Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh tai biến mạch máu não. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh tai biến mạch máu não. Hiển thị tất cả bài đăng

Chăm sóc người bệnh tai biến mạch máu não


t

Ở các nước phát triển tai biến mạch máu não là nguyên nhân gây tử vong thứ ba sau bệnh ung thư và tim mạch... Người bệnh tai biến mạch máu não, phải được chăm sóc và điều trị theo chế độ đặc biệt nhằm hạn chế các di chứng và phòng tái phát.

Phòng tránh bệnh tai biến mạch máu não

Theo Tổ chức y tế thế giới, tai biến mạch máu não là các thiếu sót thần kinh xảy ra đột ngột với các triệu chứng khu trú hơn là lan toả. Các triệu chứng tồn tại quá 24h, loại trừ nguyên nhân sang chấn. Tai biến mạch máu não được chia làm hai lại chính là là nhũn não (tắc mạch máu não) và xuất huyết não(chảy máu não).

Người bị tai biến mạch máu não, phải được chăm sóc và điều trị theo chế độ đặc biệt. Chế độ ăn cần đảm bảo đủ chất dinh dưỡng và cân đối.

Nên dùng thức ăn mềm, dễ tiêu như: cháo, súp, sữa, nước hoa quả tươi. Kiêng sử dụng các chất béo và chất kích thích (rượu, bia, chè đặc, cà phê), hạn chế muối ở bệnh nhân bị cao huyết áp, bệnh thận, và cho ăn thành nhiều bữa nhỏ từ 4 - 5 bữa ăn/ ngày.

Người bị tai biến mạch máu não cần được thay đổi tư thế nằm thường xuyên đặc biệt ở giai đoạn cấp sau đột quỵ. Không nên nằm trên giường qua cứng hoặc quá mềm, vệ sinh cở thể thường xuyên nhất là các chỗ bị tỳ đè để tránh viêm loét, mảng mục.

Nên thường xuyên vỗ rung ở sau lưng vì bệnh nhân nằm lâu 1 chỗ rất dễ bị viêm phổi, tăng tiết đờm dãi, xoa bóp vận động nhẹ nhàng để khí huyết lưu thông tránh hiện tượng teo cơ, cứng khớp.

Bệnh nhân tai biến mạch máu não sau khi qua giai đoạn nguy kịch nên sớm kết hợp với các phương pháp khác như châm cứu, xoa bóp, dùng thuốc đông y, phục hồi chức năng… để sớm phục hồi, hạn chế tối đa các di chứng về sau.

Tìm ra phương pháp mới cứu bệnh nhân đột quỵ


Các nhà khoa học vừa tìm ra phương pháp mới điều trị bệnh đột quỵ bằng cách tiêm những tế bào gốc vào não, giúp phục hồi những phần não bị hư hại.

Những thí nghiệm lâm sàn đầu tiên trên thế giới đã mang lại thành công. Năm ngoái, các bác sĩ đã áp dụng phương pháp mới này đối với một bệnh nhân nam cao tuổi. Ông là bệnh nhân đầu tiên trên thế giới được điều trị bằng phương pháp này với một liều lượng rất thấp, và kết quả thu được không có gì bất lợi.

Trong lần đánh giá độc lập về một cuộc thử nghiệm tiêm tế bào gốc vào não của 3 bệnh nhân tại bệnh viện đa khoa phía nam Glasgow, họ đã rút ra kết luận cuối cùng là không có bất kỳ sự ảnh hưởng bất lợi nào.

Mặc dù phương pháp mới sử dụng tế bào gốc tiêm vào não ở người vẫn còn ở giai đoạn đầu, nhưng nó cũng trở thành một nguồn an ủi lớn lao cho các bệnh nhân đột quỵ. Theo một thống kê của hiệp hội đột quỵ thì ở Anh có khoảng 67.000 người mỗi năm bị tử vong bởi căn bệnh nguy hiểm này.

Theo dự kiến của các bác sĩ, trong những năm tiếp theo họ sẽ áp dụng phương pháp điều trị này cho 9 bệnh nhân hoặc hơn với những với liều lượng lớn hơn và sẽ kéo dài ít nhất trong 18 tháng.

TTO

Phương pháp ngừa đột quỵ đơn giản


Tập luyện thể dục có lợi ích trong việc ngừa đột quỵ cũng như bệnh tim mạch.

Nghiên cứu trên một nhóm 11.000 đàn ông cho thấy, khi một người đốt cháy từ 2.000 - 3.000 calories/tuần (khoảng 1 giờ đi bộ nhanh 5 lần/ tuần) giúp giảm một nửa nguy cơ bị đột quỵ. Nhóm người đốt cháy từ 1.000 - 2.000 calories hoặc nhiều hơn 3.000 calories/tuần cũng giảm nguy cơ mắc bệnh cao. Nghiên cứu tương tự cho biết, tập luyện thể dục bao gồm giải trí, tiêu khiển có tác dụng cao hơn so với tập luyện đơn giản hàng ngày như đi bộ hoặc leo trèo. Ở phụ nữ, các hình thức tập luyện như đi bộ hoặc đi bước dài thay vì đi bộ ngẫu nhiên, cũng giúp phòng bệnh tốt hơn.

Các loại vitamin gồm có: acid folic như vitamin B, folate (một dạng của acid folic) có thể phòng ngừa đột quỵ. Nếu trong máu có lượng acid folic cao, nguy cơ mắc bệnh sẽ càng giảm so với người có lượng acid folic ở mức trung bình do lượng homocysteine, loại amino acid có liên quan đến việc gia tăng đột quỵ, bệnh mạch vành cũng như bệnh alzheimer, đã bị sụt giảm. Khi lượng homocysteine ở mức thấp sẽ kết hợp với acid folic giảm nguy cơ đột quỵ khoảng 24% và bệnh tim mạch khoảng 16%.

Tác động kháng oxy hóa của các vitamin kháng oxy hóa và carotenoid có tác dụng ngừa đột quỵ, chứng mất trí nhớ hoặc cả hai. Tuy nhiên, với vitamin A, E hoặc Beta Carotene lại không có tác dụng ngừa bệnh. Canxi, kali và magiê được xem là những chất điện phân trong cơ thể và có tầm quan trọng trong việc kiểm soát áp lực máu, đề phòng đột quỵ. Ăn nhiều thực phẩm chứa kali có thể ngừa bệnh từ 22 - 24% nhờ giảm bớt áp lực máu. Cơ thể thiếu kali có thể tăng nguy cơ mắc bệnh đột quỵ ở một số người đặc biệt nam giới có huyết áp cao. Canxi có liên quan đến việc giảm nguy cơ đột quỵ ở phụ nữ cũng như nam giới, nếu uống nhiều sữa hơn.

Những triệu chứng xuất hiện đột ngột và tiến triển nhanh như liệt, tê mặt, liệt tay hay chân một bên người, không nhìn rõ hoàn toàn một bên mắt, nói lắp bắp hoặc không nói được… đều là dấu hiệu báo trước một cơn tai biến mạch máu não đến ngay sau đó chỉ vài phút.

Tai biến mạch máu não là gì?

Tai biến mạch máu não, hay còn gọi là đột quỵ não, là tình trạng rối loạn chức năng thần kinh gồm hai giai đoạn chính là nhồi máu não và xuất huyết não. Động mạch não đảm nhận vai trò mang ôxy và các chất dinh dưỡng đến nuôi não, đồng thời loại thải khí carbonic và chất thải của tế bào. Một khi động mạch não bị tắc, các tế bào não không được cung cấp đủ năng lượng sẽ ngưng hoạt động, đó cũng là nguyên nhân gây nên tai biến mạch máu não. Nếu động mạch não bị tắc nghẽn nhiều hơn một vài phút, các tế bào não có thể bị chết.

Biến chứng nặng nề

Biến chứng của những cơn tai biến để lại thường rất nặng nề, từ liệt nửa người, liệt toàn thân, bại não, thậm chí là tử vong. Đặc biệt là người đã bị tai biến mạch máu não sẽ có nhiều nguy cơ tái phát. Do đó phải chú ý điều trị tích cực để phòng ngừa tái phát.

Nhiều người lầm tưởng tai biến mạch máu não là bệnh của người già, nhưng với áp lực của cuộc sống hiện đại ngày nay, bệnh không còn là nỗi lo của riêng ai nữa. Chính vì vậy, để tránh phải hứng chịu những biến chứng nặng nề và bất ngờ do tai biến mạch máu não đem lại, mỗi chúng ta nên chủ động bảo vệ sức khoẻ bộ não của mình ngay từ bây giờ.

Làm sao để phòng ngừa bệnh tai biến

Mặc dù tai biến mạch máu não là bệnh nguy hiểm song hoàn toàn có thể giảm được nguy cơ bệnh nếu biết cách phòng ngừa.

Đầu tiên, để phòng tránh bị tai biến mạch máu não, theo GS.BS Lê Văn Thành, cần phải: phát hiện sớm bệnh tăng huyết áp, bởi rất nhiều bệnh nhân chỉ được phát hiện huyết áp tăng cao, khi đã bị tai biến mạch máu não. Nếu đã biết mình mắc bệnh tăng huyết áp, thì cần theo dõi tình trạng huyết áp, và chữa trị đúng.

Liệu pháp thay đổi lối sống (thực hiện chế độ ăn kiêng và hoạt động thể lực) là biện pháp quan trọng làm giảm nguy cơ bị vữa xơ động mạch nói chung và tai biến mạch máu não nói riêng.

Liệu pháp thay đổi lối sống bao gồm: Cai thuốc lá; có chế độ dinh dưỡng giàu vitamin, khoáng chất, hạn chế ăn quá nhiều chất béo và các thực phẩm giàu calo, liệu pháp dinh dưỡng còn nhằm làm giảm lượng lipid máu, giảm huyết áp và giảm đường máu nếu bệnh nhân bị đái tháo đường; Tăng hoạt động thể lực sẽ làm cải thiện tình trạng tim mạch và làm cải thiện các yếu tố nguy cơ tim mạch như rối loạn lipid máu, béo phì và tăng huyết áp. Tạo cuộc sống tinh thần vui tươi, thanh thản; dẹp bỏ những muộn phiền, tránh stress

Kiểm soát trị số huyết áp: Tăng huyết áp rất hay gặp ở người có tuổi. Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ bị các biến chứng tim mạch (đột quỵ, bệnh động mạch vành và mạch máu ngoại biên). Mục tiêu điều trị nhằm đạt trị số huyết áp dưới 140/90mmHg. Thay đổi lối sống và dùng thuốc được áp dụng cho các bệnh nhân có huyết áp trên 140/90mmHg. Các nghiên cứu gần đây cho thấy việc quan trọng nhất trong điều trị tăng huyết áp là đạt được trị số huyết áp mục tiêu.

Thời tiết thay đổi: Gia tăng bệnh nhân đột quỵ


Không chỉ người già, người có bệnh huyết áp, tim mạch mà cả người trẻ, thanh niên cũng phải nhập viện vì đột quỵ do thời tiết thay đổi từ nắng nóng sang mát mẻ.

Chủ yếu do chảy máu não

Anh Lê Hồng P., 50 tuổi ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh dù đã được bác sĩ tận tình cứu chữa hai hôm nay, song vẫn hôn mê sâu, phải thở máy, khả năng sống rất khó khăn. Chị Nguyễn Thị Thủy, vợ anh cho biết, anh rất khỏe mạnh, đi lái xe về nghỉ một chút rồi dậy tắm thì thấy đau đầu dữ dội, người choáng, gia đình đưa đến bệnh viện huyện tiêm hồi sức lúc 5h45 chiều, đến 8h thì được về, đến 10h đêm anh bị đau đầu nhiều hơn, nôn, mắt trợn… gia đình đưa tới bệnh viện tỉnh cấp cứu được 3 ngày thì chuyển ra Viện 103. BSCKI Nguyễn Văn Tuấn cho biết, bệnh nhân bị chảy máu não do vỡ phình động mạch não khi thay đổi thời tiết (huyết áp ổn định 130/70 mmHg). Do điều trị muộn lên chảy máu não tái phát và rất nguy kịch.

