Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh hẹp van động mạch chủ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh hẹp van động mạch chủ. Hiển thị tất cả bài đăng

Cứu sống những người bị hẹp van động mạch chủ


Nhằm cứu sống những người có nguy cơ tử vong do suy tim, sau khi không còn đáp ứng tốt với các thuốc điều trị cũng như không thể vượt qua các cuộc phẫu thuật, lần đầu tiên tại Việt Nam, Viện tim mạch– Bệnh viện Bạch Mai đã quyết định áp dụng kỹ thuật: Thay van động mạch chủ qua da.

Những bệnh nhân không thể phẫu thuật...

PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn- Trưởng phòng C4, Viện tim mạch cho biết, bệnh tim do thấp và sự can xi hóa van dần ở người có bệnh van động mạch chủ (ĐMC) bẩm sinh hoặc ở người già .... là những nguyên nhân chính dẫn đến tổn thương van ĐMC. Hiện nay, nhiều bệnh nhân hẹp, thoái hóa van ĐMC đến bệnh viện kèm theo nhiều bệnh lý trầm trọng khác như tăng huyết áp, đái tháo đường, xơ vữa động mạch. Hơn 80% là bệnh nhân nam tuổi từ 50 trở lên. Một bệnh nhân bị hẹp van ĐMC, nếu đã xảy ra suy tim, đau thắt ngực hoặc ngất mà không được phẫu thuật thì tiên lượng bệnh sẽ rất xấu. Việc điều trị bằng thuốc có thể làm ổn định suy tim, nhưng sau đó sẽ không còn đáp ứng tốt với các thuốc điều trị và nguy cơ tử vong do suy tim ngày một tăng. Người bệnh có thể tử vong đột ngột ngay cả khi không có triệu chứng gì. Với những bệnh nhân này, chỉ định phẫu thuật thay van ĐMC được đặt ra. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể trải qua được cuộc phẫu thuật lớn như vậy và trong quá trình thực hiện còn có 5 yếu tố làm tăng nguy cơ, cũng như ảnh hưởng đến tỉ lệ tử vong khi phẫu thuật, đó là những bệnh nhân trên 80 tuổi, suy tim độ 3, chức năng tâm thu thất trái giảm nặng, tiền sử nhồi máu cơ tim, thay van ĐMC cấp cứu hay kết hợp cùng phẫu thuật bắc cầu nối chủ-vành. Ngoài ra còn có một số điều kiện phẫu thuật khiến cho việc thay van ĐMC gặp khó khăn hơn như phẫu thuật lại trên bệnh nhân đã phẫu thuật bắc cầu nối chủ-vành, ĐMC bị vôi hóa nặng, bị xơ vữa nặng, trung thất bị chiếu xạ hay cơ tim bị tổn thương...

PGS.TS Nguyễn Hữu Tú-Trưởng Bộ môn Gây mê hồi sức, Trưởng khoa GMHS và chống đau - Bệnh viện ĐHY Hà Nội cho biết, thay van tim liên quan trực tiếp đến bộ máy tuần hoàn và hô hấp của người bệnh nên nguy cơ tử vong rất cao, đặc biệt là ở người cao tuổi do chức năng của các cơ quan đều suy giảm từ 30- 50%. Hơn nữa họ thường có các bệnh liên quan như đái tháo đường, tăng huyết áp, mạch vành, tâm phế mãn, rối loạn chuyển hoá...nên rất nhạy cảm với các thuốc dùng trong gây mê, các can thiệp của gây mê hồi sức và ngoại khoa, dễ dẫn đến suy hô hấp hoặc rối loạn huyết động nặng như tụt huyết áp, rối loạn nhịp tim, thiếu máu cơ tim. Đây là thách thức lớn khi quyết định phẫu thuật cho những bệnh nhân cao tuổi. Vì những hạn chế này mà không ít bệnh nhân cao tuổi từ chối điều trị bằng phẫu thuật. Nếu không có một phương pháp điều trị tối ưu hơn thì cơ hội sống của người bệnh cực mong manh.

Kỹ thuật thay van ĐMC qua da - phương pháp ít xâm lấn

Đây là phương pháp không phải phẫu thuật đã được các nhà tim mạch can thiệp trên thế giới thực hiện thường quy hàng ngày từ nhiều năm nay, cho các bệnh nhân cần phải thay van ĐMC. Tỉ lệ cứu sống người bệnh là rất cao, bởi kỹ thuật ít xâm lấn có thể tránh được phẫu thuật mở lồng ngực, tuần hoàn ngoài cơ thể, thời gian điều trị ngắn. Người bệnh có thể ra viện sớm. Trước khi thực hiện thủ thuật này, bệnh nhân phải được khám rất cẩn thận, tổng thể để lựa chọn đường vào cấy ghép van: qua động mạch đùi, qua động mạch dưới đòn, hay qua mỏm tim.

