội tại của người bệnh, từ đó giảm bớt hoặc giảm nhẹ nguy cơ đau tim.

Tập thể dục thể thao thường xuyên phòng tránh được nhiều bệnh
Tập thể thao một cách khoa học

Trước tiên, cần nắm vững tình trạng bệnh tật của chính mình. Những trường hợp mắc bệnh động mạch vành tim được phép tham gia hoạt động TDTT là: huyết áp tăng, điện tâm đồ có dấu hiệu nghi ngờ hoặc dương tính; Tiến hành điện tâm đồ vận động cho kết quả dương tính nhưng không cần thiết phải dùng thuốc ngừa đau tim; Bệnh đau tim đã bước đầu bị khống chế, không cần uống thuốc hoặc về cơ bản không dùng thuốc ngừa đau tim; Người bị nhồi máu cơ tim cấp tính đang trong giai đoạn hồi phục, bệnh tình đã ổn định và dần dần thuyên giảm. Những trường hợp nói trên có thể tập luyện với lượng vận động vừa phải và tiến hành theo chỉ dẫn của các bác sĩ.

Những bệnh nhân thể trạng yếu có thể tập các môn như đi bộ, chạy chậm, đi xe đạp, bơi... theo phương thức: cứ luyện tập 30 giây đến vài phút thì lại tạm nghỉ thời gian bằng hoặc dài gấp đôi khi tập, tiếp tục lặp đi lặp lại như vậy cho tới khi tổng thời gian tập luyện khoảng trên dưới 40 phút. Tiến hành như vậy cho đến khi thể lực được tăng cường mới lại kéo dài hơn thời gian tập luyện.

Bạn cần đảm bảo thực hiện tốt khâu khởi động và hồi tĩnh. Nếu chưa khởi động tốt đã tiến hành luyện tập với cường độ lớn sẽ dễ bị thiếu máu cơ tim dẫn đến đau tim. Cũng tương tự như vậy, nếu chưa hồi tĩnh đã dừng hoạt động đột ngột cũng làm tim khó thích nghi ngay, thậm chí gây ra những phản ứng xấu. Cần chú ý phản ứng của nhịp tim và huyết áp. Nên tiến hành đo nhịp tim và huyết áp trước mỗi lần vận động, trong khi tập luyện với lượng vận động cao nhất và 2 phút sau khi dừng tập (đếm mạch đập trong 15 giây rồi nhân với 4), lấy đó làm các chỉ tiêu để đánh giá lượng vận động với phản ứng của cơ thể.

Cần lên kế hoạch tập luyện và ghi chép nhật ký luyện, lượng vận động và cảm giác của chính mình... làm cơ sở điều chỉnh và tổng kết kinh nghiệm, để việc tập luyện phát huy hết tác dụng, giúp sức khỏe ngày càng được tăng cường.

Vận động thể lực ở người cao tuổi


Đi bộ là biện pháp tăng cường sức khoẻ tốt nhất với hệ tim mạch.

- Người cao tuổi thường thiếu oxy tiềm tàng vì chức năng hô hấp giảm, tổ chức phổi kém đàn hồi, khả năng vận chuyển oxy của hồng cầu hạn chế, là nguyên nhân hàng đầu làm giảm hoạt động của các cơ quan, tăng lão hóa cơ thể.

Đi bộ ngừa được loãng xương

Tập luyện hợp lý góp phần hạn chế những hậu quả của giảm vận động, tăng lưu thông máu, tăng cung cấp oxy cho tổ chức, phục hồi hoạt động của hệ xương, cơ, khớp...

Đi bộ là biện pháp tăng cường sức khoẻ tốt nhất với hệ tim mạch.

Hãy bắt đầu bằng các bài tập buổi sáng, bài tập dưỡng sinh tại các câu lạc bộ ngoài trời. Đi bộ là biện pháp tăng cường sức khoẻ tốt nhất với hệ tim mạch. Đi chậm dưới 70 bước/phút, áp dụng cho người yếu, người sau khi bị nhồi máu cơ tim đã hồi phục.

Đi bộ trung bình từ 71 - 90 bước/phút (khoảng 3 - 4km/giờ) áp dụng cho người có bệnh tim nhẹ. Đi bộ nhanh 91 - 110 bước/phút (4,5 - 5km/giờ) áp dụng cho người khoẻ mạnh.

GS Nguyễn Văn Chương

Lười vận động, người gầy cũng dễ mắc bệnh tim mạch

Thường xuyên luyện tập phòng tránh bệnh tim mạch.

Tỷ lệ cholesterol trong máu của nhóm người gầy không thường xuyên luyện tập có thể cao như những người béo và có nhiều nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Cholesterol là một chất béo rất cần thiết cho cơ thể con người với nhiều chức năng, vai trò quan trọng. Thiếu cholesterol chắc chắn cơ thể chúng ta không thể tồn tại và vận hành được. Thiếu và thừa cholesterol đều sẽ gây ra nhiều bệnh lý nguy hiểm.

Sự gia tăng cholesterol trong máu thường do một số nguyên nhân như: chế độ ăn không phù hợp, thức ăn có nhiều cholesterol là mỡ động vật, thịt có màu đỏ (thịt bò, thịt lợn), tôm, lòng lợn, lòng bò, óc, trứng, dầu dừa (là dầu thực vật nhưng lại có nhiều axit béo bão hòa); do di truyền, trong gia đình người có bệnh cholesterol máu cao thì cha mẹ, anh em cũng thường bị; do các bệnh về chuyển hoá như tiểu đường, rối loạn chuyển hoá lipid máu. Ngoài ra, một nguyên nhân khác là do thiếu vận động khiến năng lượng tích tụ lại thành mỡ, lượng cholesterol xấu tăng lên và cholesterol tốt hạ xuống.

Như vậy, ăn uống và vận động có ảnh hưởng rất lớn tới lượng cholesterol trong máu. Ở những người béo phì tỉ lệ cholesterol trong máu sẽ cao và nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch là rất lớn. Tuy nhiên, những người gầy nhưng không có thói quen vận động mặc dù không nhiều mỡ bằng người béo nhưng cholesterol trong máu cũng ở tỷ lệ cao. Nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở nhóm người này cũng cao như những người béo.

Do đó, để phòng bệnh tim mạch thì tăng cường vận động là cần thiết nếu không bệnh sẽ không loại trừ bất kì một ai, kể cả người gầy.

lđ

Cách đơn giản tiếp sức cho tim

Thực hiện theo một số chỉ dẫn đơn giản có thể giúp bạn bảo vệ được tim khỏe mạnh, hãng tin ANI dẫn lời Holly Andersen, một chuyên gia về tim mạch ở Bệnh viện Presbyterian (Mỹ).

Bước 1: Nắm rõ một số chỉ số cần thiết. Hàm lượng huyết áp, cholesterol và triglyceride là những con số quan trọng bạn cần phải biết trước khi tìm cách bảo vệ tim khỏe mạnh.

Bước 2: Đi bộ. Theo các chuyên gia, tập thể dục là suối nguồn của tuổi trẻ. Đi bộ 20-30 phút một vài ngày trong tuần có thể giúp giảm khoảng hơn 50% nguy cơ chết sớm.

Bước 3: Cười thật to. Quả không sai khi cho rằng một nụ cười bằng 10 thang thuốc bổ. Cười trong khoảng 15 phút đem lại lợi ích cho sức khỏe của quả tim tương đương 30 phút tập thể dục. Cười cũng được xem giúp cải thiện mạch máu, tăng lượng hormone lên não, giúp cải thiện tinh thần, đồng thời đẩy lùi cơn đau hoặc lo lắng.

Bước 4: Lưu ý vòng eo, vòng bụng, chứ không phải cân nặng. Vòng bụng, vòng eo là thước đo sức khỏe toàn cơ thể bạn tốt hơn cân nặng, vì lượng chất béo quanh bụng, eo trực tiếp liên quan tới huyết áp cao, hàm lượng cholesterol cao và có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.

Bước 5: Ngủ ngon và đủ giấc. Giấc ngủ là điều ít được mọi người xem trọng, song thật ra nó rất cần thiết cho sức khỏe của bạn. Thiếu ngủ sẽ khiến huyết áp tăng cao, khiến bạn dễ bị căng thẳng, và lúc nào cũng thấy thèm ăn. Đó là chưa kể thiếu ngủ còn làm chậm quá trình trao đổi chất, làm bạn mất tinh thần và thậm chí, giảm khả năng nhận thức của bạn.