Phòng cấp cứu khoa đột quỵ BV 103 đông kín bệnh nhân

Giường bên cạnh là bà Trần Thị T, 59 tuổi, Thanh Xuân Hà Nội cũng bị chảy máu tiểu não bán cầu dẫn tới hôn mê sâu, suy hô hấp… Tương tự, anh Nguyễn Văn V., 37 tuổi, Hà Đông, Hà Nội người khỏe mạnh, huyết áp 140/70 mmHg, tiền sử không có vấn đề về bệnh tật, tự dưng bị đau đầu, ý thức lơ mơ, nôn, liệt nửa người trái… Do gia đình đưa vào viện sớm nên sau 2 ngày anh đã ổn định.

BSCKI Nguyễn Văn Tuấn, Khoa đột quỵ cho biết, mấy ngày hôm nay thời tiết thay đổi từ nắng nóng sang mát và se lạnh khiến số bệnh nhân nhập viện tăng đột biến. Bình thường, mỗi ngày khoa tiếp nhận 3– 4 bệnh nhân nhập viện, song 3– 4 ngày nay do thời tiết thay đổi, ngày nào khoa cũng nhận 7–8 bệnh nhân, thậm chí 10 bệnh nhân nhập viện điều trị, khiến không ít bệnh nhân phải nằm ghép. Điều đáng quan tâm là không chỉ có bệnh nhân cao tuổi, người có nguy cơ cao như đái tháo đường, tim mạch, huyết áp mà nhiều bệnh nhân trẻ, không có bệnh mạn tính cũng nhập viện trong tình trạng rất nguy kịch.

Bác sỹ Tuấn cho biết, các bệnh nhân đột quỵ nhập viện đợt này, rất ít bệnh nhân nhồi máu do cơn tăng huyết áp, vữa xơ động mạch não và mảng vữa xơ bị nứt, gây xuất hiện cục máu đông, gây tắc động mạch não... mà chủ yếu là do chảy máu não.

Đây là bệnh rất nguy hiểm, tiềm tàng thường gặp ở người 50 – 60 tuổi, thậm chí ở đối tượng trẻ nhỏ. Bệnh chủ yếu do dị dạng mạch máu não. Dị dạng này có từ lâu, tiến triển một cách âm thầm mà con người không biết. Các mạch máu đã dị dạng, mỗi ngày một giãn ra, yếu đi. Có một cơ hội nào đó (do áp lực công việc nhiều, uống rượu bia, hút thuốc lá, hít hêroin…) làm ảnh hưởng đến sự co thắt mạch máu, cộng thêm nhiệt độ thay đổi, nóng lạnh đột ngột làm mạch máu co thắt nhiều, dẫn đến bị vỡ, gây xuất huyết não. Nguyên nhân của tình trạng này là do cuộc sống có nhiều thay đổi, người ta sử dụng quá nhiều bia, rượu, thuốc lá, thức ăn chứa nhiều dầu, mỡ...

Bên cạnh đó lối sống, làm việc căng thẳng, nghỉ ngơi không hợp lý, stress... cũng là nguyên nhân gây bệnh. Điều nguy hiểm là bệnh khởi phát với rất ít dấu hiệu cảnh báo nhưng lại gây chết người nếu không được xử lý thật nhanh.

Kiểm tra sức khỏe cho bệnh nhân P.

Dễ tử vong và tàn phế nếu không cấp cứu kịp

Các chuyên gia cho biết, đây là một trong 3 bệnh gây tử vong hàng đầu (tim mạch, ung thư, tai biến mạch máu não). Bệnh có thể gây tử vong ngay giờ đầu, ngày đầu, hay tuần đầu. Việc điều trị tốn kém mà hiệu quả không cao vì thường để lại di chứng nặng nề như tàn phế, yếu liệt, khiếm khuyết một chức năng nào đó trong cơ thể, không thể sinh hoạt một cách bình thường, sống đời sống thực vật. Nghiên cứu cho thấy, 60 – 70% bệnh nhân sau tai biến sống phải có sự trợ giúp một phần hay hoàn toàn của người khác, không những thiệt thòi đối với bản thân và còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Đa phần người dân khi thấy bệnh nhân bị đột quỵ lại tưởng do trúng gió, bị cảm… nên nên thường đánh gió cho uống uống nước chanh, nước gừng đường… Điều này rất nguy hiểm, tuyệt đối không được làm vì nước uống vào sẽ gây sặc đường thở, làm suy hô hấp cấp hoặc tăng huyết áp sẽ nguy hiểm hơn.

BS Nguyễn Văn Tuấn cho biết, thời tiết thay đổi đột ngột dễ làm biến động huyết áp, nhịp tim, thay đổi thành mạch, gây rối loạn huyết động. Đột quỵ có thể là một biến chứng từ các rối loạn trên, trong đó 75% là do tăng huyết áp nhưng cũng có nhiều trường hợp không rõ nguyên nhân. Đặc biệt, tình trạng tai biến mạch máu não rất dễ xảy ra nếu người bệnh có sẵn bệnh lý tăng huyết áp, đái tháo đường hoặc rối loạn chuyển hóa lipid (tăng mỡ máu). Bệnh chủ yếu gặp ở người già, nhưng người trẻ cũng có thể mắc.

Để phòng tránh, những người bị bệnh huyết áp, tim mạch, đái tháo đường... cần theo dõi thời tiết và kiểm soát huyết áp chặt chẽ khi thời tiết thay đổi. Nếu thấy người nôn nao khó chịu cần phải nghỉ ngơi, tránh sự gắng sức, giữ ấm cơ thể theo sự thay đổi của thời tiết. Trường hợp thấy các biểu hiện đột ngột như yếu nửa người; nói ngọng hoặc không nói được; tê bì hoặc liệt nửa mặt, nửa người; nhìn không rõ, đau đầu dữ dội, nôn mửa, có lúc thở nhanh dồn dập, có cơn ngừng thở ngắn hoặc hôn mê... thì cần nhanh chóng đưa đến bệnh nhân đến bệnh viện càng sớm càng tốt để bác sĩ xác định nguyên nhân và có hướng điều trị kịp thời hiệu quả.

Chẳng hạn, nếu đột quỵ do nhồi máu não có thể dùng thuốc tiêu huyết khối giúp tái tạo sự lưu thông trong vòng 3 giờ đầu. Trường hợp chảy máu sẽ điều trị để ổn định huyết động tránh phù não, chảy máu tái phát như trường hợp của anh P. Khi di chuyển, nên để bệnh nhân trên mặt phẳng, nghiêng mặt sang 1 bên, tránh sặc vào đường hô hấp, nới bớt quần áo cho thoáng.

Thuốc trị nhồi máu não


Tai biến mạch não (TBMN) là bệnh lý thần kinh hay gặp nhất và là một cấp cứu lớn trong y học, là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 sau các bệnh lý về tim mạch và ung thư, đồng thời là một bệnh gây tàn phế mắc phải ở người trưởng thành, là gánh nặng cho gia đình bệnh nhân (BN) và xã hội.

TBMN gặp ở mọi nơi, tần suất mắc bệnh là 75 trường hợp/100.000 dân (theo một nghiên cứu tại Hà Nội), tỷ lệ tử vong khoảng 30% (theo một nghiên cứu tại TP. Hồ Chí Minh). Bệnh tăng lên rõ rệt theo tuổi (phổ biến nhất ở lứa tuổi 60 - 80), nam mắc bệnh nhiều hơn nữ. TBMN xảy ra quanh năm nhưng gặp nhiều hơn về mùa lạnh và những tháng chuyển mùa hoặc vào những ngày thay đổi thời tiết đột ngột, nhiệt độ càng thấp thì TBMN càng nhiều, đặc biệt bệnh xảy ra nhiều vào lúc sáng sớm.

Mạch máu bị tắc nghẽn gây nhồi máu não.
TBMN bao gồm hai thể, thể nhồi máu não và thể chảy máu não. Nhồi máu não (thiếu máu não cục bộ, nhũn não) xảy ra khi một mạch máu bị tắc, nghẽn, khu vực tưới bởi mạch đó bị thiếu máu và hoại tử. Nhồi máu não chiếm khoảng 80 - 85% trong tổng số các bệnh nhân TBMN. Mặc dù TBMN vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu nhưng việc phát hiện và điều trị khịp thời cũng làm giảm tỷ lệ tử vong cũng như tỷ lệ di chứng.

Các biểu hiện lâm sàng của nhồi máu não

Bệnh thường khởi phát đột ngột hoặc từ từ, tăng dần trong vài giờ đến vài ngày đầu các triệu chứng thần kinh tùy thuộc vào vị trí tổn thương như tê bì hoặc liệt nửa người, nói khó, lú lẫn...

Nếu bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng trên cần đưa ngay đến chuyên khoa thần kinh khám và làm các xét nghiệm để chẩn đoán xác định bệnh cũng như nguyên nhân gây bệnh.

Điều trị nhồi máu não như thế nào?

Mục tiêu: Điều trị càng sớm càng tốt nhằm hạn chế tử vong và di chứng cho người bệnh, bao gồm điều trị giai đoạn cấp và điều trị dự phòng tái phát.

Điều trị nhồi máu não giai đoạn cấp:

- Điều trị nhằm hạn chế tổn thương các tế bào thần kinh: Các biện pháp chung (thở ôxy, chống toan máu, kiểm soát đường máu không vượt quá 12-14mg/lít); chống phù não bằng manitol hoặc glycerol; dùng các thuốc ức chế canxi và bảo vệ tế bào thần kinh khác như nimodipine... (trong tương lai có thể sử dụng một số thuốc bảo vệ tế bào thần kinh như các thuốc ức chế glutamat (NMDA), các thuốc ức chế gốc tự do).

- Điều trị nhằm vào mạch máu: Làm pha loãng máu (trong nhồi máu não thì tỷ lệ hematocrite tăng do đó dẫn đến giảm lưu lượng tuần hoàn nên cần pha loãng máu nhưng phải theo dõi chức năng tim và quản lý huyết áp; sử dụng các thuốc chống đông và tiêu huyết khối nhưng phải theo dõi và chỉ định chặt chẽ (heparin được chỉ định trong bóc tách động mạch cảnh hoặc sống nền; fraciparin được chỉ định điều trị dự phòng tắc động mạch phổi và động mạch chi dưới; thuốc tiêu huyết khối được sử dụng trong trường hợp nhồi máu não thuộc động mạch não giữa ở những bệnh nhân được chẩn đoán sớm trong vòng 3 - 6 giờ sau tai biến, tại trung tâm đột qụy ở một số bệnh viện lớn; thuốc chống ngưng tập tiểu cầu như aspirin, plavix..., ngoài tác dụng điều trị dự phòng còn có tác dụng trong giai đoạn cấp); khống chế huyết áp cho phù hợp, không xử dụng thuốc hạ huyết áp quá nhanh như adalat.

- Điều trị và dự phòng các biến chứng: điều trị động kinh; điều trị các biến chứng tim mạch, hô hấp, biến chứng nhiễm trùng (viêm phổi, viêm đường tiết niệu…); điều trị biến chứng teo cơ cứng khớp, loét, mảng mục…(tập phục hồi chức năng vận động; trăn trở bệnh nhân 3 - 4 giờ/1 lần; xoa bóp vùng tỳ đè…).