Việc thay van ĐMC qua da được tiến hành dưới màn huỳnh quang tăng sáng và sự hướng dẫn của siêu âm tim qua thực quản. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các nhà phẫu thuật tim mạch, can thiệp tim mạch và gây mê là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho sự thành công của thủ thuật. Theo các chuyên gia tim mạch, thủ thuật này rất an toàn và có thể dự đoán trước nhờ sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa các thành viên trong nhóm can thiệp. Đặc biệt thời điểm tiến hành tạo nhịp nhanh khi bơm bóng nong van ĐMC và bơm bóng để cấy van ĐMC là bước quan trọng, đòi hỏi các kỹ thuật viên phải giỏi về nghiệp vụ mới thao tác chính xác.

Thay đổi chất lượng cuộc sống cho người bệnh

Theo PGS. TS Nguyễn Quang Tuấn cho biết, hiện Viện tim mạch Việt Nam có thể thực hiện tốt kỹ thuật này. Viện đã chuẩn bị đủ các phương tiện cần thiết như chụp mạch số hoá, hệ thống theo dõi huyết động, các phương tiện chẩn đoán hình ảnh có chất lượng cao, máy tim phổi nhân tạo, các phương tiện để xử trí các biến chứng, bóng nong và stent động mạch vành, các dụng cụ để chọc tháo dịch màng ngoài tim cũng sẵn sàng. Những ca can thiệp đầu tiên sẽ có sự hỗ trợ kỹ thuật của các chuyên gia Hoa Kỳ. Tuy nhiên chi phí cho mỗi ca thay van ĐMC qua da còn cao, khoảng 35.000 USD. Nhưng so với các nước trên thế giới thì chỉ bằng 2/3 và điều lớn hơn cả là nó không chỉ thay đổi chất lượng cuộc sống mà quan trọng nhất là cứu sống được người bệnh.

Đại đoàn kết

Nguy cơ do hẹp van động mạch chủ

Hẹp van động mạch chủ có thể xảy ra trong các trường hợp: sau khi mắc bệnh thấp tim, sự calci hoá van dần dần ở người có bệnh van động mạch chủ bẩm sinh hoặc ở người già. Trên 80% bệnh nhân là nam giới.

Dấu hiệu bị hẹp van động mạch chủ

Khi các lá van hẹp nhẹ dày hoặc thô ráp (xơ hoá van động mạch chủ) hoặc giãn động mạch chủ có thể gây ra tiếng thổi và rung điển hình mà không gây ra rối loạn huyết động rõ rệt. Ở những trường hợp bệnh nhẹ hoặc trung bình, dấu hiệu đặc trưng là tiếng thổi tâm thu ở vùng van động mạch chủ lan lên cổ và xuống mỏm. Trong những ca bệnh nặng, sự phập phồng của thất trái hoặc rung miu có thể sờ thấy rõ rệt, tiếng thứ hai của van động mạch chủ yếu hoặc mất hay có sự tách đôi đảo ngược của tiếng thứ hai. Bình thường diện tích van là 3-4cm2, khi diện tích van dưới 0,8-1 cm2, thời kỳ tâm thu của tâm thất dài hơn và kiểu nảy chậm và yếu điển hình ở động mạch cảnh, tuy nhiên dấu hiệu này không đáng tin cậy ở những người già bị xơ cứng động mạch nặng. Phì đại thất trái tăng dần, dẫn tới tăng áp lực tâm trương. Cung lượng tim vẫn được duy trì cho tới khi van bị hẹp nặng, với diện tích lỗ van dưới 0,8cm2. Bệnh nhân có thể có suy thất trái, đau ngực hoặc ngất. Triệu chứng suy thất trái có thể tiến triển dần dần.

Nếu khám bệnh bình thường, thì việc đánh giá bệnh hẹp van động mạch chủ có thể là khó, đặc biệt ở những bệnh nhân cao tuổi. Vì vậy cần làm các xét nghiệm để xác định bệnh. Điện tâm đồ có thể thấy dày thất trái hoặc những thay đổi tái cực ở hầu hết các bệnh nhân, nhưng cũng có thể bình thường ở trên 10% số ca bệnh. Chụp Xquang ngực có thể cho thấy bóng tim bình thường hoặc to, song dễ phát hiện sự cacli hoá van động mạch chủ. Siêu âm cũng cho thấy những dấu hiệu calci hoá van động mạch chủ, sự mở cửa van và độ dày của thành cũng như chức năng thất trái. Siêu âm Doppler có thể ước lượng sự chênh áp qua van động mạch chủ.