Thanhnien

Sống vui sống khỏe nhờ khiêu vũ


Khiêu vũ có rất nhiều lợi ích cho sức khỏe, nhất là lợi ích cho tim mạch, xương khớp, tinh thần, cho cả thể chất và tâm hồn của con người.

Lợi ích cho tim mạch

Nhiều nghiên cứu cho thấy, động mạch của người khiêu vũ thường xuyên đàn hồi tốt hơn so với nhóm không vận động, nên họ tránh được xơ vữa động mạch. Họ có giấc ngủ ngon, thấy yêu đời, thích thú tham gia các sinh hoạt giải trí, làm việc nhẹ trong nhà cũng như quan hệ tình dục tốt hơn. Các chuyên gia cho rằng, ở người bị suy tim mạn tính, khiêu vũ có khả năng tạo ra những ích lợi sinh lý giống như với vận động thể hình.

Xương khớp chắc khỏe nhờ khiêu vũ

Ý kiến của chuyên gia khiêu vũ trị liệu Jane Wilson Cathcart là: “Phương thức trị liệu tốt nhất cho viêm xương khớp là cử động vì cử động nuôi dưỡng khớp. Khiêu vũ dìu ta vào những cử động mà ta nghĩ rằng không bao giờ thực hiện được”. Về cấu tạo giải phẫu, khớp có một đĩa sụn ở giữa để chịu đựng sức va chạm khi cử động, nhưng sụn không có mạch máu mà chỉ được nuôi dưỡng bằng chất dinh dưỡng của các mạch máu ở gần thấm vào khi khớp co duỗi. Khi khiêu vũ, xương khớp luôn luôn được vận động, nhờ đó sụn được nuôi dưỡng tốt hơn.

Lợi ích đối với tinh thần

Nhiều công trình nghiên cho thấy: người cao tuổi tham gia khiêu vũ đều giảm nguy cơ bị sa sút trí tuệ. Bệnh nhân Alzheimer có thể nhớ lại nhiều điều khi họ khiêu vũ với những điệu nhạc và bài hát quen thuộc. Khi khiêu vũ bạn phải động não tập trung với điệu nhạc, bước đi, cho nên trí óc luôn luôn làm việc nên rất có ích lợi.

Khiêu vũ tăng lưu lượng máu lên não, giảm căng thẳng, cô đơn và luôn luôn kích thích trí não nhớ điệu nhạc, bước đi để hòa nhịp với bạn nhảy.

Lợi ích toàn thân

Khiêu vũ mang lại nhiều lợi ích cho cơ thể, đó là: khiêu vũ làm cho cơ bắp tiêu thụ nhiều năng lượng, nên ta không bị béo phì, tăng huyết áp, bệnh tim, tiểu đường, ung thư ruột già. Khiêu vũ tăng độ chắc đặc của xương, tăng dinh dưỡng cho sụn khớp, giảm thiểu viêm xương khớp. Cơ bắp mạnh mẽ, dẻo dai hơn nhờ khiêu vũ. Tăng trí nhớ do phải nhớ nhạc, nhớ điệu nhảy, phải ăn nhịp với bạn nhảy. Người Nhật có câu: “Mọi người nữ nhảy múa đều trẻ như con gái 19 tuổi”. Tuy nhiên để đến với khiêu vũ, bạn nên bắt đầu với các điệu nhạc nhẹ nhàng. Nếu là người cao tuổi thì hãy chậm rãi dìu nhau trong các điệu nhạc slow, tango, boston, rumba. Còn bạn trẻ thì hãy đắm mình trong những điệu nhạc sôi động bebop, twist, chacha, pasodoble. Dĩ nhiên chúng ta chỉ nên coi khiêu vũ là một sinh hoạt giải trí lành mạnh, hữu ích, chứ đừng quá đam mê thâu đêm suốt sáng cùng thuốc lắc và rượu mạnh thì thật là tai hại.

ThS. Phạm Phú Vinh - suckhoedoisong

Tập luyện thể thao và bệnh tim mạch



Tập luyện thể thao đối với người bình thường giúp tăng cường sức khỏe, không chỉ vậy, vận động theo liều lượng hợp lý sẽ mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân tim mạch.

Tại lớp tập huấn về “Công tác phục hồi chức năng trong bệnh lý tim mạch” vừa được tổ chức tại BV An Bình (TP.HCM), TS.BS Juliette Hussey, Trưởng khoa Vật lý trị liệu trường ĐH Y khoa Trinity Dublin (Ireland) đã đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của việc tập luyện trong điều trị phục hồi và phòng ngừa bệnh tim mạch.

“Chạy xa” bệnh tim mạch


Theo TS Hussey, sự gia tăng hoạt động thể chất và tình trạng thể lực tim phổi giúp giảm nguy cơ tử vong từ bệnh tim mạch vành. Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy rằng tập luyện một môn thể thao đều đặn ở mức độ vừa phải sẽ làm cải thiện sức khỏe, ngay cả khi tình trạng thể lực vẫn chưa có thay đổi.

Trái tim của chúng ta, khi được tập luyện thường xuyên sẽ đập chậm hơn khi phải vận động mạnh. Ngoài ra, cơ bắp của một người siêng năng tập luyện sẽ ít mệt mỏi, tạo nên cảm giác khỏe khoắn lâu dài. Không chỉ vậy, tập thể thao giúp bạn tránh được quá trình tích tụ mỡ của cơ thể, vốn được xem là một trong những nguyên nhân làm tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch. Ngoài ra, động mạch vành cũng giãn nở dễ dàng, giúp tim hoạt động hiệu quả.

Tuy nhiên, với những người có vấn đề về bệnh tim mạch, cần đến khám bác sĩ để được hướng dẫn cụ thể về một chế độ tập luyện với cường độ phù hợp. Tốt nhất là chỉ chọn những môn thể thao không đòi hỏi nhiều thể lực như đi bộ, chạy bộ (chậm), bơi lội, thể dục nhẹ nhàng… Đặc biệt, cần khởi động kỹ tối thiểu 15 phút để các hệ cơ-xương-khớp, hệ tuần hoàn và hô hấp có thể thích nghi với nhịp độ vận động. Bệnh nhân tim mạch cần tránh tập luyện với tinh thần của một “đấu sĩ” vì gắng sức quá sẽ có thể gây nguy hiểm. Bạn cần nhớ điều này: chơi thể thao trong trường hợp của bạn là để cải thiện sức khỏe, chứ không phải để giành chiến thắng.

Mỗi người nên hoạt động thể chất ở mức trung bình 30 phút trong hầu hết các ngày trong tuần. Không bắt buộc phải là 30 phút liên tục, bạn có thể tập luyện linh động theo khả năng của mình. Chỉ cần "chạy" đủ thời lượng là bạn đã có thể "xa" nhiều nguy cơ từ bệnh tim mạch.

Vận động để phục hồi chức năng tim mạch

TS Hussey cho biết trái với suy nghĩ khá phổ biến “bệnh nhân tim mạch cần nghỉ ngơi tuyệt đối tại giường”, những bệnh nhân bị bệnh tim có tập luyện thường xuyên đã cảm thấy tâm lý sảng khoái hơn, sự tự tin và chất lượng cuộc sống gia tăng. Họ cũng ít bị các triệu chứng, ít đi khám bác sĩ và khả năng trở lại làm việc nhiều hơn. Như vậy, rõ ràng vận động hợp lý đã đóng góp nhiều cho quá trình phục hồi chức năng tim mạch của các bệnh nhân.

Tại Ireland và các nước châu Âu, tập thể dục thường được xem là nhân tố trung tâm trong những chương trình hồi phục tim mạch. Trước khi tham gia tập luyện, bệnh nhân sẽ được bác sĩ đo đạc cẩn thận các chỉ số để xếp loại nguy cơ thấp, trung bình hay cao nhằm chọn lựa được một chế độ tập luyện phù hợp nhất. Với những bệnh nhân vừa trải qua một cơn “thập tử nhất sinh” vì bệnh tim mạch, việc vận động sẽ được phân ra theo giai đoạn cụ thể, phụ thuộc vào chương trình vật lý trị liệu và phục hồi chức năng do bác sĩ và các kỹ thuật viên đưa ra. Tại các nước có điều kiện, bệnh nhân sẽ được tổ chức những lớp học để tập luyện theo nhóm cùng nhau.