- Những việc nên làm: nhanh chóng chẩn đoán xác định bệnh và nguyên nhân gây bệnh; bệnh nhân cần được nằm trên một đệm đặc biệt như đệm hơi hoặc đệm nước trong vài ngày đầu, khi huyết động ổn định chuyển sang tư thế 30 độ; thở ôxy qua ống thông mũi hoặc đặt nội khí quản nếu cần; bù nước và điện giải; theo dõi tim mạch bằng monitoring ít nhất trong 24 giờ; những việc không nên làm như sử dụng thuốc chống đông hoặc chống ngưng tập tiểu cầu mà không chụp cắt lớp vi tính sọ não; dùng thuốc hạ huyết áp quá nhanh như adalat.

Điều trị dự phòng tái phát

Điều trị tốt các yếu tố nguy cơ của TBMN như uống thuốc huyết áp thường xuyên theo đơn của bác sĩ, ăn nhạt muối, hạn chế mì chính; bỏ bia, rượu và thuốc lá; không dùng sâm, nhung hoặc cam thảo; kiểm soát tốt đường máu; hạn chế ăn mỡ động vật, thay bằng dầu thực vật; đi bộ, tập thể dục đều đặn tránh béo phì hoặc tăng cân; bóc lớp áo trong của động mạch cảnh khi hẹp trên 70%; điều trị thuốc chống ngưng tập tiều cầu (aspirin 100 - 300mg/ngày kéo dài 3 tháng trong trường hợp nhồi máu não lần đầu hoặc thiếu máu não cục bộ thoảng qua; kéo dài 6 tháng trong trường hợp nhồi máu não tái phát (cần tuân thủ chống chỉ định); điều trị thuốc kháng vitamin K trong trường hợp nhồi máu não có nguồn gốc từ tim.

BS. Khúc Thị Nhẹn

Trời rét, người bệnh cao huyết áp dễ tai biến


Dù thời tiết Hà Nội ngày 12-1 ấm hơn vài độ nhưng số người cao tuổi bị hen phế quản, viêm phổi, viêm phế quản, tim mạch... nhập viện do trời lạnh vẫn không giảm.

Trời rét làm nhiều bệnh nhân mắc các bệnh về tim mạch nhập viện. Trong ảnh: các ca khám cấp cứu tại khoa tim mạch Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội chiều 12-1 - Ảnh: Hoàng Ngọc

TS Nguyễn Lân Việt, viện trưởng Viện Tim mạch quốc gia, cho biết mùa rét lượng bệnh nhân cao huyết áp gặp các tai biến nhập viện rất nhiều. Đặc biệt là biến chứng phình tắc động mạch chủ - một loại biến chứng nặng ở bệnh nhân cao huyết áp trước đây ít gặp - nhưng mùa rét năm nay ngày nào cũng có người vào viện và viện đang có một số bệnh nhân rất nặng do phình tắc động mạch chủ.

Theo ông Việt, thời tiết không phải là căn nguyên gây các biến chứng ở người bệnh cao huyết áp, nhưng là yếu tố thuận lợi khiến mạch máu co lại, huyết áp tăng và các biến chứng xuất hiện. Các bệnh nhân phình tắc động mạch chủ sẽ có biểu hiện cây động mạch chủ bị xé toác, nếu vết xé lớn bệnh nhân có thể tử vong, trường hợp nhẹ hơn có thể đột quỵ hoặc hôn mê.

Cũng theo ông Việt, tỉ lệ người bệnh cao huyết áp ở VN tăng rất nhanh, những năm 1960 chỉ khoảng 1% người trưởng thành mắc bệnh này, năm 1992 số người trưởng thành cao huyết áp là 11,2% và điều tra gần đây nhất ở nhóm trên 25 tuổi có tới 25% cao huyết áp. Ông Việt cho biết những trường hợp huyết áp cao đột ngột là thời điểm dễ tai biến nhất.

Ông Việt khuyến cáo người bệnh cao huyết áp cần giữ ấm cơ thể trong thời tiết này. Ngoài mặc đủ ấm, người bệnh cần được bổ sung nhiệt bằng các biện pháp như sưởi ấm, cung cấp đủ dinh dưỡng. Người bệnh cao huyết áp cần uống thuốc đều đặn và đo huyết áp thường xuyên trong điều kiện thời tiết lạnh. Cần cảnh giác bị tai biến trong các trường hợp đang ở trong phòng ấm, mở cửa đột ngột và bị gió lùa, hoặc bị tai biến sau khi ra khỏi chăn đột ngột để vào nhà vệ sinh, nhất là vào ban đêm.

TTO

Đột qụy do tăng huyết áp


Nguy hiểm của đột qụy do THA?

Đột qụy (stroke) do tăng huyết áp hay thường được gọi là tai biến mạch não do tăng huyết áp là một thuật ngữ chung để chỉ các bệnh do tắc mạch não (nhồi máu não) và do chảy máu não (xuất huyết não). Bệnh hay gặp ở người lớn tuổi. Nguyên nhân chủ yếu của bệnh là do xơ vữa động mạch và tăng huyết áp.

Khi bị đột qụy, một phần não bị hư hại đột ngột do mất máu nuôi não do tắc hoặc vỡ mạch máu não. Khi thiếu máu lên não, các tế bào não sẽ ngừng hoạt động và sẽ chết đi sau vài phút. Những tổn thương này dẫn đến các vùng cơ thể do phần não đó điều khiển sẽ bị tổn thương như yếu, liệt, tê, mất cảm giác nửa người, không nói được hoặc hôn mê, thậm chí tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Nhiều trường hợp được cứu sống nhưng có thể bị tàn phế suốt đời, giảm tuổi thọ và không còn khả năng lao động, khó hoà nhập cuộc sống bình thường.

Những trường hợp mạch não bị tắc do mảng xơ vữa ở thành mạch dày dần lên, làm hẹp dần lòng mạch và kết hợp với việc hình thành cục máu đông. Mạch máu bị vỡ do tăng huyết áp gây xuất huyết não làm chảy máu, chèn ép não bộ và đôi khi xuất huyết ở khoang dưới nhện (mạch máu bị vỡ ra làm máu chảy vào khoang trống bao quanh não).

Biểu hiện lâm sàng do tắc mạch hoặc do vỡ mạch khó có thể phân biệt, để chẩn đoán nguyên nhân phải dựa vào các yếu tố tiền căn, bệnh có sẵn và xét nghiệm cận lâm sàng (chụp Xquang sọ não, MRI, CT scanner)

Trong trường hợp điển hình, các triệu chứng xuất hiện đột ngột, tiến triển chỉ trong vài giờ (hoặc vài ngày). Trên lý thuyết, các triệu chứng thần kinh khu trú tương ứng với khu vực tưới máu của động mạch bị tổn thương, tuy nhiên do các động mạch thông nối với nhau nên có sự cấp máu bù bởi các động mạch còn nguyên vẹn làm nhòe các triệu chứng.

Những người bị tăng huyết áp có nguy cơ cao bị đột qụy là những người trên 55 tuổi có kèm theo các bệnh phối hợp như đái tháo đường, vữa xơ động mạch, rối loạn lipid máu, các bệnh mạch vành, van tim, loạn nhịp tim, hút thuốc lá, béo phì- thừa cân, lười vận động và bị stress.

Phòng ngừa đột qụy như thế nào?

Để phòng ngừa bệnh có hiệu quả cần tuân thủ tốt các chế độ phòng bệnh:

a. Phòng bệnh cấp một bao gồm các hành động với mục đích không cho bệnh hoặc tác nhân xấu có cơ hội gây ra bệnh tật.

b. Phòng bệnh cấp hai với mục đích phát hiện ra bệnh ở giai đoạn mới chưa có triệu chứng. Nhờ đó khi áp dụng, các phương thức điều trị có thể trì hoãn hoặc chặn đứng không cho bệnh xảy ra.

c. Phòng ngừa cấp ba là để tránh các biến chứng xấu của bệnh mà không may đang mắc phải.

Huyết áp cao là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra đột qụy. Các nhà y học đã coi tăng huyết áp như kẻ giết người thầm lặng. Ở người tăng huyết áp, nguy cơ bệnh tăng lên gấp 3 hoặc 4 lần so với người bình thường. Cả huyết áp tâm thu và tâm trương đều quan trọng như nhau và đều là nguy cơ gây tai biến này. Tăng huyết áp là nguyên nhân gây đột qụy quan trọng nhất và ta có thể điều chỉnh được. Duy trì huyết áp ở mức độ bình thường là yếu tố quan trọng trong việc ngăn ngừa đột qụy.

Vì thế mỗi người cần theo dõi huyết áp đều đặn, đo ít nhất 2 lần mỗi năm. Nhiều người không biết huyết áp mình cao vì bệnh thường thường không có triệu chứng.

Kiểm soát trị số huyết áp và khống chế huyết áp để đạt được trị số huyết áp mục tiêu. Nguyên tắc sử dụng thuốc hạ áp là nên bắt đầu với một thuốc liều thấp hoặc phối hợp các nhóm thuốc với liều thấp để vừa đạt được hiệu quả điều trị vừa làm giảm tác dụng phụ.

Huyết áp nên duy trì dưới 120/80mmHg. Trên mức này đã được coi như tiền tăng huyết áp và cần được theo dõi. Trên mức 140/90mmHg là tăng huyết áp... Dùng thuốc hạ huyết áp theo hướng dẫn của bác sĩ, đừng bỏ sót một ngày nào dù thấy khỏe mạnh và cả khi huyết áp đã trở về trong giới hạn bình thường. Nếu cho rằng có thể giảm liều lượng thuốc thì hãy hỏi ý kiến bác sĩ.

Các yếu tố nguy cơ cần được kiểm soát như:

- Không hút thuốc lá, thuốc lào.

-Hạn chế ăn muối.

- Giảm cân nặng nếu béo phì.

- Vận động cơ thể đều đặn và cần tập thể dục 30-45 phút mỗi ngày, là giảm được nhiều nguy cơ.

- Giảm căng thẳng tâm thần vì stress gây tăng huyết áp và có thể gây ra đột qụy.

- Ăn chế độ ăn giảm mỡ.

- Điều trị tốt bệnh đái tháo đường, cần duy trì đường huyết ở mức độ trung bình, vì bệnh này làm tăng nguy cơ tai biến từ 2 - 4 lần cũng như tăng tỷ lệ tử vong.

- Aspirin với đột qụy: aspirin giảm sự ngưng kết của tiểu cầu, do đó được dùng để phòng ngừa một vài bệnh tim mạch. Nhưng việc sử dụng này là vấn đề khá tế nhị, cần được sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa.

- Điều trị rối loạn lipid máu: Những người tăng huyết áp cần được kiểm tra lipid máu định kỳ, bao gồm cholesterol toàn phần, LDL-C, triglycerid và HDL-C sau khi nhịn đói 10-12 giờ. Nên kiểm tra định kỳ lượng lipid máu 6-12 tháng/lần. Điều trị bằng thuốc phải kết hợp với liệu pháp thay đổi lối sống.

Ngoài ra, không nên quan niệm bị đột qụy có nghĩa là cuộc đời chấm dứt.

Cho nên, điều cần thiết là người bệnh phải có thái độ tích cực, tin tưởng ở các phương pháp điều trị, phục hồi chức năng và chủ động trong việc tự săn sóc, và với sự hỗ trợ, chăm sóc của người thân.

Dự án phòng, chống bệnh tăng huyết áp quốc gia - Viện tim mạch Việt Nam

TS.BS. Phạm Quốc Khánh (Viện Tim mạch Việt Nam)

Ngăn chặn tái phát tai biến mạch máu não


Câu chuyện được ghi lại qua lời kể của anh Đỗ Xuân S., sinh năm 1961, nhà số 9, đường Chu Văn Thịnh, Tổ 1, phường Tô Hiệu, TP Sơn La, tỉnh Sơn La về căn bệnh tai biến mạch máu não từng xảy ra với anh và cách điều trị hiệu quả mà anh đã áp dụng.