Những kết quả xét nghiệm này có thể loại trừ hoặc chẩn đoán khá chính xác các trường hợp hẹp nặng. Tuy nhiên đối với bệnh nhân có tắc nghẽn vừa phải, nhất là có cung lượng tim thấp hoặc đồng thời bị hở van thì những đánh giá này có thể không chính xác. Phương pháp thông tim là thăm dò chẩn đoán xác định chính xác, vì có thể đo độ chệnh áp qua van và tính toán được diện tích lỗ van. Khi diện tích lỗ van dưới 0,8cm2 là bệnh nhân đã bị hẹp nặng. Chụp gốc động mạch chủ có thể xác định mức độ hở van động mạch chủ. Một xét nghiệm cần thiết cho chẩn đoán và điều trị là chụp động mạch vành cho tất cả các bệnh nhân người lớn bị hẹp van động mạch chủ.

Bệnh nhân bị hẹp van động mạch chủ thường thấy triệu chứng đau thắt ngực. Khoảng 50% số bệnh nhân hẹp van động mạch chủ do calci hoá và đau thắt ngực có sự kết hợp rõ rệt với bệnh mạch vành. Tuy nhiên bệnh mạch vành chỉ thấy ở một nửa tần số này khi không có đau thắt ngực. Nhiều bệnh nhân còn bị ngất khi gắng sức rất điển hình và có thể do rối loạn nhịp tim (thường là nhịp nhanh thất hoặc nhịp nhanh xoang), hạ huyết áp hoặc tưới máu não giảm do tăng dòng máu tới cơ khi gắng sức mà không có sự tăng cung lượng tim bù lại. Bệnh nguy hiểm là bệnh nhân có thể bị tử vong đột ngột ngay cả ở những người không có triệu chứng gì trước đó.
Chữa trị và phòng bệnh

Một bệnh nhân bị hẹp van động mạch chủ, nếu đã xảy ra suy tim, đau thắt ngực hoặc ngất mà không được phẫu thuật thì tiên lượng bệnh sẽ xấu, với tỷ lệ tử vong sau 3 năm là 50%. Tuy điều trị bằng thuốc có thể làm ổn định suy tim, nhưng tất cả những bệnh nhân có triệu chứng, kể cả những bệnh nhân có rối loạn chức năng thất trái phải được phẫu thuật để điều trị triệt để. Các bệnh nhân không có triệu chứng phải cảnh giác với nguy cơ tử vong đột ngột. Những trường hợp có chênh áp qua van nặng, trên 60-80mmHg, hoặc phì đại thất trái nặng cần phải thay van. Một nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tử vong phẫu thuật đối với thay van là 2-5% và tăng lên tới 10% ở những bệnh nhân trên 70 tuổi. Cần dùng thuốc warfarin chống đông máu là cần thiết đối với van cơ học nhưng không nhất thiết phải dùng với van giả sinh học. Van giả sinh học thường bị thoái hoá và cần phải phẫu thuật lại sau 7-10 năm.

Sau phẫu thuật nhiều bệnh nhân tiếp tục có rối loạn dẫn truyền hoặc rối loạn nhịp thất. Gần đây, nhiều cơ sở y tế đã dùng phương pháp nong van bằng bóng cho bệnh nhân hẹp van động mạch chủ. Kết quả hẹp có thể giảm bớt trong hầu hết các trường hợp nhưng tỷ lệ tử vong của thủ thuật này gần bằng với tỷ lệ tử vong của phẫu thuật. Hẹp lại xảy ra vào khoảng 50% các trường hợp trong 6-12 tháng đầu. Phương pháp này nên được cân nhắc chỉ hạn chế sử dụng cho những người khó có khả năng phẫu thuật hoặc đó là biện pháp trung gian nhằm ổn định cho những bệnh nhân có nguy cơ cao trước khi phẫu thuật.

Phòng bệnh tốt nhất là điều trị triệt để bệnh thấp tim. Phòng và chữa các bệnh tim mạch như bệnh mạch vành, vữa xơ mạch máu, đái tháo đường, bỏ rượu, thuốc lá, thuốc lào.

ThS. Trần Quốc An - skđs