Theo một nghiên cứu, tỷ lệ tử vong do tim mạch có thể giảm 20-25% nhờ tập luyện (trong các chương trình phục hồi chức năng tim mạch). Tuy nhiên, hiện ở Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng, việc áp dụng vật lý trị liệu và các chương trình phục hồi chức năng đối với bệnh tim mạch vẫn chưa phổ biến do tính chất phức tạp và nhiều rủi ro của căn bệnh. Từ khóa học với TS Juliette Hussey, những BS chuyên khoa tim mạch ở các BV của TP.HCM đã có dịp cùng nhìn lại và thảo luận để tìm ra một hướng đi thích hợp cho vấn đề này.

Nguyễn Ngọc Lan Chi - TN

Test đi bộ 6 phút

Trước kia người ta đánh giá khả năng hoạt động thể lực của bệnh nhân bằng cách hỏi bệnh nhân leo được bao nhiêu tầng cầu thang hoặc đi bộ được quãng đường bao nhiêu thì thấy mệt. Phương pháp này phụ thuộc khá nhiều vào sự cảm nhận chủ quan của bệnh nhân nên trong một số trường hợp không đánh giá đúng khả năng gắng sức thực của người bệnh...

Gần đây các trung tâm y học trên thế giới đã nghiên cứu và đưa vào ứng dụng nhiều thăm dò gắng sức nhằm đánh giá khả năng hoạt động thể lực của bệnh nhân. Các test hiện tại đang được áp dụng xếp theo thứ tự từ đơn giản đến phức tạp như sau: leo cầu thang đi bộ 6 phút, đi bộ kiểu con thoi, nghiệm pháp gắng sức gây cơn khó thở kiểu hen, nghiệm pháp gắng sức tim mạch và gắng sức tim phổi.

Đầu năm 1960, Balke đã đưa ra một phương pháp tương đối đơn giản: đo quãng đường tối đa bệnh nhân đi được trong một khoảng thời gian xác định. Tại thời điểm mới đưa vào áp dụng, khoảng thời gian này là 12 phút. Test được áp dụng đánh giá khả năng gắng sức ở người khỏe mạnh và mức độ tàn phế ở bệnh nhân có bệnh phổi mạn tính. Sau đó thời gian thực hiện test được điều chỉnh xuống 6 phút cho phù hợp hơn với bệnh nhân có bệnh phổi mạn tính.

Trong một khảo sát gần đây về các phương pháp đánh giá khả năng gắng sức đã thống nhất cho rằng: test đi bộ 6 phút là một thăm dò dễ áp dụng, bệnh nhân có khả năng thực hiện và phản ánh tốt hơn hoạt động thể lực hàng ngày của bệnh nhân so với các test gắng sức khác.

Gần đây Hội Lồng ngực Hoa Kỳ đã thống nhất áp dụng test đi bộ 6 phút trong thực hành lâm sàng đánh giá khả năng hoạt động thể lực của bệnh nhân. Test đi bộ 6 phút có một số ưu điểm như dễ thực hiện, an toàn, dung nạp tốt, phản ánh tốt hơn hoạt động thường ngày của bệnh nhân so với các test đi bộ khác.

CHỈ ĐỊNH

Chỉ định hàng đầu của test đi bộ 6 phút nhằm đánh giá sự cải thiện về triệu chứng sau điều trị ở những bệnh nhân có bệnh lý tim mạch, hô hấp mức độ trung bình đến nặng. Ngoài ra test có thể ứng dụng đánh giá khả năng hoạt động thể lực tại một thời điểm, cũng như dự báo khả năng mắc bệnh và tỷ lệ tử vong trong các nghiên cứu dịch tễ học.

Test đi bộ 6 phút được coi như một thăm dò bổ sung cho thăm dò gắng sức tim phổi. Có sự tương quan chặt chẽ giữa quãng đường đi được trong 6 phút so với lưu lượng đỉnh tiêu thụ oxy trong thăm dò gắng sức tim phổi (r = 0,73) trên bệnh nhân có bệnh phổi giai đoạn cuối.

Trong một số trường hợp quãng đường đi được trong test đi bộ 6 phút phản ánh tốt hơn khả năng hoạt động thể lực hàng ngày so với chỉ số lưu lượng oxy tiêu thụ đỉnh đo được trong test gắng sức tim phổi. Sự cải thiện về quãng đường đi được trong 6 phút sau can thiệp điều trị tương quan với sự cải thiện chủ quan mức độ khó thở của bệnh nhân. Đồng thời test đi bộ 6 phút có mối tương quan tốt hơn với thang điểm đánh giá chất lượng cuộc sống. Một ưu điểm khác là khả năng lặp lại test đi bộ 6 phút dễ dàng hơn so với test đo lưu lượng đỉnh (hệ số tương quan 80/0 ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính). So với việc sử dụng bộ câu hỏi đánh giá mức độ gắng sức test đi bộ 6 phút có sai số ít hơn khi theo dõi ngắn hạn.

Test đi bộ con thoi cũng tương tự test đi bộ 6 phút. Người tham gia sẽ đi xuôi ngược trên một quãng đường 10m theo tín hiệu âm thanh điều khiển với tốc độ tăng dần sau mỗi phút. Kết thúc test khi người tham gia không đi đến được đích trong một khoảng thời gian nhất định. Cách thực hiện test đi bộ con thoi cũng tương tự như test đi bộ trên thảm chạy. Ưu điểm của test đi bộ con thoi là tương quan với mức độ tiêu thụ oxy đỉnh cao hơn so với test đi bộ 6 phút nhược điểm là khả năng ứng dụng thực tế thấp, nhiều nguy cơ gây các biến cố tim mạch

Bảng 1: Chỉ định của test đi bộ 6 phút

Đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị

Sau phẫu thuật ghép phổi hoặc cắt phổi

Phẫu thuật làm giảm thể tích phổi

Phục hồi chức năng hô hấp

Điều trị nội khoa bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Tăng áp phổi

Suy tim

Đánh giá triệu chứng cơ năng tại một thời điểm

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Xơ phổi

Suy tim

Bệnh mạch máu ngoại biên

Bệnh nhân cao tuổi

Dự báo khả năng nhập viện và tỷ lệ tử vong

Suy tim, bệnh phổi mạn tính hoặc tăng áp phổi



CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Chống chỉ định tuyệt đối:

- Tiền sử ĐTNKOĐ hoặc NMCT mới xảy ra trong vòng 1 tháng.

Chống chỉ định tương đối:

- Nhịp tim lúc nghỉ > 120ck/p

- Huyết áp tâm thu > 180mmHg

- Huyết áp tâm trương > 100mmHg.

Đối với những bệnh nhân có các chống chỉ định tương đối cần hỏi lại ý kiến bác sĩ điều trị về chỉ định thực hiện test đi bộ 6 phút. Cần tham khảo kết quả điện tim đã làm trong 6 thắng vừa qua của bệnh nhân.

Không có chống chỉ định thực hiện test đi bộ 6 phút ở bệnh nhân đau ngực ổn định. Tuy nhiên bệnh nhân phải được dùng các thuốc giãn vành trước khi tham gia test.

TÍNH AN TOÀN

- Địa điểm thực hiện test phải bố trí ở nơi có khả năng tiếp cận nhanh chóng với các phương tiện cấp cứu.

- Thuốc và phương tiện cần có: oxy, nitroglycerin ngậm dưới lưỡi, aspirin, albuterol xịt định liều hoặc khí dung, điện thoại gọi trợ giúp cấp cứu.

- Kỹ thuật viên hướng dẫn thực hiện test đi bộ 6 phút phải thành thạo các kỹ năng hồi sinh tim phổi cơ bản, khuyến khích biết hồi sinh tim phổi nâng cao.

- Bác sĩ điều trị hoặc bác sĩ ra chỉ định không cần thiết phải có mặt trong khi bệnh nhân thực hiện test.

- Trong trường hợp bệnh nhân đang duy trì oxy liệu pháp liên tục ở nhà, cần tiếp tục cho bệnh nhân dùng oxy với liều tương tự hoặc theo chỉ định của bác sĩ.

- Lập tức dừng test đi bộ khi bệnh nhân có một trong các triệu chứng sau: (I) đau ngực, (2) khó thở không dung nạp được, (3) chuột rút chân, (4) choáng, (5) vã mồ hôi, (6) vẻ mặt tái nhợt.