Anh S. cho biết: “Khoảng tháng 4 năm 2000, khi tôi đang treo cờ để chuẩn bị cho đợt bầu cử Hội đồng Nhân dân nhiệm kỳ mới thì thấy tay run run, không thể giơ lên được, người bủn rủn, choáng váng, tôi tưởng mình bị cảm. Vợ tôi gọi bác sĩ đến và đo huyết áp cho tôi, huyết áp tăng cao 180/100. Sau đó, tôi bị tê nửa người bên phải, gia đình đưa tôi lên bệnh viện địa phương cấp cứu. Bác sĩ cho biết tôi bị tai biến mạch máu não nhẹ. Điều trị ở đây 10 ngày, huyết áp đã ổn định hơn nhưng tình trạng tê nửa người của tôi vẫn chưa dứt, trí nhớ suy giảm rõ rệt, tôi chỉ nhớ được những việc xảy ra một đến hai ngày là cùng, xa hơn thì chịu không nhớ nổi, tay tôi vẫn chưa viết chữ được.

Sau đó, gia đình đưa tôi xuống bệnh viện dưới Hà Nội điều trị tiếp. 10 ngày sau, tôi ra viện trong tình trạng sức khỏe tốt hơn. Tôi uống thuốc điều trị tại nhà khoảng 2 tháng thì tình trạng tê mỏi nửa người bên phải đã hết, tay viết được một chút, trí nhớ cũng khá hơn.

Do trong gia đình cũng có người đã từng bị tai biến mạch máu não nặng, tôi hiểu hậu quả của căn bệnh này rất nghiêm trọng, nếu bệnh tái phát thì nguy hiểm lắm, không biết đằng nào mà lần. Vì thế, tôi đã tìm hiểu nhiều loại thuốc Tây y, Đông y để ngăn chặn tái phát bệnh. Đến khoảng tháng 5, tháng 6 năm 2008, tôi đọc báo và được biết sản phẩm Nattospes có thể hỗ trợ điều trị, phòng ngừa rất tốt tai biến mạch máu não. Là một người trong ngành y, tôi hiểu đây là sản phẩm nguồn gốc tự nhiên, không gây tác dụng phụ, tôi mua Nattospes về dùng. Thời gian đầu tôi dùng 2 viên/ngày, sau giảm xuống 01 viên/ngày, liên tục trong 4-5 tháng. Kết quả là tôi thấy người khỏe khoắn, ăn uống ngon miệng, ngủ tốt hơn, mọi sinh hoạt đều dễ chịu, tay viết lưu loát, trí nhớ minh mẫn như bình thường và không phải dùng sổ ghi nhớ nữa. Đặc biệt, trước kia tôi rất hay đau đầu - một di chứng của tai biến, nhưng bây giờ gần như hết hẳn. Mục đích chính mà tôi sử dụng Nattospes là để phòng ngừa cơn tai biến. Và điều này đã được khẳng định, đó là từ khi dùng Nattospes đến nay, tôi chưa hề bị cơn tai biến nào”.

Anh S. chia sẻ thêm: “Đến nay, tôi vẫn duy trì dùng Nattospes, mỗi năm tôi uống 2 đến 3 đợt, mỗi đợt 2 tháng, kết hợp với ăn uống điều độ, tập thể dục nhẹ nhàng. Sức khỏe và cuộc sống của tôi đã tốt hơn nhiều”.

Skđs

Hy vọng mới cho bệnh nhân bị chứng đột quỵ

Các nhà nghiên cứu người Đức và Hà Lan ngày 21.9 cho biết, loại thuốc mới của họ có khả năng chữa trị chứng đột quỵ, một trong những căn bệnh về tim mạch gây chết người phổ biến trên thế giới.

Loại thuốc mang tên VAS2870 do Công ty dược phẩm Vasopharm của Đức sản xuất có tác dụng làm giảm những tổn hại ở não và phục hồi chức năng não khi tiến hành thử nghiệm trên chuột.

Các nhà nghiên cứu đã tìm ra enzim NOX4, chất có khả năng làm giảm tổn hại não và cho biết chất này không để lại bất kỳ tác dụng phụ nào trên cơ thể vật thí nghiệm.

Người đứng đầu cuộc nghiên cứu, ông Harald Schmidt thuộc Đại học Maastricht (Hà Lan) nói: nếu tiến hành chế tạo thuốc theo cơ chế tương tự thì khả năng chữa được chúng đột quỵ ở người rất cao, thậm chí là chữa được sau khi đột quỵ nhiều giờ.

Được biết, loại thuốc chữa trị có sẵn hiện nay là t-PA (tissue plasminogen activator); tuy nhiên, nó phải được dùng trong vòng 3 tiếng sau khi đột quỵ mới có tác dụng và chỉ 5-10% bệnh nhân được cứu sống.

baomoi

Thuốc dự phòng tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim

Tại Việt Nam, các báo cáo cũng cho thấy tai biến mạch máu não ngày càng gia tăng và đối tượng có nguy cơ cao thường là người cao tuổi và các bệnh nhân mắc phải các bệnh chuyển hoá như huyết áp, tim mạch, đái tháo đường, mỡ máu và bệnh lý mạch vành.

Với người có nguy cơ bị tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, thầy thuốc hay cho dùng các thuốc để dự phòng. Như để ngăn ngừa sự kết tập tiểu cầu dùng aspirin với liều thấp hằng ngày, các chất kháng đông tổng hợp như wanfarin, heoarin hay các chất hoạt hoá tổng hợp như streptokinase, urokinase để hoạt hoá plasminogen. Gần đây người ta còn dùng enzyme lumbrokinase (lumbrotine) được chiết xuất từ giun đất có tác dụng trực tiếp thuỷ phân sợi fibrin (tan cục máu đông). Ngoài ra lumbrokinase còn có tác dụng tăng hoạt hoá plasminogen, tuy nhiên không chỉ dự phòng enzyme lumbrokinase còn hỗ trợ trong điều trị các di chứng của tai biến mạch máu não như liệt tay chân, teo cơ, nói ngọng...

Ngoài việc dùng thuốc hằng ngày, người lớn tuổi hay những người có nguy cơ cần có một chế độ sinh hoạt phù hợp kết hợp giữa tập thể dục thể thao với các hoạt động vui chơi giải trí cũng như chế độ ăn uống khoa học để tránh được bệnh tật, đảm bảo sống vui, sống khỏe, sống có ích.

Tuy nhiên, bác nên đến phòng khám chuyên khoa để được khám và tư vấn cụ thể.

DS. Phan Lê - skđs

Dùng thuốc tiêu sợi huyết ở bệnh nhân nhồi máu não cấp tính

Đột quỵ là một bệnh khá phổ biến hiện nay. Bệnh có tỉ lệ tử vong và gây tàn phế rất cao. Việc điều trị triệt để là một trong những biện pháp quan trọng để ngăn ngừa các biến chứng này. Một trong những phương pháp điều trị là dùng các thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch và thuốc alteplase là thuốc được khuyến cáo dùng trong điều trị bệnh nhân nhồi máu não. Tuy nhiên cũng cần cảnh giác với những biến chứng của việc dùng thuốc tiêu sợi huyết

Các biến chứng của dùng thuốc tiêu sợi huyết

Biến chứng đáng ngại nhất của điều trị tiêu sợi huyết là xuất huyết não có triệu chứng trên lâm sàng, thường là chảy máu trong ổ nhồi máu.

Các thử nghiệm lâm sàng với alteplase tĩnh mạch cho thấy tỉ lệ xuất huyết não có triệu chứng xấp xỉ 6%. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chứng minh việc dùng alteplase tĩnh mạch là điều trị thường quy an toàn để điều trị nhồi máu não cấp tính khi mà bệnh nhân đáp ứng đúng các tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ (chỉ định và chống chỉ định).

Có một số yếu tố có thể làm tăng nguy cơ chảy máu sau khi dùng thuốc tiêu sợi huyết:

- Những thay đổi sớm trên CT sọ não: Phù não và hiệu ứng khối trên phim CT sọ não trước khi dùng tiêu sợi huyết là một trong hai yếu tố liên quan đến làm tăng nguy cơ chảy máu não ở những bệnh nhân điều trị alteplase tĩnh mạch. Đặc biệt khi diện nhồi máu não trên 33% chi phối của của động mạch não giữa.

- Tuổi: Nguy cơ chảy máu não khi điều trị có thể tăng ở người già, tuy nhiên các bằng chứng còn chưa rõ ràng.

- Liên quan đến các dấu hiệu trên lâm sàng và cận lâm sàng: Các dấu hiệu sau có thể làm tăng nguy cơ chảy máu nội sọ: tuổi, bệnh tim mạch, đái tháo đường, đang dùng các thuốc chống ngưng tập tiểu cầu, số lượng tiểu cầu thấp hoặc trong giới hạn thấp.
Tổn thương não trên phim chụp cắt lớp.

Chẩn đoán và xử trí chảy máu nội sọ:

Chảy máu nội sọ nên nghi ngờ ở bất kỳ bệnh nhân nào mà đột ngột có thay đổi nhận thức, giảm mức độ nhận thức, đau đầu mới xuất hiện, buồn nôn và nôn hoặc đột ngột tăng huyết áp sau khi dùng thuốc tiêu sợi huyết, đặc biệt trong vòng 24 giờ đầu điều trị. Khi nghi ngờ chảy máu nội sọ, ngay lập tức dừng truyền alteplase và tiến hành chụp CT sọ không cản quang hoặc MRI ngay cho bệnh nhân. Đồng thời cũng tiến hành lấy máu làm xét nghiệm định nhóm máu, thời gian prothrombin, thời gian thromboplastin hoạt hoá từng phần, tiểu cầu và fibrinogen.

Nếu có chảy máu trên CT hoặc MRI sẽ được xử trí bằng cách: truyền 10 đơn vị cryo để làm tăng nồng độ fibrinogen và yếu tố VIII; truyền 6-8 đơn vị tiểu cầu.

Các biến chứng khác

Tử vong:

Số liệu từ một đa phân tích cho thấy điều trị tiêu sợi huyết trong vòng 3 giờ kể từ khi có triệu chứng đầu tiên ở những bệnh nhân nhồi máu não đã làm giảm một cách có ý nghĩa tỉ lệ bệnh nhân tử vong hoặc tàn phế sau 3 - 6 tháng của đột quỵ. Tuy nhiên, nguy cơ tử vong trong vòng 7-10 ngày đầu lại tăng, chủ yếu là do tăng nguy cơ chảy máu nội sọ nguy hiểm. Nhưng vấn đề với đa phân tích này là bao gồm rất nhiều số liệu từ các thử nghiệm với việc dùng streptokinase mà những thử nghiệm này đã phải kết thúc sớm vì làm tăng tỉ lệ các biến chứng cũng như không cho thấy hiệu quả. Chính vì thế nếu đa phân tích từ 11 thử nghiệm lâm sàng không bao gồm streptokinase thì việc điều trị tiêu sợi huyết cho thấy không làm tăng tỉ lệ tử vong.

Chảy máu toàn thân:

Chảy máu toàn thân nhẹ có thể xảy ra ở nơi tiêm truyền, ở lợi, có các vết bầm máu trên da, những biến chứng này thường nhẹ và không cần dừng điều trị. Chảy máu nguy hiểm hơn như từ đường tiêu hoá, tiết niệu sinh dục có thể cần phải dừng điều trị tuỳ thuộc mức độ nặng.

Phù mạch:

Phù lưỡi xảy ra ở 1-5% số bệnh nhân được điều trị với tPA, thường thì nhẹ, thoáng qua và đối bên với bên bán cầu thiếu máu. Những bệnh nhân đang dùng thuốc nhóm ức chế men chuyển và những bệnh nhân trên CT sọ có bằng chứng nhồi máu não ở thuỳ trán có thể tăng nguy cơ. Phù mạch nguy hiểm tuy hiếm gặp nhưng có thể gây tắc nghẽn đường thở và cần phải xử trí ngay lập tức. Cần dừng truyền tiêu sợi huyết, cho thuốc kháng histamin và corticoid, đặt nội khí quản nếu có tiếng rít thanh quản.