- Kỹ thuật viên hướng dẫn thực hiện test phải có khả năng nhận biết các triệu chứng trên và có khả năng xử trí kịp thời: dừng test, cho bệnh nhân ngồi hoặc nằm nghỉ, đo các thông số mạch, huyết áp, SpO2, cho thở oxy nếu cần thiết.

CÁC LƯU Ý VỀ MẶT KỸ THUẬT

Địa điểm:

Nơi thực hiện test đi bộ là một hành lang dài, thẳng, bằng phẳng, vắng người qua lại. Có thể tiến hành ngoài trời nếu điều kiện thời tiết cho phép. Lối đi nên dài tối thiểu 30m. Đánh dấu điểm xuất phát bằng một đường kẻ đỏ đậm, đánh dấu chia vạch mỗi 3 mét ở cuối lối đi nên cắm cột mốc báo hiệu vị trí quay đầu.

Chiều dài lối đi không nên quá ngắn vì bệnh nhân sẽ mất thời gian quay đầu nhiều do đó sẽ làm ảnh hưởng đến quãng đường đi được. Đi bộ trên thảm chạy giúp tiết kiệm không gian tuy nhiên không được khuyến cáo áp dụng trong test đi bộ 6 phút do có nhiều yếu tố gây sai số. Trong một nghiên cứu trên các bệnh nhân có bệnh phổi nặng quãng đường bệnh nhân đi được trên thảm chạy trong 6 phút ngắn hơn 14% so với đi bộ trên hành lang do bệnh nhân không tự điều chỉnh được tốc độ bước đi của mình. Đồng thời quãng đường đi được trên thảm chạy cũng có sự dao động rất lớn (120m - 390m) giữa các bệnh nhân do không quen sử dụng thảm chạy so với quãng đường đi được là 360m khi đi bộ trên hành lang. Vì vậy kết quả đi bộ 6 phút trên thảm chạy không thể thay thế cho kết quả đi bộ trên hành lang bình thường.

Phương tiện cần có:

1. Đồng hồ đếm ngược 6 phút

2. Thiết bị điện tử đếm số vòng đi được.

3. Hai cột mốc nhỏ để đánh dấu vị trí quay đầu.

4. Ghế ngồi cho bệnh nhân tại vị trí gần vạch xuất phát

5. Bảng kiểm.

6. Nguồn oxy.

7. Máy đo huyết áp.

8. Điện thoại liên lạc cấp cứu

9. Máy khử rung tự động (AED)

Chuẩn bị bệnh nhân

1. Trang phục nhẹ nhàng, dễ cử động.

2. Nếu bệnh nhân phải dùng gậy khi đi lại, vẫn cho bệnh nhân tiếp tục dùng gậy khi thực hiện test.

3. Tiếp tục dùng các thuốc đang sử dụng hàng ngày

4. Có thể ăn nhẹ trước buổi test đầu giờ sáng hoặc đầu giờ chiều

5. Bệnh nhân không nên gắng sức mạnh trong vòng hai giờ trước khi thực hiện test đi bộ.

Quy trình thực hiện test đi bộ 6 phút

1. Nếu làm test nhiều lần nên thực hiện vào cùng một thời điểm trong ngày để giảm thiểu các sai số gây ra do nhịp ngày đêm.

2. Không cần có giai đoạn khởi động trướckhi thực hiện test.

3. Cho bệnh nhân ngồi nghỉ trên ghế gần vị trí xuất phát trước khi tham gia test 10 phút. Trong thời gian đó, kiểm tra lại các chống chỉ định, đo mạch, huyết áp, trang phục hoàn thành đầy đủ các thông tin ở trang đầu của bảng kiểm.

4. Có thể đo bão hòa oxy mao mạch tại thời điểm trướckhi đi bộ

5. Cho bệnh nhân đứng dậy, đánh giá mức độ khó thở và mức độ mệt mỏi chung của bệnh nhân tại thời điểm xuất phát theo thang điểm Borg.

6. Cài đặt thiết bị đếm số vòng đi được Ở giá trị 0 và đồng hồ đếm ngược ở giá trị 6 phút. Tập hợp tất cả các phương tiện cần thiết và đi đến vạch xuất phát.

7. Giải thích cách thực hiện test cho bệnh nhân:

“Mục tiêu của test đi bộ là bạn sẽ cố gắng đi bộ quãng đường càng dài càng tốt trong vòng 6 phút. Bạn sẽ bắt đầu tại điểm xuất phát đi bộ đến vị trí cột mốc 30m, sau đó nhanh chóng quay ngược lại và đi bộ trở lại vị trí xuất phát. Tiếp tục đi lặp lại quãng đường vừa đi cho đến khi hết thời gian. Trong quá trình đi bộ, bạn có thể tăng giảm tốc độ, có thể dừng lại nghỉ, nhưng cần nhanh chóng đi bộ trở lại ngay khi có thể để đảm bảo quãng đường đi được là dài nhất có thể. Bạn có thể dừng hẳn nếu thấy không đủ sức tiếp tục đi".

Sau dó kỹ thuật viên sẽ đi bộ mẫu một vòng cho bệnh nhân xem.

8. Cho bệnh nhân đứng tại vị trí xuất phát. Kỹ thuật viên cũng nên đứng gần vị trí xuất phát trong quá trình thực hiện test. Không nên đi bộ cùng bệnh nhân. Bấm giờ ngay khi bệnh nhân bắt đầu xuất phát.

9. Không nói chuyện với bệnh nhân trong quá trình thực hiện test. Tập trung theo dõi bệnh nhân để đếm đúng sổ vòng bệnh nhân đi được. Khuyến khích bệnh nhân bằng những câu đã được chuẩn hứa với giọng nói thích hợp, không nên sử dụng cụm từ khác hoặc ngôn ngữ cơ thể để cổ vũ bệnh nhân trong quá trình đi bộ vì sẽ ảnh hưởng đến quãng đường đi được:

Sau phút đầu tiên: “Bạn đã làm rất tốt, bạn còn 5 phút nữa"

Sau phút thứ hai : “Hãy tiếp tục đi bộ, bạn còn 4 phút nữa"

Sau phút thứ ba: “Bạn làm tốt lắm, bạn đã hoàn thành được nửa thời gian"

Sau phút thứ tư: “Hãy tiếp tục việc đi bộ của bạn, bạn chỉ còn hai phút nữa”.

Sau phút thứ năm: “Bạn đang làm rất tốt, bây giờ bạn chỉ còn 1 phút nữa thôi"

Nếu bệnh nhân thấy cần dừng lại nghỉ trong khi thực hiện test, nói với bệnh nhân họ có thể ngồi nghỉ nhưng hãy nhanh chóng đứng lên đi tiếp ngay khi có thể đồng thời vẫn tiếp tục bấm giờ khi bệnh nhân ngồi nghỉ. Nếu bệnh nhân ngừng hẳn khi chưa hết 6 phút, ghi vào bảng kiếm thời điểm dừng, lý do dừng đi bộ và quãng đường đi được.

Nếu bệnh nhân vẫn tiếp tục đi, khi đồng hồ báo còn 15 giây, nhắc bệnh nhân như sau: "Chỉ trong giây lát nữa tôi sẽ bảo bạn dừng đi bộ, ngay khi tôi nói hãy dừng lại và đứng nguyên tại vị trí, tôi sẽ đi lại chỗ bạn đứng".

Khi đồng hồ hết giờ, ra hiệu cho bệnh nhân đứng lại đồng thời đi lại phía bệnh nhân nếu thấy bệnh nhân quá mệt có thể mang cho bệnh nhân ghế ngồi. Đánh dấu vị trí đứng của bệnh nhân.

10. Đánh giá lại mức độ mệt và mức độ khó thở dựa trên bảng điểm Borg, đồng thời hỏi bệnh nhân "Có điều gì cản trở làm bệnh nhân không đi xa thêm được”.

11. Nếu có thiết bị đo độ bão hòa oxy, đo lại bão hòa oxy mao mạch và tần số tim của bệnh nhân sau khi kết thúc test.

12. Ghi lại số vòng bệnh nhân đi được và quãng đường đi thêm được ở vòng cuối cùng, quy ra số mét đi được trong 6 phút.

13. Chúc mừng bệnh nhân đã cố gắng hoàn thành test và mời bệnh nhân uống nước nếu có nhu cầu.

Bảng 2: Thang điểm Borg

o

Không cảm thấy khó thở/mệt

.5

Cảm thấy khó thở/mệt rất rất ít

1

Cảm thấy khó thở/mệt rất ít

2

Cảm thấy khó thở/mệt ít

3

Cảm thấy khó thở/mệt mức độ trung bình

4

Cảm thấy khó thở/mệt hơi nhiều

5

Cảm thấy khó thở/mệt nhiều

6


7

Cảm thấy khó thở/mệt rất nhiều

8


9


10

Cảm thấy khó thở/mệt rất rất



SỰ BẢO ĐẢM VỀ CHẤT LƯỢNG

Các sai số trong quá trình thực hiện test nên cố gắng tránh càng nhiều càng tốt. Để làm được điều này nên tuân thủ các tiêu chuẩn đã nêu trong quy trình thực hiện test.

Bảng 3: Các sai số có thể gặp của test đi bộ 6 phút

Các yếu tố làm giảm quãng đường đi được:

· Bệnh nhân lùn

· Bệnh nhân cao tuổi

· Bệnh nhân thừa cân, béo phì

· Bệnh nhân nữ

· Bệnh nhân có suy giảm nhận thức

· Hành lang đi bộ ngắn hơn quy định (phải quay đầu nhiều)

· Bệnh nhân bị bệnh phổi mạn tính, hen phế quản, xơ nang phổi, bệnh phổi kẽ.

· Bệnh nhân có bệnh lý tim mạch: đau ngực, NMCT, suy tim, đột quị, bệnh động mạch ngoại vi.

· Các bệnh lý cơ xương: viêm khớp, chấn thương mắt cá, đầu gối, khớp háng, teo cơ…

Các yếu tố làm tăng quãng đường đi được:

· Bệnh nhân cao

· Nam giới

· Tính cách năng động

· Bệnh nhân đã từng tham gia test đi bộ trước đó

· Bệnh nhân có bệnh nhưng đã được uống thuốc ngay trước khi thực hiện test.

· Bệnh nhân có tình trạng thiếu oxy khi gắng sức nhưng được cung cấp oxy đẩy đủ.


Test đi bộ thử:

Nếu tiến hành test đi bộ thử, lần đi bộ thứ hai nên thực hiện sau lần đi thử ít nhất 1 giờ. Ở những bệnh nhân có thực hiện test đi bộ thử, quãng đường đi được lần hai cao hơn so với lần 1 từ 0 - 17% (trung bình là 5,8%). Điêu này có thể lý giải do bệnh nhân phối hợp tốt hơn, bớt hồi hộp lo lắng và tìm được tốc độ đi thích hợp.

Dựa trên kết quả này, tại mỗi thời điểm đánh giá, nên cho bệnh nhân thực hiện test hai lần và lấy kết quả của lần tốt hơn (thường là lần sau) vì phản ánh đúng hơn khả năng gắng sức của bệnh nhân.

Kinh nghiệm của kỹ thuật viên:

Kỹ thuật viên hướng dẫn thực hiện test nên được đào tạo tiến hành test theo một quy trình chuẩn và cần được giám sát trong những lần thực hiện test đầu tiên trước khi tự hướng dẫn bệnh nhân một mình.

Kết quả một nghiên cứu đa trung tâm trên người cao tuổi cho thấy, sau khi đã loại bỏ hết các yếu tố gây sai số, vẫn có hai kỹ thuật viên mà quãng đường trung bình đi được của nhóm bệnh nhân do họ hướng dẫn thấp hơn 7% so với các kỹ thuật viên ở các trung tâm khác.

Khuyến khích động viên bệnh nhân

Nên sử dụng những câu nói đã được chuẩn hóa vì những câu động viên khích lệ có ảnh hưởng rất lớn đến quãng đường đi được của bệnh nhân.

Oxy hỗ trợ

Nếu bệnh nhân cần thở oxy hỗ trợ trong quá trình đi bộ, đồng thời bệnh nhân có kế hoạch thực hiện test đi bộ nhiều lần sau mỗi đợt điều trị, nên cho bệnh nhân thở oxy theo cùng một phương thức; cùng một liều lượng ở các lần test đi bộ. Trong trường hợp bệnh nhân cần thở oxy liêu cao hơn do sự trao đổi oxy giảm sút, cần ghi lại vào bảng theo dõi để phục vụ cho vấn đề phiên giải kết quả sau này, đồng thời ghi chép loại phương tiện dự trữ oxy bệnh nhân sử dụng: bình oxy lỏng mang theo người hay bình oxy phải kéo theo khi đi bộ oxy bơm liên tục hay ngắt quãng bệnh nhân tự đẩy bình oxy hay kỹ thuật viên đi phía sau và đẩy bình oxy cho bệnh nhân (không khuyến khích). Cần đo lại mạch và SpO2 sau khi thay đổi chế độ thở oxy 10 phút. Đối với những bệnh nhân đợt cấp COPD hoặc bệnh phổi kẽ, thở oxy hỗ trợ làm tăng quãng đường đi được. Nếu mang theo bình oxy nhưng không sử dụng để thở làm giảm quãng đường đi được 14%. Ngược lại nếu mang theo bình oxy để thở hỗ trợ làm tăng quãng đường đi được lên 20 - 35%.

Các thuốc đang sử dụng

Cần ghi chép tỷ mỉ loại thuốc sử dụng, liều lượng, thời gian sử dụng trước khi tiến hành test vì trong một số trường hợp dùng thuốc giãn phế quản ở bệnh nhân COPD hoặc thuốc tim mạch ở bệnh nhân suy tim có thể làm cải thiện quãng đường đi được trong 6 phút

PHIÊN GIẢI KẾT QUẢ

Test đi bộ 6 phút được chỉ định ở bệnh nhân tại thời điểm trước và sau can thiệp điều trị, vì vậy câu hỏi đầu tiên cần trả lời sau hai test là bệnh nhân có cải thiện rõ rệt về mặt lâm sàng không.

Trong điều kiện test được thực hiện đúng tiêu chuẩn do một kỹ thuật viên hướng dẫn và có đi bộ thủ trướckhi thực hiện test cho thấy test có khả năng phản ánh khá chính xác sự thay đổi về triệu chứng cơ năng. Cho đến khởi điểm hiện tại các khuyến cáo vẫn nhất trí đánh giá dựa vào giá trị tuyệt đôi của quãng đường thay đổi trướcvà sau điều trị để phản ánh hiệu quả điêu trị.

Sự thay đổi quãng đường trung bình đi được sau can thiệp điều trị

Trong một nghiên cứu, bệnh nhân COPD và bệnh phổi kẽ mạn tính được thở oxy hỗ trợ 4l/phút quãng đường đi được trong 6 phút tăng 95m (36%). Trong một nghiên cứu quốc tế khác trên bệnh nhân COPD, dùng corticoid dạng hít làm tăng quãng đường đi được lên 33m (8%). Tập thể dục và tập sức mạnh cơ hoành làm tăng quãng đường đi được trong 6 phút ở bệnh nhân COPD lên 50m (20%).

Trong một nghiên cứu khác, phục hồi chức năng tim mạch ở bệnh nhân có các bệnh tim khác nhau lam cải thiện quãng đường đi được 170m (15%). Nghiên cứu trên 25 bệnh nhân già bị suy tim, dùng thuốc ức chế men chuyển (captopril 50mg/ngày) làm tăng quãng đường di được lên 64m (39%) so với tăng 8% ở nhóm chỉ dùng giả dược.

Phiên giải kết quả khi sử dụng test đi bộ 6 phút đánh giá mức độ hoạt động thể lực tại một thời điểm

Vẫn chưa có nghiên cứu đầy đủ trên quần thể người khỏe mạnh sử dụng test đi bộ 6 phút. Trong một nghiên cứu, trên 117 nam giới khỏe mạnh, quãng đường trung bình đi được trong 6 phút là 580m, giá trị thu được khi nghiên cứu trên 173 nữ giới khỏe mạnh là 500m. Trong một nghiên cứu khác trên 51 người già khỏe mạnh quãng đường trung bình đi được là 630m. Sự khác biệt về các đặc điểm của mẫu nghiên cứu, mức độ và hình thức động viên trong quá trình người tham gia thực hiện test đi bộ, chiều dài của hành lang đi bộ, số lần đã tham gia thực hiện test trướcđây là các yếu tố góp phần tạo nên sự khác biệt về quãng đường đi được trong các nghiên cứu. Tuổi, giới, chiều cao, cân nặng cũng ảnh hưởng độc lập tới quãng đường đi được trong 6 phút ở người khỏe mạnh vì thế các yếu tố này cũng phải được tính đến khi phiên giải kết quả. Các nhà nghiên cứu nên công bố các phương trình tham khảo đánh giá quãng đường đi được trong 6 phút ở người binh thường dựa trên các quy trình chuẩn đã được đề cập trướcđây trên cơ sở đó có được giá trị chuẩn mang tính đại diện cho một quần thể rộng lớn...