Điều trị thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch bằng rtPA là một biện pháp điều trị được FDA chấp nhận trong điều trị những bệnh nhân nhồi máu não cấp tính. Phương pháp điều trị này áp dụng trong vòng 3 giờ từ khi xuất hiện triệu chứng đột quỵ đầu tiên, đã làm cải thiện các kết quả, đặc biệt nếu điều trị trong vòng 90 phút đầu tiên còn cho kết quả tốt hơn.

ThS. Mai Duy Tôn - Khoa Cấp cứu - BV Bạch Mai

Dùng thuốc tiêu sợi huyết ở bệnh nhân đột qụy não


Đột quỵ là một bệnh hiện nay khá phổ biến. Bệnh có tỉ lệ tử vong và gây tàn phế rất cao. Việc điều trị triệt để là một trong những biện pháp quan trọng để ngăn ngừa các biến chứng này. Một trong những phương pháp điều trị là dùng các thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch.

Đột qụy - Căn bệnh nguy hiểm

Đột qụỵ là nguyên nhân đứng hàng thứ hai sau bệnh lí tim mạch gây tàn phế và tử vong trên thế giới. Tần suất đột qụỵ thay đổi khác nhau giữa các nước và gia tăng theo lứa tuổi. Ở các nước phương Tây, 80% số trường hợp đột qụy là NMN do tắc động mạch, chỉ 20% là do xuất huyết não. Tuy nhiên ở Việt Nam, chưa có con số thống kê cụ thể.

Tỉ lệ tử vong trong tháng đầu ở những bệnh nhân NMN ở các nước phương Tây dao động từ 10 -17%, tỉ lệ này gia tăng theo lứa tuổi, có các bệnh lí kèm theo như bệnh tim mạch, đái tháo đường và tuỳ thuộc vào kích thước ổ nhồi máu.

Cho đến nay để làm giảm tỉ lệ tử vong ngoài các biện pháp điều trị dự phòng thì các biện pháp điều trị triệt để trong những giờ đầu sau nhồi máu là rất quan trọng, giúp làm giảm tỉ lệ tử vong cũng như di chứng sau nhồi máu.

Một trong những phương pháp điều trị là dùng thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch trong những giờ đầu sau khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên của bệnh. Trong đó, thời gian là yếu tố quyết định để dùng thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch. Đã có rất nhiều nghiên cứu được tiến hành với nhiều loại thuốc tiêu sợi huyết khác nhau cũng như lựa chọn thời điểm khác nhau.
Sợi fibrinogen.

Thuốc tiêu sợi huyết alteplase

Cho đến hiện nay, theo khuyến cáo của Cơ quan Quản lí thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA), thời gian trong vòng 3 giờ kể từ khi có triệu chứng đầu tiên của đột qụỵ được xem là thời gian vàng để điều trị và thuốc tiêu sợi huyết (t-PA, có nguồn gốc từ tái tổ hợp ADN) được khuyến cáo hiện nay là alteplase.

Chỉ định dùng thuốc tiêu sợi huyết ở bệnh nhân nhồi máu não (NMN) cấp tính:

Chẩn đoán NMN với các triệu chứng khởi phát <> 22mmol/l.

+ Dùng thuốc chống đông đường uống và INR lớn hơn hoặc bằng 1,7.

+ Dùng heparin 48 giờ trước đó và aPTT hiện tại kéo dài.

- Về CT sọ não:

Hình ảnh xuất huyết não trên CT hoặc MRI.

Bằng chứng có các dấu hiệu nhồi máu sớm và lớn như phù não lan toả bán cầu bên tổn thương, vùng nhu mô giảm tỉ trọng > 33% khu vực chi phối của động mạch não giữa.

Cách thức tiến hành

Theo khuyến cáo của Mỹ và các nước châu Âu, dùng liều tối đa trong 60 phút trong đó bolus 10% trong 1 phút. Tuy nhiên theo những nghiên cứu được công bố gần đây, cũng như khuyến cáo của Hiệp hội Đột qụy Nhật Bản, với liều thấp, bolus 10% trong 1 phút, 90% còn lại truyền trong vòng 1 giờ, cho hiệu quả tương tự liều cao, trong khi ít gây các biến chứng hơn. Ngoài ra cần theo dõi bệnh nhân trong các phòng hồi sức, tiếp đó tiến hành đánh giá thần kinh mỗi 15 phút trong khi truyền và mỗi 30 phút sau đó trong 6 giờ tiếp theo, rồi mỗi 1 giờ cho đến 24 giờ sau điều trị. Nếu bệnh nhân xuất hiện đau đầu nhiều, tăng huyết áp cấp tính, buồn nôn hoặc nôn thì dừng truyền và tiến hành chụp CT lại ngay lập tức. Đo huyết áp mỗi 15 phút trong 2 giờ đầu và mỗi 30 phút trong 6 giờ tiếp theo, rồi mỗi giờ cho đến đủ 24 giờ sau điều trị.

Các thuốc tiêu sợi huyết khác

Các thử nghiệm lâm sàng sử dụng streptokinase đã phải dừng sớm vì có tỉ lệ xuất huyết não cao không thể chấp nhận được và thuốc này đã không được khuyến cáo sử dụng. Các thuốc tiêu sợi huyết dùng tiêm tĩnh mạch khác bao gồm: reteplase, urokinase, anistreplase và staphylokinase đã được xem xét trong điều trị NMN cấp tính, tuy nhiên chưa một thuốc nào được thử nghiệm rộng rãi. Thuốc tenecteplase hứa hẹn tiêu sợi huyết hiệu quả với ít biến chứng chảy máu hơn, nhưng nghiên cứu vẫn đang còn tiến hành. Desmoteplase đã được thử nghiệm trong nghiên cứu thí điểm, các kết quả cũng mang lại nhiều hứa hẹn.

ThS.Mai Duy Tôn - Khoa Cấp cứu - Bệnh viện Bạch Mai

Tiểu đường và tai biến mạch máu não

Trong các biến chứng của bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) thì tai biến mạch máu não là một biến chứng nguy hiểm, đe doạ đến tính mạng của người bệnh. Giúp người bệnh kiểm soát bệnh và đề phòng những tai biến có thể xảy ra, chúng tôi xin mời bạn đọc tham khảo bài viết về vấn đề này của GS.TS. Trần Đức Thọ, Chủ tịch Hội Nội tiết - đái tháo đường Việt Nam.

Vì sao bệnh nhân ĐTĐ có nguy cơ tai biến mạch máu não

Tai biến mạch máu não (TBMMN) là sự rối loạn tuần hoàn não dưới dạng cấp tính, bệnh xuất hiện đột ngột trong vài giây hoặc có thể xuất hiện nhanh trong vài giờ với các triệu chứng như: đau đầu dữ dội, nôn, buồn nôn, liệt chi, mất ngôn ngữ, mất phản xạ, xuất huyết não... Người bệnh có thể bị tử vong nhanh chóng nếu không được cấp cứu kịp thời, nếu qua khỏi thì cũng giảm tuổi thọ nghiêm trọng và suy giảm nhiều chức năng của cơ thể, thậm chí tàn phế. Đối với bệnh nhân ĐTĐ, nhiều trường hợp tử vong do nhồi máu não, đặc biệt là nhồi máu ổ khuyết.

Tăng huyết áp (THA) là biểu hiện thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ. THA kinh diễn là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến TBMMN. Tỷ lệ THA ở bệnh nhân ĐTĐ cao gấp 1,5 - 3 lần so với nhóm không bị ĐTĐ. Đối với ĐTĐ týp 1, THA xảy ra sau nhiều năm. Đối với bệnh nhân ĐTĐ týp 2, THA là vấn đề thường gặp, sẽ nghiêm trọng hơn về huyết áp nếu người bệnh có biến chứng ở thận.

ĐTĐ làm cho quá trình xơ vữa động mạch diễn ra nhanh hơn ở người bình thường, do vậy hiện tượng những cục huyết khối hình thành trong lòng động mạch hay các mảng xơ vữa làm bít tắc lòng động mạch là nguyên nhân làm cho máu, ôxy không đến nuôi dưỡng được vùng mạch máu đó cung cấp. Đây không chỉ là lý do dẫn đến tắc mạch máu não, phình vỡ mạch máu não mà còn gây ra đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim...

Hầu hết các bệnh nhân ĐTĐ thường bị nhiễm mỡ máu, có lượng cholesterol trong máu vượt quá khả năng cho phép, nhất là cholesterol có hại làm cho quá trình xơ vữa động mạch càng trở nên trầm trọng hơn, nguy cơ TBMMN càng cao. Điều quan trọng là các yếu tố này thường xuất hiện đồng thời ở bệnh nhân ĐTĐ, do vậy nguy cơ tai biến là rất có thể nếu không được kiểm soát và điều trị bệnh đúng đắn.

Làm thế nào để xác định bệnh và kiểm soát biến chứng TBMMN

Dựa trên các yếu tố nguy cơ như thừa cân, béo phì, có cuộc sống tĩnh tại, ít vận động, hút thuốc lá, gia đình có người bị ĐTĐ, phụ nữ sinh con lớn hơn 4kg... cần phải có kiểm tra đường huyết để xác định sớm bệnh. Khi đã có những biểu hiện bệnh như sút cân nhanh chóng, khát nước nhiều, ăn nhiều, tiểu nhiều, mệt mỏi, rụng tóc, rối loạn kinh nguyệt, chóng mặt, mất ngủ... cần phải đi khám bệnh ngay. Tại các cơ sở y tế, bác sĩ sẽ tiến hành đo nồng độ glucose huyết tương ngẫu nhiên hoặc nồng độ glucose huyết tương lúc đói. Kết quả này được khẳng định lại bằng xét nghiệm lần thứ 2.
Xác định TBMMN dựa trên những biểu hiện lâm sàng của bệnh và trên hình ảnh chụp CT não có tổn thương hoặc nhồi máu ổ khuyết. Cũng cần phần biệt bệnh nhân TBMMN não do các nguyên nhân khác như u não, bệnh van tim, bệnh máu, do dùng thuốc chống đông, phẫu thuật tạo hình, dị dạng mạch máu não...

Kiểm soát ĐTĐ và phòng ngừa TBMMN

Tất cả các bệnh nhân ĐTĐ đều phải được theo dõi chặt chẽ đường huyết, chỉ số đông máu, chỉ số cholesterol, triglycerid, huyết áp. Cụ thể: glucose lúc đói nhỏ hơn hoặc bằng 7mmol/lit (<126mg/dl);>

GS.TS. Trần Đức Thọ - skđs

Giải pháp “vàng” cho bệnh nhân đột quỵ não

Nguy cơ tử vong ở những người đột quỵ do tắc động mạch não có thể lên tới 90% nếu không được điều trị kịp thời. Một số trường hợp có thể qua khỏi cơn nguy kịch nhưng lại phải gánh chịu di chứng nặng nề. Điều đáng lưu tâm là hiện nay, tắc động mạch não không chỉ thường thấy ở người cao tuổi mà xu hướng trẻ hóa bệnh đang ngày một gia tăng. Một phương pháp điều trị mới đang được ứng dụng tại Khoa Cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai trở thành hy vọng cho người bệnh và mang đến một cách nhìn mới cho các thầy thuốc trước căn bệnh này.