Khi quãng đường đi được trong 6 phút quá ngắn so với giá trị bình thường cần tìm các nguyên nhân có thể là nguyên nhân sự giảm quãng đường đi được này. Cần thực hiện thêm các thăm dò sau để xác định nguyên nhân: đo chức năng hô hấp, chức năng tim, chỉ số mắt cá - cánh tay, đo cơ lực, tình trạng dinh dưỡng, hoạt động của hệ xương khớp và khả năng nhận thức.

KẾT LUẬN

Test đi bộ 6 phút là một thăm dò đơn giản, hiệu quả đánh giá khách quan khả năng hoạt động thể lực trên bệnh nhân có bệnh lý trung bình đến nặng. Test được sử dụng rộng rãi so sánh khả năng gắng sức trước và sau phẫu thuật, đánh giá sự đáp ứng với can thiệp điều trị của các bệnh nhân bệnh lý tim mạch, hô hấp. Những khuyến cáo nêu trên đây cung cấp các bước tiếp cận chuẩn để thực hiện test đi bộ 6 phút với hi vọng test sẽ được ứng dụng rộng rãi trên lâm sàng.


CardioNet

Người bệnh tăng huyết áp có nên chơi thể thao?

Lợi ích của việc tập luyện thể dục thể thao là mang lại cho cơ thể một sức khỏe tốt, giúp chúng ta ăn khỏe, ngủ ngon, làm việc dẻo dai, tinh thần sảng khoái, là nhân tố quan trọng giúp sống lâu, sống khỏe. Tuy nhiên đối với người tăng huyết áp có nên luyện tập thể dục thể thao hay không?

Chọn môn thể thao phù hợp

Người tăng huyết áp (THA) cần tập thể dục thể thao đều đặn, nhưng không phải môn nào cũng tập được, cường độ nặng mấy cũng tập được, bởi mọi cố gắng quá sức đều đi ngược lại tác dụng. Vậy người tăng huyết áp cần tập luyện mức độ nào?

Người THA chỉ nên tập vừa sức mình, vừa với sức chịu đựng của hệ tim mạch, nhưng cũng không nên tập ít quá hay nhẹ quá. Để biết thế nào là vừa với sức mình, người THA chỉ việc để ý khi thấy bắt đầu ra mồ hôi hay "mồ hôi ra sâm sấp" là "vừa" rồi đấy. Phải nói thêm rằng mùa đông người THA thì mặc thêm quần áo đủ ấm để tập, mùa hè người THA có thể mặc quần áo mỏng hơn nên vẫn có thể lấy "tiêu chuẩn" là bắt đầu ra mồ hôi để biết đã tập vừa sức. Từ đó người THA có kinh nghiệm, chẳng hạn tập khoảng nửa tiếng và chỉ nên tập mỗi động tác 2 - 3 lần là vừa sức. Có tác giả khuyên rằng cách tốt nhất để xem tập đã "vừa sức " chưa là đếm mạch cổ tay. Người THA đếm trong một phút xem mạch đập bao nhiêu lần. Tiêu chuẩn "vừa sức"ở các độ tuổi như sau : người 40 - 49 tuổi, mạch 120 lần/phút; người 50 - 59 tuổi, mạch 110 lần/phút; người 60 - 69 tuổi, mạch 100 lần/phút; người trên 70 tuổi, mạch 90 lần/phút. Đối với người trên 60 tuổi nên đếm mạch trước và sau khi tập: nếu sau buổi tập mà mạch tăng 20 lần/phút so với trước khi tập là vừa sức.

Còn khi tập mà thấy mệt, khó thở hay đau ngực thì đã quá sức rồi đấy. Người THA nên dừng buổi tập, nghỉ ngơi để hôm sau tập tiếp. Có điều người THA không nên tham gia thi đấu bất cứ môn thể thao nào, vì sẽ phải chịu sức ép cả về sức lực lẫn tinh thần, mà điều này thì không tốt cho hệ tim mạch chút nào.

Mỗi buổi tập nên khởi động từ từ các khớp toàn thân, từ đầu-cổ, tay, hông, đầu gối, cổ chân rồi mới tập. Khi kết thúc buổi tập cũng không nên ngồi nghỉ ngay, mà nên chạy chầm chậm, sau chuyển sang đi bộ một quãng trước khi dừng hẳn. Khởi động từ từ và kết thúc cũng từ từ là yêu cầu kỹ thuật nhất thiết phải tuân theo để bảo đảm an toàn và hiệu quả của tập luyện.

Người THA cần tập đều đặn, tốt nhất là mỗi ngày tập 20 - 30 phút, hoặc tập 3 lần mỗi tuần, không nên tập kéo dài hơn về thời gian và nặng về cường độ. Một vài nghiên cứu cho thấy: nếu người bệnh tăng huyết áp vận động tay chân thường xuyên trong ngày, thì rất tốt cho tim mạch như: lên xuống cầu thang, quét dọn nhà cửa, chăm sóc cây cảnh... Trái lại nếu chỉ tập vài chục phút thể dục nhưng cả ngày lại ngồi một chỗ thì rất có hại cho sức khỏe.

Người THA nên tập cùng một vài người bạn vì như vậy sẽ thấy vui hơn, có bạn đồng hành, động viên lẫn nhau, vừa tập vừa chăm sóc giúp đỡ nhau nên sẽ yên tâm hơn. Người THA có thể tham gia các câu lạc bộ thể dục dưỡng sinh, khí công...

Người THA hãy chọn một hay nhiều hơn các môn để tập luyện trong số các môn giới thiệu sau đây:

Đi bộ, vừa nhẹ nhàng và an toàn, tuổi nào, giờ nào cũng đi bộ được, có thể đi bộ vài lần trong ngày. Muốn đạt lợi ích thật sự cho tim mạch cần phải đi hơi nhanh, để cho mạch nhanh lên, khi thấy ra mồ hôi sâm sấp và hơi thở gấp một chút là tốt. Nếu trời lạnh, nên mặc đủ ấm lúc mới đi, sau đó người nóng lên thì cởi bớt khăn, áo ra cầm tay, đi thấy "vừa sức" thì kết thúc buổi tập.

Chạy chậm là môn luyện tập rất tốt cho người THA, bắt đầu bạn chạy thật chậm, sau đó nhanh dần lên và khi thấy chớm mệt thì chạy chậm dần lại, rồi chuyển sang đi bộ trước khi kết thúc buổi tập.

Bơi lội là môn cũng thích hợp với người tăng huyết áp. Nếu có điều kiện, nên bơi ở bể bơi có nước nóng sẽ rất tốt cho người tăng huyết áp. Người THA cần khởi động từ từ và kết thúc từ từ.

Bóng bàn, cầu lông là những môn thể thao nhẹ nhàng, an toàn với người tăng huyết áp. Cười đùa trong khi chơi cũng rất tốt cho người bệnh tim mạch.

Khí công dưỡng sinh, Yoga: các môn này tác động đến hoạt động thần kinh trung ương, đến hệ hô hấp và tim mạch cho nên có tác dụng tốt đến sức khỏe và tim mạch.

Người THA không nên tập các môn thể thao có cường độ nặng vừa tốn sức vừa tăng gánh nặng cho tim mạch như: cử tạ, leo núi, bóng đá, quyền anh, tennis...

Tập hay không tập?

Do bệnh tăng huyết áp có thể dẫn đến tai biến mạch máu não hoặc nhồi máu cơ tim nên từ trước đến nay nhiều bệnh nhân tăng huyết áp không dám luyện tập các môn thể thao như chạy, bơi, đánh bóng chuyền, bóng bàn, cầu lông... Nay nhờ các công trình nghiên cứu đã cho thấy: người tăng huyết áp không những không phải kiêng thể dục, thể thao mà còn cần phải luyện tập thể dục thể thao một cách đều đặn để giúp ổn định huyết áp. Bởi những hoạt động thể lực làm cho các mạch máu lưu thông, đàn hồi, dẻo dai hơn; trái tim được cung cấp oxy và chất dinh dưỡng đầy đủ hơn, nên làm việc được tốt hơn, đẩy máu nhiều hơn đến não, phổi, thận, gan và các cơ bắp; não được tưới máu đầy đủ nên chỉ huy hoạt động của mọi cơ quan trong cơ thể tốt hơn, làm cho tinh thần sảng khoái, lạc quan, yêu đời. Nhờ vận động thường xuyên đều đặn mà khí huyết lưu thông, huyết áp không những không tăng mà còn ổn định ở trị số trung bình hoặc không tăng cao hơn nữa.

ThS. Nguyễn Mạnh Hà - skđs

Người suy tim có nên tập thể dục?



Thông thường bác sĩ đánh giá mức độ suy tim theo bốn mức, từ suy tim độ I đến độ IV.

Với mức suy tim độ I-II, người bệnh vẫn có thể hoạt động thể lực ở mức trung bình; với mức suy tim độ III, người bệnh chỉ làm được những công việc nhẹ; với mức suy tim độ IV, người bệnh thấy mệt ngay cả khi nghỉ ngơi. Vì vậy bác sĩ thường khuyên bệnh nhân suy tim tập thể dục ở mức vừa phải với những trường hợp suy tim độ I-II, vận động nhẹ với những trường hợp suy tim độ III. Việc thường xuyên tập thể dục ở người suy tim giúp tăng cường các hoạt động sinh lý, tăng khả năng chịu đựng, làm tăng chất lượng cuộc sống.

Trước khi tiến hành kế hoạch tập thể dục, người bệnh cần hỏi ý kiến của bác sĩ về khả năng và mức độ tập luyện. Thông thường có thể tập 30 phút/ngày với các hoạt động ở mức độ nhẹ hoặc trung bình như đi bộ, đạp xe, bơi lội, tập thái cực quyền, dưỡng sinh, yoga, khiêu vũ, làm công việc nhà...

Một số lưu ý cho bệnh nhân suy tim khi tập thể dục:

- Thời điểm tốt nhất để tập thể dục là khoảng 1 giờ sau khi ăn hoặc uống thuốc.

- Cần khởi động trước khi tập và thư giãn, nghỉ ngơi sau khi tập. Không tắm hơi hay tắm nước quá nóng hoặc quá lạnh sau khi tập.

- Đặt ra mục tiêu tập luyện vừa phải, không quá sức.

- Tránh những hoạt động nặng như chạy bộ, nâng vật nặng trên 10kg...; tránh những bài tập làm căng, duỗi, co cơ liên tục như hít đất...

- Khi mới tập cần tập nhẹ, sau này sẽ tăng dần cường độ. Nếu ngưng tập một vài ngày (do bị cảm, bận công việc, thời tiết xấu...), khi tập lại cần tập nhẹ hơn mức bình thường, tăng dần cường độ về bằng mức trước đó vào những buổi tập sau.

- Tránh tập thể dục ngoài trời khi thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt: độ ẩm cao làm mau mệt, nhiệt độ quá nóng hay quá lạnh ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn, gây khó thở, đau ngực.

- Uống đủ nước. Nên uống nước ngay cả khi không khát, đặc biệt trong những ngày nóng.

- Nếu cảm thấy mệt mỏi ngay sau khi tập hoặc vào hôm sau cần giảm bớt cường độ tập luyện.

- Nếu cảm thấy có những triệu chứng như đau ngực, khó thở, hoa mắt, chóng mặt, nôn ói... hoặc bất kỳ triệu chứng bất thường nào cần ngưng tập. Nếu triệu chứng không giảm cần để bác sĩ kiểm tra.

BS NGÔ BẢO KHOA - TTO

Thể thao giúp phòng bệnh tim mạch

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, khi nồng độ cholesterol "tốt" (HDL) - yếu tố đóng vai trò quyết định ngăn ngừa khả năng nhồi máu cơ tim trong máu quá thấp sẽ có hại cho hệ tim mạch hơn cả trường hợp nồng độ cholesterol "xấu" (LDL) trong máu cao hơn mức bình thường chút ít. Thường xuyên tập thể thao và tham gia các hoạt động thể lực một cách vừa phải là cách tốt nhất để gia tăng nồng độ HDL.

Nếu bạn biết vận động và TDTT cùng các hoạt động thể lực một cách thích hợp thì không chỉ là điều cần thiết để có cơ thể khoẻ mạnh, mà còn làm giảm thiểu các tác động của bệnh tim mạch. TDTT nhưng bạn không cần phải thực hiện những bài tập nặng, tập quá sức, hay phải tập hàng ngày với thời lượng lớn 60 phút. Tập thể dục có thể bao gồm đi bộ, chạy bộ aerobic, tập yoga. Điều quan trọng hơn cả là bạn phải có ý thức đối với việc tập luyện và chỉ cần có lòng quyết tâm thay đổi những thói quen trong cuộc sống và thắng được sức ỳ của mình. Mỗi ngày chỉ cần đi dạo từ 30-60 phút, hoặc hoạt động thể thao theo chế độ 15-30/phút/lần/ ngày là đủ để hạ huyết áp, duy trì nồng độ HDL, lượng đường trong máu cũng như trọng lượng cơ thể hợp lý. Chế độ tập luyện như thế không phải là quá khó ngay cả với những người mà quỹ thời gian không có nhiều.

Các nhà khoa học cho rằng, không có phương thức để giảm thiểu tối đa cơn nhồi máu cơ tim nào hiệu quả hơn là tập TDTT và hoạt động thể lực. Những người tin và thực hiện tốt "liệu pháp" này có tỷ lệ nhồi máu cơ tim giảm thấp nhất. Khi "liệu pháp" này được áp dụng rộng rãi, trong 10 năm qua, những ca tử vong do bệnh tim mạch giảm hẳn. Nếu mỗi ngày thời gian dạo bộ lớn hơn 60 phút, kèm theo đấy là những bài tập thể lực tích cực thì ích lợi cho sức khoẻ càng lớn. Ưu điểm của phương pháp này còn cao hơn cả Jogging, đi xe đạp, bơi lội hoặc chơi tennis. Khi hoạt động của cơ bắp được duy trì với thời lượng tối thiểu 240 phút/tuần, trước hoặc sau giờ làm việc, thì trung bình 2/10 người trong nhóm tuổi 35-49 sẽ tránh được nguy cơ tử vong vì các bệnh tim.

Việc tập luyện cần được duy trì mỗi ngày thì hiệu quả mới tốt. Còn kiểu tập "no dồn, đói góp" (cả tuần thì lao vào công việc, đến ngày nghỉ thì dốc toàn lực để tập luyện) không những sức khoẻ không được cải thiện mà còn tăng nguy cơ chấn thương và đau đớn nghiêm trọng. Những người trước đó ít hoạt động hoặc đã bước vào tuổi trung niên không nên tập những bài tập thể lực quá nặng ngay từ đầu, bởi việc đó sẽ làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim cao hơn 30 lần. Ban đầu chỉ nên tập với cường độ và thời lượng vừa phải, sau đó mới tăng dần sau 10 hay 15 ngày, tuỳ thuộc vào sự đáp ứng của cơ thể với chế độ luyện tập.

Địa điểm và thời gian cho việc TDTT cũng tối quan trọng. Bạn nên tập luyện khi cơ thể khỏe mạnh, tập nơi có ánh sáng mặt trời, thông thoáng, không nên tập vào sáng sớm hay tối khuya; không nên tập thể dục khi bạn quá no hoặc quá đói. Vân động luyện tập thích hợp ngoài việc hạn chế tối đa nguy cơ nhồi máu cơ tim, lối sống tích cực còn ngăn chặn các bệnh về mắt, bệnh ung thư... đặc biệt là chứng béo phì - nguyên nhân gây ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm cho tính mạng như tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, đái tháo đường... Bên cạnh việc rèn luyện thân thể thì chế độ ăn uống hợp lý, đầy đủ chất cũng góp phần đẩy lùi nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

BS. Đào Thái Dũng-suckhoedoisong

Thể thao và bệnh tim mạch

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, khi nồng độ cholesterol "tốt" (HDL) - Yếu tố đóng vai trò quyết định ngăn ngừa khả năng nhồi máu cơ tim trong máu quá thấp sẽ có hại cho hệ tim mạch hơn cả trường hợp nồng độ cholesterol "xấu" (LDL) trong máu cao hơn mức bình thường chút ít. Thường xuyên tập thể thao và tham gia các hoạt động thể lực một cách vừa phải là cách tốt nhất để gia tăng nồng độ HDL.


Tập luyện thể thao cần duy trì đều đặn mới có hiệu quả.