Chạy đua với thời gian

Không bị tăng huyết áp, không đái tháo đường, chỉ mới ở tuổi 48 nên ông Trần Văn B. (Cẩm Giàng - Hưng Yên) khá tự tin với sức khỏe của mình. Đột nhiên ông B có dấu hiệu liệt nửa người bên phải và không nói được. Ngay lập tức bệnh nhân được gia đình nhanh chóng đưa đến Khoa Cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai sau 55 phút khởi phát bệnh. Các bác sĩ cho biết, khi vào khoa, tình trạng của bệnh nhân rất nguy kịch, bệnh nhân hôn mê, không nói được, liệt hoàn toàn nửa người bên phải. Ngay lập tức, ông B. được khám và tiến hành làm các xét nghiệm máu, chụp CT sọ não. Đây là trường hợp nhồi máu não do tắc động mạch não giữa giờ thứ nhất. Đúng vào thời điểm này, Khoa Cấp cứu bắt đầu ứng dụng phương pháp mới nhất điều trị tắc mạch máu não bằng thuốc tiêu sợi huyết. May mắn hơn nữa là bệnh nhân đã đến viện kịp thời, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn lựa chọn để dùng thuốc tiêu sợi huyết theo quy trình điều trị chuẩn. Sau hai tuần điều trị, ông B. thoát khỏi bàn tay tử thần và dần hồi phục hoàn toàn, trở lại cuộc sống bình thường.

ThS. Mai Duy Tôn, người trực tiếp học hỏi và ứng dụng phương pháp điều trị mới này cho biết, có rất nhiều nguy cơ dẫn đến tắc mạch máu não. Đó là tuổi cao, tăng huyết áp, bệnh lý tim mạch (đặc biệt rung nhĩ), hút thuốc lá, nghiện rượu, béo phì, đái tháo đường, hẹp động mạch cảnh... Để có cơ may được điều trị hiệu quả, người bệnh cần nhận biết sớm các dấu hiệu của bệnh như: Đột ngột yếu hoặc tê bì mặt, tay hoặc chân, đặc biệt hay xảy ra ở một bên của cơ thể; Đột ngột rối loạn ý thức; Có bất thường về lời nói hoặc hiểu lời nói; Chóng mặt hoặc mất thăng bằng; Đau đầu dữ dội xảy ra đột ngột mà không rõ căn nguyên.

Đột phá trong điều trị tai biến mạch máu não

Theo các chuyên gia hồi sức cấp cứu và tim mạch, hiện nay trên thế giới cũng như Việt Nam, tai biến mạch máu não là nguyên nhân gây tàn phế và tử vong thứ 2 sau các bệnh lý tim mạch. Bệnh nhân không chỉ là người cao tuổi mà ngày một trẻ hóa. Bản chất của nhồi máu não là do giảm đột ngột lượng máu đến não, có thể do tắc nghẽn hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn mạch máu do cục máu đông, làm cho tế bào não không được tưới máu, không được nuôi dưỡng, làm giảm ôxy... Quá trình này nếu kéo dài sẽ làm tổn thương tế bào não, thậm chí làm chết tế bào và gây ra các hậu quả mà biểu hiện bằng các dấu hiệu khi ta quan sát, tiếp xúc với người bệnh như đột ngột liệt một bên tay, chân, nói ngọng, nói khó, không nói được, không thể nhận biết được bản thân và người xung quanh.

Theo ThS. Mai Duy Tôn, cùng với các biện pháp cấp cứu, điều trị bệnh triệt để nhất hiện nay là dùng thuốc tiêu sợi huyết sớm trong vòng 3 giờ đầu kể từ khi có triệu chứng đầu tiên, nếu bệnh nhân đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn chỉ định và không có các chống chỉ định. Đây là một phương pháp điều trị mới đang được áp dụng tại một số bệnh viện ở phía Nam, còn tại miền Bắc, phương pháp này cũng đang được áp dụng điều trị tại Khoa Cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai. Bệnh nhân khi có chỉ định dùng thuốc sẽ được truyền trong vòng 1 giờ, trong thời gian dùng thuốc và sau dùng thuốc, bệnh nhân sẽ được chăm sóc và theo dõi sát tại các đơn vị hồi sức.
Theo kết quả công bố của rất nhiều nước trên thế giới cho thấy, những bệnh nhân được dùng thuốc làm tan cục máu đông này đã mang lại kết quả rất tốt và an toàn cho bệnh nhân.

Thế nào là thời gian vàng trong điều trị tắc mạch máu não?

Thuật ngữ “thời gian vàng” trong điều trị tắc mạch máu não là thời gian kể từ khi bệnh nhân xuất hiện triệu chứng đột quỵ đầu tiên đến khi bệnh nhân được dùng thuốc tiêu sợi huyết, đây là thời gian rất quan trọng quyết định sự thành công trong điều trị tiêu sợi huyết cho những bệnh nhân nhồi máu não giai đoạn cấp, thường thời gian này chỉ trong vòng 3 giờ đầu tính từ khi bệnh nhân có triệu chứng đầu tiên, tốt nhất là trong vòng 1 giờ.

Có phải tất cả bệnh nhân bị nhồi máu não đều có thể sử dụng thuốc chống đông?

Hiện tại, bệnh nhân tai biến mạch máu não được điều trị bằng các biện pháp hồi sức về hô hấp, tuần hoàn, điều chỉnh huyết áp, kiểm soát tăng đường máu, tăng cường tuần hoàn não, dùng các thuốc chống ngưng tập tiểu cầu... Trong đó thuốc tiêu sợi huyết là một trong những phương pháp điều trị rất có hiệu quả nếu bệnh nhân chẩn đoán nhồi máu não đến viện sớm trước 3 giờ, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn dùng thuốc và không có các chống chỉ định. Chúng tôi đã tiến hành điều trị cho 3 bệnh nhân tại Khoa Cấp cứu Bệnh viện Bạch mai với kết quả rất tốt.

Bệnh nhân có được cơ quan bảo hiểm chi trả không?

Điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết hiện nay cần chi phí khoảng 10 triệu đồng/1 lọ thuốc tuỳ thuộc cân nặng của bệnh nhân, thường thì một bệnh nhân chỉ cần dùng 1 lọ. Hiện nay chúng tôi đang đề nghị Bộ Y tế, Bảo hiểm y tế xem xét công nhận thuốc này trong danh mục được bảo hiểm y tế chi trả.

Suckhoedoisong

Di chứng tai biến mạch máu não cũ ở người cao tuổi


Một cụ ông bị bệnh tai biến mạch máu não (TBMMN), cao huyết áp (CHA) độ 2, thiếu máu cơ tim cách đây đã 5 năm, lần đó, cơn CHA 220/110 mmHg (huyết áp bình thường là từ 90/60 mmHg đến 139/89 mmHg) đã làm cụ bị đột quị nặng, yếu nửa người trái và thất ngôn. Sau tai biến, cụ vất vả tập vật lý trị liệu nhưng không cải thiện đáng kể sức cơ tay phải và chân phải, nói chỉ ú ớ vài từ, phải ra hiệu bằng tay. Hiện tại cụ đi đứng phải chống gậy, có người dìu hay ngồi xe lăn. Lần này cụ ông vào viện do táo bón, không đi cầu được 5 ngày nay.

Theo lời kể của cụ bà - vợ ông: đã 5 ngày dù ông vẫn ăn uống sinh hoạt bình thường nhưng không đi cầu được (bình thường thì cứ 2 - 3 ngày thì ông đi cầu một lần), tôi có mua hai ống thuốc bơm hậu môn, cho ông dễ đi cầu, nhưng lần này không có tác dụng nên đưa ông vào viện. Các bác sĩ thăm khám và chẩn đoán ông bị táo bón - di chứng TBMMN, tiến hành thụt tháo phân bằng nước ấm, sau 1 giờ ông đi cầu được.

Nguyên nhân táo bón ở người TBMMN là do ở những người này, vùng não dùng để điều khiển đại tràng và hậu môn bị tổn thương làm mất đi sự co thắt và giãn nở của các cơ trơn trong đại tràng và cơ vòng của hậu môn. Ngoài ra, sự yếu đuối của bắp thịt bụng và vùng xương chậu làm sự di chuyển của phân trong đại tràng cũng khó khăn.

TBMMN (hay gọi là đột quị) là một bệnh xảy ra khi việc cung cấp máu lên một phần bộ não bị đột ngột ngừng trệ, có thể gây đột tử hoặc liệt nửa người, thất ngôn, rối loạn tâm thần.

Nguyên nhân: do tắc mạch máu não: cục máu đông tại chỗ, thuyên tắc do xơ vữa động mạch (chẳng hạn xuất phát từ động mạch cảnh), huyết tắc do bệnh tim (rung nhĩ, nhồi máu cơ tim). Do vỡ mạch máu não: tăng huyết áp, chấn thương, vỡ phình động mạch não. Nguyên nhân ít gặp: giảm huyết áp (tụt huyết áp đột ngột hơn 40 mmHg), viêm động mạch, viêm tắc tĩnh mạch, thuyên tắc xoang tĩnh mạch. Ở người trẻ: bệnh tiểu cầu, chảy máu dưới màng nhện, dị dạng động mạch cảnh.

Biến chứng, di chứng: viêm phổi, trầm cảm, co cứng, táo bón, loét do nằm lâu, liệt.

Để giảm bớt các di chứng và phòng tái phát, khi trở về nhà sau giai đoạn cấp cứu, bệnh nhân vẫn phải được chăm sóc và điều trị theo chế độ đặc biệt.

Sinh hoạt, tập luyện

Trong trường hợp bệnh nặng, bệnh nhân chưa tự vận động được, người nhà phải giúp họ thay đổi tư thế 3 giờ một lần để tránh loét. Mỗi lần lật người, cần xoa rượu, cồn hoặc phấn rôm vào lưng, mông và các vị trí bị tì đè khác. Khi cho ăn uống, nên kê gối sau lưng bệnh nhân để giữ họ ở tư thế nửa nằm, nửa ngồi.

Đối với trường hợp nhẹ hơn, tùy mức độ di chứng liệt, cần đề ra một kế hoạch cụ thể cho bệnh nhân tập luyện hàng ngày. Cố gắng để cho họ tự làm ở mức tối đa, người nhà chỉ hỗ trợ hoặc giúp đỡ khi bệnh nhân không thể tự làm được. Quá trình tập luyện đòi hỏi sự kiên trì của cả bệnh nhân và người hướng dẫn. Nên duy trì việc này cả khi các di chứng đã được phục hồi.

Chế độ ăn

Cần đảm bảo chế độ ăn đủ chất và cân đối. Nên dùng dạng thức ăn mềm, dễ tiêu như: cháo, súp, sữa, nước hoa quả tươi. Kiêng sử dụng các chất béo và chất kích thích (rượu, bia, chè đặc, cà phê); hạn chế dùng muối.

Điều trị

Điều trị duy trì theo đơn của thầy thuốc. Trường hợp bệnh nhân có CHA, nên dùng thuốc hạ huyết áp và duy trì ở mức 140 - 150/90 mmHg.

Thực hiện các biện pháp phòng bệnh tái phát

Điều trị các nguyên nhân gây TBMMN như: tăng HA, xơ vữa động mạch, đái tháo đường, một số bệnh tim (bệnh van tim, thiếu máu cơ tim, rung nhĩ), bệnh mạch máu ngoại biên, tiền căn thiếu máu cục bộ thoáng qua.

Cẩn thận giữ mình khi thời tiết chuyển lạnh vào mùa đông và khi áp suất không khí lên cao vào mùa hè.

Tránh tắm khuya hoặc ở nơi gió lùa, nhất là với người bị CHA. Tránh trạng thái căng thẳng thần kinh, xúc động mạnh. Tránh mất ngủ. Tránh táo bón: thực phẩm nhiều chất sợi, uống nhiều nước, thể dục thể thao, và thói quen đi tiêu mỗi ngày. Nếu thất bại, có thể dùng loại thuốc làm mềm phân, nhưng phải theo chỉ định của bác sĩ.