Nếu bạn biết vận động và luyện tập thể dục thể thao (TDTT) cùng các hoạt động thể lực một cách thích hợp thì không chỉ là điều cần thiết để có cơ thể khoẻ mạnh, mà còn làm giảm thiểu các tác động của bệnh tim mạch. TDTT nhưng bạn không cần phải thực hiện những bài tập nặng, tập quá sức, hay phải tập hàng ngày với thời lượng lớn 60 phút. Tập thể dục có thể bao gồm đi bộ, chạy bộ, aerobic, tập yoga. Điều quan trọng hơn cả là bạn phải có ý thức đối với việc tập luyện và chỉ cần có lòng quyết tâm thay đổi những thói quen trong cuộc sống và thắng được sức ỳ của mình. Mỗi ngày chỉ cần đi dạo từ 30 đến 60 phút, hoặc hoạt động thể thao theo chế độ 15 đến 30/phút/lần/ ngày là đủ để hạ huyết áp, duy trì nồng độ HDL, lượng đường trong máu cũng như trọng lượng cơ thể hợp lý. Chế độ tập luyện như thế không phải là quá khó ngay cả với những người bận rộn.

Các nhà khoa học cho rằng, không có phương thức để giảm thiểu tối đa cơn nhồi máu cơ tim nào hiệu quả hơn là tập TDTT và hoạt động thể lực. Những người tin và thực hiện tốt "liệu pháp" này, có tỉ lệ nhồi máu cơ tim giảm thấp nhất. Khi "liệu pháp" này được áp dụng rộng rãi, trong 10 năm qua những ca tử vong do bệnh tim mạch giảm hẳn. Nếu mỗi ngày thời gian dạo bộ lớn hơn 60 phút, kèm theo đấy là những bài tập thể lực tích cực thì ích lợi cho sức khoẻ càng lớn. Ưu điểm của phương pháp này còn cao hơn cả Jogging, đi xe đạp, bơi lội hoặc chơi tennis. Khi hoạt động của cơ bắp được duy trì với thời lượng tối thiểu 240 phút/tuần, trước hoặc sau giờ làm việc, thì trung bình 2/10 người trong nhóm tuổi 35-49 sẽ tránh được nguy cơ tử vong vì bệnh tim.

Việc tập luyện cần được duy trì mỗi ngày thì hiệu quả mới tốt. Còn kiểu tập "no dồn, đói góp" (cả tuần thì lao vào công việc, đến ngày nghỉ thì dốc toàn lực để tập luyện) không những sức khoẻ không được cải thiện, mà còn tăng nguy cơ chấn thương và đau đớn nghiêm trọng. Những người trước đó ít hoạt động hoặc đã bước vào tuổi trung niên không nên tập những bài tập thể lực quá nặng ngay từ đầu, bởi việc đó sẽ làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim cao hơn 30 lần. Ban đầu chỉ nên tập với cường độ và thời lượng vừa phải, sau đó mới tăng dần sau 10 hay 15 ngày, tùy thuộc vào sự đáp ứng của cơ thể với chế độ luyện tập.

Địa điểm và thời gian cho việc luyện tập TDTT cũng tối quan trọng. Bạn nên tập luyện khi cơ thể khỏe mạnh, tập nơi có ánh sáng mặt trời, thông thoáng, không nên tập vào sáng sớm hay tối khuya; không nên tập thể dục khi bạn quá no hoặc quá đói. Vận động luyện tập thích hợp ngoài việc hạn chế tối đa nguy cơ nhồi máu cơ tim, lối sống tích cực còn ngăn chặn các bệnh về mắt, bệnh ung thư... đặc biệt là chứng béo phì - Nguyên nhân gây ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm cho tính mạng như tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, đái tháo đường... Bên cạnh việc rèn luyện thân thể thì chế độ ăn uống hợp lý, đủ chất cũng góp phần đẩy lùi nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

BS. Đào Thái Dũng-Suckhoedoisong

Mẹo nhỏ làm giảm cơn cao huyết áp

Một số thao tác như vuốt ấm vành tai, vuốt dọc hai bên mũi... có thể ngăn nguy cơ tai biến về não trước khi bệnh nhân được bác sĩ chăm sóc.

Tăng huyết áp là tình trạng chỉ số huyết áp đo được bằng hoặc lớn hơn 140/90 mmHg, có thể gây tai biến mạch máu não nếu không được điều trị kịp thời. Những thao tác đơn giản sau có thể làm giảm huyết áp khi có cơn, nhưng chỉ áp dụng cho các trường hợp nhẹ chưa có biến chứng.

Vuốt ấm hai vành tai

Dùng ngón cái và ngón trỏ vuốt dọc vành tai từ trên xuống dưới khoảng 9-10 lần. Vành tai và cột sống có những điểm phản xạ tương ứng với nhau, do đó vuốt ấm vành tai cũng là tác động vào cột sống lưng, vừa có tác dụng điều hòa thần kinh giao cảm, vừa kích thích sự lưu thông khí huyết.

Nếu có người bên cạnh, có thể nhờ họ ngồi sau lưng, dùng bàn tay phải vuốt dọc sống lưng từ trên gáy xuống eo để tăng tác dụng.

Vuốt dọc hai bên mũi

Mỗi bàn tay vuốt một bên mũi. Dùng ngón tay trỏ vuốt từ huyệt ấn đường (điểm giữa hai đầu chân mày) xuống dọc theo hai bên mũi qua khóe miệng đến tận chót cằm. Vuốt chậm, nhẹ 15-20 lần.

Việc kích thích huyệt ấn đường làm phóng thích endorphine nội sinh, giúp an thần, hạ huyết áp và giáng khí. Vuốt dọc theo hai bên mũi xuống cằm làm tăng sự lưu thông khí huyết, gây ấm người và làm nhẹ áp lực ở phần đầu.

Vuốt dọc hai chân mày

Dùng hai ngón tay trỏ và giữa vuốt từ ấn đường, đi dài theo chân mày ra thái dương, đến tận chân tóc ở phía ngoài đuôi mắt, mỗi bên khoảng 10 lần. Vùng chân mày và hai cánh tay có những điểm phản xạ tương ứng nhau. Do đó động tác này giải tỏa sự sung huyết tại những huyệt vị hay bị tắc nghẽn ở vùng trán, làm cho khí huyết lưu thông ra hai cánh tay và bàn tay, giúp giảm nhẹ áp lực ở đầu.

Ngồi hoặc nằm thư giãn, tập trung vùng đan điền

Theo y học cổ truyền, thần ở đâu khí ở đó. Do đó khi tập trung ý nghĩ tại vùng đan điền, khí trong cơ thể từ phía trên đầu sẽ lưu chuyển xuống dưới nên có tác dụng hạ khí. Việc tập trung tư tưởng càng tốt, hiệu quả hạ khí càng cao. Động tác này cần kéo dài hơn 10 phút.

Mỗi khi cảm nhận được những dấu hiệu tăng huyết áp như căng, nặng ở vùng thái dương, đau đầu, mờ mắt, mắt đỏ hay trong người thấy bực tức vô cớ, ngực sườn đầy tức..., người bệnh nên ngồi xuống, áp dụng lần lượt 4 động tác trên. Bình tĩnh và tự tin là yếu tố cần thiết trong quá trình thực hiện. Sau khoảng 15 phút thực hành, bệnh nhân có thể cảm thấy bớt khó chịu ở vùng đầu, nhịp đập của tim chậm lại, tay chân ấm lên. Đó là lúc huyết áp đã hạ bớt.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

Ngồi thiền giảm cao huyết áp

Các nhà khoa học thuộc Đại học Kentucky (Mỹ) phát hiện ngồi thiền có thể giúp giảm tình trạng cao huyết áp ở bệnh nhân.

Các chuyên gia đã rút ra kết luận trên sau khi quan sát và phân tích tình trạng sức khỏe của một nhóm bệnh nhân tham gia 9 cuộc thí nghiệm. Theo Hãng tin Reuters, kết quả cho thấy những người thường xuyên thực hành phương pháp thiền trong 20 phút, mỗi ngày 2 lần, có thể giảm từ 12 - 15% nguy cơ chết vì các chứng bệnh liên quan đến tim mạch, và giảm 15 - 20% nguy cơ đột quỵ. Phương pháp thiền được các chuyên gia đề cập ở trên là người tập ngồi trên một chiếc ghế trong tư thế thoải mái và thư giãn đầu óc

Theo TNO