Kiêng rượu, bia và các chất kích thích. Tránh vận động thể lực quá mức như mang vác nặng, chạy nhanh

BS.MẠNH HÀ - suckhoedoisong

Phòng và xử trí bệnh tai biến mạch máu não

Mỗi năm, tai biến mạch máu não hay còn gọi là đột quỵ, ảnh hưởng hàng trăm ngàn người và để lại di chứng nghiêm trọng. Đặc biệt bệnh hay gặp ở người cao tuổi. Vậy tai biến mạch máu não là gì? Nhận biết bằng cách nào? Phải làm gì khi gặp người bị đột qụy?

Người già nên thường xuyên kiểm tra huyết áp đề phòng tai biến mạch máu não. Ảnh: M.Hoa

Tai biến mạch máu não xảy ra khi mạch máu cung cấp ôxy và các chất dinh dưỡng cho phần mô não đó bị tắc nghẽn hay vỡ ra. Khi bệnh xảy ra bệnh nhân không cảm thấy đau đớn nhưng diễn biến đột ngột vì vậy bệnh nhân không gọi được người xung quanh giúp đỡ. Biểu hiện của đột quỵ là lú lẫn, hôn mê. Ngoài ra có thể có nhức đầu, nôn ói hoặc co giật xảy ra trên người đang làm việc bình thường.

Nguyên nhân: Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng một trong những nguyên nhân hay gặp nhất là một động mạch máu bị tắc bởi những cục máu đông được gọi là huyết khối hoặc các động mạch bị xơ vữa do trong mạch máu bị ứ đọng mỡ và dày lên dần dần làm hẹp lòng mạch, cản trở dòng chảy, đến một lúc nào đó tạo thành cục máu đông. Nếu là cục máu đông này bị kẹt lại trong não thì gọi thuyên tắc não. Cơn đột quỵ cũng có thể xảy ra khi một động mạch trong não bị vỡ ra được gọi là xuất huyết não (thường gặp ở bệnh nhân có xơ vữa mạch và tăng huyết áp).

Tai biến thường để lại di chứng nặng nề nếu không được phát hiện và điều trị đúng.

Phải làm gì khi gặp người bị đột quỵ?

- Đỡ người bệnh để không bị té ngã gây chấn thương. Để người bệnh nằm xuống chỗ thoáng, nghiêng qua một bên đầu hơi nâng nhẹ, nếu nôn ói, móc hết đờm nhớt cho bệnh nhân dễ thở. Nếu người bệnh lơ mơ: kiểm tra mạch, nhịp thở, đặt bệnh nhân ở tư thế nằm nghiêng về bên không liệt, đầu nâng nhẹ. Nếu bệnh nhân hôn mê: cũng xử trí như trên, kiểm tra nếu không thấy mạch đập hoặc ngừng thở, tiến hành hô hấp mồm - mồm và ép tim ngoài lồng ngực theo tỷ lệ 1: 5.

- Không tự ý cho uống thuốc hoặc nhỏ thuốc hạ huyết áp hay bất kỳ loại thuốc nào khác.

- Không cạo gió.

- Gọi xe đưa ngay người bệnh đến bệnh viện gần nhất.

- Không để nằm chờ xem có khỏe lại không vì não người rất quan trọng và rất nhạy cảm. Do đó phải đưa người bệnh vào bệnh viện càng nhanh càng tốt để có thể cứu sống kịp thời các phần não chưa chết nhưng đang bị thiếu máu nuôi não hoặc đang bị chèn ép.

Phòng bệnh bằng cách nào?

Tai biến mạch máu não là một biến chứng nặng, cho dù điều trị tích cực cũng dễ để lại di chứng nặng nề. Vì vậy phải điều trị các nguyên nhân gây tai biến như tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, tránh căng thẳng thần kinh, không uống rượu bia, không hút thuốc lá; cần khám tại cơ sở y tế nếu thấy có triệu chứng đau đầu, chóng mặt, khó ở, mệt không có nguyên nhân để được phát hiện và điều trị kịp thời.

Điều cần nói là người đã bị tai biến mạch máu não sẽ có nhiều nguy cơ tái phát. Do đó phải chú ý điều trị tích cực để phòng ngừa tái phát. Cụ thể phải làm việc nhẹ nhàng vừa sức, không ăn nhiều mỡ béo, chất ngọt, đường, không ăn quá mặn, ăn nhiều rau củ quả. Điều trị tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim mạch... Phải tăng cường tập vận động tại nhà hoặc tập vật lý trị liệu. Uống thuốc theo đơn và tái khám đúng hẹn.

BS. Nguyễn Hoa Bưởi-suckhoedoisong

Phòng ngừa tai biến mạch máu não thế nào?

Tai biến mạch máu não (TBMMN) là một thuật ngữ chung để chỉ các bệnh nhồi máu não (do tắc mạch não) và chảy máu não (do xuất huyết não). Bệnh hay gặp ở người lớn tuổi. Nguyên nhân chủ yếu của bệnh là do vữa xơ động mạch và tăng huyết áp. Đôi khi do các cục huyết khối từ nơi khác gây thuyên tắc động mạch não như huyết khối trong tâm nhĩ, tâm thất hay gặp ở những bệnh nhân bị rối loạn nhịp tim (rung nhĩ), nhồi máu cơ tim, suy tim nặng, bệnh van tim... Việc phòng ngừa bệnh phụ thuộc vào các yếu tố nguy cơ của mỗi người.

Những ai có nguy cơ bị TBMMN?

Chảy máu não.
TBMMN là tình trạng một phần não bị hư hại đột ngột do mất máu nuôi do tắc hoặc vỡ mạch máu não. Khi thiếu máu lên não, các tế bào não sẽ ngưng hoạt động và sẽ chết đi trong vài phút. Hậu quả là các vùng cơ thể do phần não đó điều khiển sẽ ngưng hoạt động, dẫn tới yếu liệt, tê, mất cảm giác nửa người, không nói được hoặc hôn mê, thậm chí là tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Nhiều trường hợp được cứu sống nhưng có thể bị tàn phế suốt đời, giảm tuổi thọ và không còn khả năng lao động, khó hoà nhập cuộc sống bình thường.

TBMMN xuất hiện do lòng động mạch máu nuôi não bị tắc do mảng xơ mỡ đóng ở thành mạch dày lên dần, làm hẹp lòng mạch; Xuất hiện cục máu đông di chuyển từ tim do tim bị bệnh loạn nhịp hoặc bệnh hẹp - hở van tim khiến máu ứ lại, đóng thành cục máu đông trong tim, sau đó chảy lên não làm kẹt lại gây tắc mạch máu não; Xuất huyết não (mạch máu bị vỡ làm chảy máu, chèn ép não bộ) và xuất huyết khoang dưới nhện (mạch máu bị phình rồi vỡ ra làm máu chảy vào khoang trống bao quanh não).

Người có nguy cơ TBMMN cao là người trên 55 tuổi, người bị tăng huyết áp, đái tháo đường, vữa xơ động mạch, rối loạn lipid máu, các bệnh mạch vành, van tim, loạn nhịp tim, hút thuốc lá, béo phì- thừa cân, lười vận động và bị stress nặng hay thường xuyên.

Phòng ngừa bệnh như thế nào?

Mặc dù TBMMN là bệnh nguy hiểm song hoàn toàn có thể giảm được nguy cơ bệnh nếu biết cách phòng ngừa, đó là:

Liệu pháp thay đổi lối sống (thực hiện chế độ ăn kiêng và hoạt động thể lực) là biện pháp quan trọng làm giảm nguy cơ bị vữa xơ động mạch nói chung và tai biến mạch máu não nói riêng. Liệu pháp thay đổi lối sống bao gồm: Cai thuốc lá; có chế độ dinh dưỡng giàu vitamin, khoáng chất, hạn chế ăn quá nhiều chất béo và các thực phẩm giàu calo, liệu pháp dinh dưỡng còn nhằm làm giảm lượng lipid máu, giảm huyết áp và giảm đường máu nếu bệnh nhân bị đái tháo đường; Tăng hoạt động thể lực sẽ làm cải thiện tình trạng tim mạch và làm cải thiện các yếu tố nguy cơ tim mạch như rối loạn lipid máu, béo phì và tăng huyết áp.

Sơ đồ mạch máu não.

Phòng ngừa tình trạng đông máu bằng thuốc: Tình trạng tăng đông có thể ảnh hưởng đến bệnh lý tim mạch. Điều trị bằng aspirin có lợi trong phòng ngừa tiên phát và thứ phát cho các bệnh nhân bị nhồi máu não. Liều điều trị nên lựa chọn là liều có hiệu quả cao nhất với tác dụng phụ ít nhất. Các bệnh nhân có nguy cơ cao hay những người có kèm theo tăng huyết áp, rối loạn lipid máu hoặc bệnh tim mạch (bệnh động mạch vành, đột quỵ hay bệnh mạch máu ngoại biên) nên được điều trị bằng aspirin 75-100 mg/ngày. Nếu bệnh nhân bị dị ứng với aspirin, các thuốc ức chế ngưng tập tiểu cầu khác như clopidogrel 75mg/ngày có thể được dùng thay thế ở các bệnh nhân có nguy cơ cao.

Điều trị rối loạn lipid máu: Những người trên 45 tuổi cần được kiểm tra lipid máu định kỳ, bao gồm cholesterol toàn phần, LDL-C, triglycerid và HDL-C sau khi nhịn đói 10-12 giờ. Nên kiểm tra định kỳ lượng lipid máu 6-12 tháng/lần. Mục tiêu điều trị rối loạn lipid máu là LDL-C dưới 2,6 mmol/l (100mg/dl), triglycerid dưới 2,3 mmol/l (200 mg/dl) và HDL-C bằng hoặc trên 1,0mmol/l (40mg/dl). Tuy nhiên, cần cân nhắc giữa lợi ích và giá thành, cũng như các tác dụng phụ có thể gặp khi dùng thuốc liều cao. Điều trị bằng thuốc phải kết hợp với liệu pháp thay đổi lối sống. Liều thuốc được tăng dần đến khi đạt được nồng độ LDL-C mục tiêu.

Kiểm soát trị số huyết áp: Tăng huyết áp rất hay gặp ở người có tuổi. Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ bị các biến chứng tim mạch (đột quỵ, bệnh động mạch vành và mạch máu ngoại biên). Mục tiêu điều trị nhằm đạt trị số huyết áp dưới 140/90mmHg. Thay đổi lối sống và dùng thuốc được áp dụng cho các bệnh nhân có huyết áp trên 140/90mmHg. Các nghiên cứu gần đây cho thấy việc quan trọng nhất trong điều trị tăng huyết áp là đạt được trị số huyết áp mục tiêu. Nguyên tắc sử dụng thuốc hạ áp là nên bắt đầu với một thuốc liều thấp hoặc phối hợp các nhóm thuốc với liều thấp để vừa đạt được hiệu quả điều trị vừa làm giảm tác dụng phụ.

Lưu ý: Trong mùa hè, thời tiết nắng nóng sẽ là yếu tố làm gia tăng các ca TBMMN, vì vậy những bệnh nhân đã từng bị TBMMN và những người có nguy cơ phải đặc biệt chú ý đến các biện pháp phòng bệnh, tránh hoạt động quá sức và có chế độ ăn uống, lao động, nghỉ ngơi... phù hợp với sức khỏe.

TS. Nguyễn Quang Tuấn - SKĐS

Đột quỵ - Nguyên nhân và cách phòng tránh

Đột quỵ là nguyên nhân đứng hàng thứ ba dẫn đến tử vong sau bệnh tim mạch và ung thư. Tại Mỹ mỗi năm có khoảng 600.000 người mới mắc và tái phát đột quỵ, trong đó 160.000 người tử vong. Tiên lượng của bệnh phụ thuộc rất nhiều vào việc sơ cấp cứu.

Hiện nay việc điều trị ngày càng có nhiều tiến bộ, điều này giúp giảm tỷ lệ tử vong và kéo dài cuộc sống cho bệnh nhân nhưng mức độ tàn phế vẫn còn là một thách thức và là gánh nặng cho gia đình, xã hội.

Đột quỵ là hiện tượng máu lên não bị gián đoạn đột ngột, hậu quả là tế bào não bị chết do thiếu oxy. Có hai hình thái đột quỵ do thiếu máu não cục bộ và đột quỵ do xuất huyết não.

Nguyên nhân

Trên khắp thế giới vẫn có những người phải nhận cái chết đột ngột không được báo trước

Nguyên nhân gây ra đột quỵ do thiếu máu não cục bộ thường do cục máu đông trong tim hay mảng xơ vữa trong mạch máu trồi lên não gây tắc mạch não.

Đột quỵ do xuất huyết não xảy ra khi một mạch máu trong não bị vỡ dấn đến thiếu máu cho vùng não do mạch máu đó chi phối.

Nguyên nhân thường gặp là cơn cao huyết áp, dị dạng mạch não bẩm sinh, rối loạn đông máu hoặc bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc chống đông.

Diễn biến

Đột quỵ thường xảy ra đột ngột với rất ít dấu hiệu báo trước. Những dấu hiệu cảnh báo cơn đột quỵ

Đột nhiên bị đau đầu dữ dội, choáng váng, mất tri giác, ngủ gà hoặc hôn mê

Gặp khó khăn trong nói hoặc hiểu người khác

Bị yếu đột ngột ở một phần cơ thể

Đột nhiên nhìn mờ hoặc nhìn nhòe, có thể chỉ bị ở một bên mắt

Tiểu tiện không tự chủ hoặc bí tiểu hoàn toàn

Khi thấy bất cứ dấu hiệu nào như kể trên, phải gọi xe cấp cứu ngay lập tức. Việc thăm khám và điều trị cần hết sức khẩn trương, đặc biệt trong khoảng 3 giờ đầu tiên.

Điều trị

Ngay khi vào viện bệnh nhân cần được khám lâm sàng, cận lâm sàng, xét nghiệm huyết học, ghi điện tim và đặc biệt là chụp cắt lớp điện toán (CT scan) hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) để xác định chính xác nguyên nhân, vị trí và mức độ tổn thương. Điều này có tính quyết định đối với thái độ điều trị.

- Nguyên tắc điều trị:

An thần, thở máy.

Cung cấp đủ oxy cho não.

Chống phù não.

Chống tăng huyết áp.

Thuốc có tác dụng làm tiêu cục máu đông.

Kiểm soát tình trạng đông máu của bệnh nhân.

Nuôi dưỡng tốt.

Chống loét.

Chống nhiễm trùng.

Sơ cấp cứu

- Tai biến mạch máu não là một tình trạng khẩn cấp, cần gọi cấp cứu. Trong khi chờ xe cấp cứu, người nhà cần để bệnh nhân nằm yên, nới rộng quần áo, theo dõi sắc mặt, nhịp thở. Nếu bệnh nhân nôn cần để đầu nghiêng sang một bên, dùng tay lấy các chất nôn từ mũi và miệng bệnh nhân.

- Nếu bệnh nhân co giật, cũng cần để bệnh nhân nằm nghiêng, đề phòng bệnh nhân cắn vào lưỡi bằng cách dùng khăn vải quấn quanh một chiếc đũa hay cán thìa đặt giữa hai hàm răng của bệnh nhân.

- Tất cả các bệnh nhân cần được theo dõi ở khu săn sóc tích cực có sẵn các phương tiện hồi sức cấp cứu.

Hãy ăn nhiều rau và hoa quả để cung cấp đầy đủ dưỡng chất cho cơ thể, giảm cholesterol trong máu
Phòng tránh

Các bệnh gây tử vong hàng đầu ở nam giới chính là hậu quả của sự thiếu chăm sóc bản thân ngay từ thời thanh niên và phần lớn đều có thể phòng ngừa.

- Cần giảm các yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch:

Phát hiện caoáp huyết sớm và chữa cao áp huyết tốt, nhất là ở những người trên 40 tuổi, có tiền sử gia đình cao áp huyết và bệnh tim mạch.

Điều trị rối loạn nhịp tim.

Giảm cholesterol trong máu, ăn ít chất béo, giảm muối, ăn nhiều rau và hoa quả.

Phát hiện và điều trị tiểu đường.

Không hút thuốc lá, hạn chế uống rượu.

Không dùng các chất kích thích hoặc ma túy.

Thường xuyên vận động và tập luyện.

- Ngoài ra cần chú ý:

Tránh tắm khuya hoặc ở nơi gió lùa, đặc biệt với người cao huyết áp.

Tránh trạng thái căng thẳng thần kinh, xúc động mạnh. Tránh mất ngủ

Tránh táo bón, đặc biệt với người già.

Tránh vận động thể lực quá mức như mang vác nặng, chơi thể thao quá sức.

Chăm sóc tại nhà

- Sinh hoạt, tập luyện.

- Trong trường hợp bệnh nặng, bệnh nhân chưa tự vận động được, người nhà phải giúp thay đổi tư thế 3 giờ một lần để tránh loét. Mỗi lần lật người, cần xoa rượu, cồn hoặc phấn rôm vào lưng, mông và các vị trí bị tì đè khác. Khi cho ăn uống, nên kê gối sau lưng bệnh nhân giữ ở tư thế nửa nằm, nửa ngồi để tránh bị sặc vào đường thở.

- Đối với trường hợp nhẹ hơn, tùy mức độ di chứng liệt, cần đề ra một kế hoạch cụ thể cho bệnh nhân tập luyện hàng ngày. Cố gắng để bệnh nhân tự làm ở mức tối đa, người nhà chỉ hỗ trợ hoặc giúp đỡ khi bệnh nhân không thể tự làm được. Quá trình tập luyện đòi hỏi sự kiên trì của cả bệnh nhân và người hướng dẫn. Nên duy trì việc này cả khi các di chứng đã được phục hồi.

Chế độ ăn

- Cần đảm bảo chế độ ăn đủ chất và cân đối. Nên dùng dạng thức ăn mềm, dễ tiêu như cháo, súp, sữa, nước hoa quả tươi. Kiêng sử dụng các chất béo và chất kích thích (rượu, bia, chè đặc, cà phê), hạn chế dùng muối.

Theo BS Đặng Hạnh Sơn -(BV Tim Hà Nội) - Đàn ông

Bệnh xuất huyết não

Xuất huyết não (XHN) là loại xuất huyết trong sọ không do chấn thương thường gặp nhất. Đây là nguyên nhân quan trọng gây đột qụy ở người châu Á và người da đen. Tăng huyết áp (THA) và bệnh mạch máu não dạng tinh bột gây ra phần lớn các xuất huyết này. Tuổi cao và uống nhiều rượu làm tăng nguy cơ XHN. XHN do cocain là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất ở người trẻ tuổi.

XHN do tăng huyết áp

Tăng huyết áp là một nguyên nhân gây xuất huyết não.

XHN thường do vỡ tự phát động mạch xuyên nhỏ sâu trong não. Những động mạch nhỏ trong các vùng này dễ bị tổn thương nhất do THA. Mặc dù không có liên quan đặc biệt gì với gắng sức, song hầu như XHN bao giờ cũng xảy ra khi bệnh nhân tỉnh táo và đôi khi bị căng thẳng. Biểu hiện lâm sàng là đột ngột thiếu hụt thần kinh cục bộ, diễn biến nặng dần trong 30-90 phút. Thường bệnh nhân bị liệt nhẹ nửa người bên đối diện với bán cầu não bị xuất huyết. Khi nhẹ, một bên mặt xệ xuống, nói líu lại, tay và chân yếu dần. Khi xuất huyết lớn thì uể oải, ngái ngủ, sau đó là tình trạng sững sờ, đi dần vào hôn mê kèm theo thở sâu, rối loạn nhịp thở.

Dự phòng: THA là nguyên nhân chính của XHN nguyên phát. Điều trị dự phòng nhằm làm giảm huyết áp, giảm uống rượu quá mức và không sử dụng cocain.

Xử trí cấp tính: Khoảng 75% bệnh nhân XHN do THA bị tử vong. Kích thước và vị trí của khối máu tụ sẽ quyết định tiên lượng bệnh. Khối máu tụ trên lều lớn hơn 5cm đường kính là có tiên lượng xấu và khối máu tu ở cầu não dưới lều lớn hơn 3cm thì thường tử vong. Điều trị THA nghiêm trọng là cần thiết, song giảm huyết áp quá mức lại làm cho bệnh cảnh lâm sàng xấu đi. Cần có những biện pháp chung nhằm điều trị tăng áp lực nội sọ thứ phát do hiệu ứng khối.

Việc loại bỏ khối máu tụ thường không giúp ích gì, trừ trường hợp xuất huyết tiểu não thì cần phải hội chẩn ngay với các bác sĩ phẫu thuật thần kinh để đánh giá và xem xét khả năng phẫu thuật. Phần lớn các khối máu tụ có đường kính trên 3cm cần phải phẫu thuật. Nếu bệnh nhân bị XHN, lúc đầu không có các biểu hiện của tổn thương não nghiêm trọng, nhưng sau đó không thấy cải thiện triệu chứng hay tình trạng ý thức xấu dần đi, thì cũng cần tính tới việc phẫu thuật lấy khối máu tụ. Xử trí bệnh nhân trong giai đoạn cấp tính của XHN một cách thận trọng thì có thể hồi phục được đáng kể.

Manitol và những chất thẩm thấu khác được sử dụng làm giảm áp lực nội sọ do phù não gây ra. Glucocorticoid không làm giảm phù não do XHN.

Xuất huyết trong thùy não

Những xuất huyết trong thùy não biểu hiện trên phim chụp cắt lớp vi tính sọ não như những cục máu tụ hình bầu dục hoặc hình tròn trong chất trắng dưới vỏ não. Vai trò của THA mạn tính trong xuất huyết thùy não còn có nhiều ý kiến trái ngược nhau, có nhiều trường hợp bệnh nhân không có tiền sử THA.

Bệnh mạch máu não dạng tinh bột là một bệnh của người lớn tuổi, trong đó có sự thoái hóa tiểu động mạch, và chất dạng tinh bột lắng đọng trong thành các động mạch não chứ không ở chỗ nào khác trong cơ thể. Bệnh mạch máu dạng tinh bột gây ra các xuất huyết thùy, và có thể là nguyên nhân phổ biến nhất của xuất huyết thùy ở người lớn tuổi. Các nguyên nhân khác thường liên quan tới việc sử dụng các thuốc chống đông, dị dạng động - tĩnh mạch não, phình mạch não, và khối u não (thường là u mealin hoặc u thần kinh đệm).

Những triệu chứng và dấu hiệu thần kinh của xuất huyết thùy xuất hiện trong nhiều phút. Phần lớn những bệnh nhân xuất huyết thùy đều bị đau đầu cục bộ. Trên 50% bệnh nhân bị nôn hoặc uể oải buồn ngủ, còn cổ cứng và co giật thì ít gặp hơn.

Chụp cắt lớp vi tính sọ não có thể phát hiện được hầu hết các xuất huyết thùy nhỏ nhất. Chụp cộng hưởng từ nhạy cảm hơn trong phân biệt các bất thường đi kèm như phình mạch, dị dạng động - tĩnh mạch, và u tân tạo. Chụp Xquang động mạch não với chất cản quang được chỉ định khi nguyên nhân xuất huyết nội sọ chưa được khẳng định, nhất là ở người trẻ tuổi và trung niên là những đối tượng chưa bị bệnh mạch máu não dạng tinh bột.

Những nguyên tắc xử trí XHN do THA nói chung áp dụng được cho bệnh cảnh này.

XHN liên quan đến cocain

Cocain làm tăng nhịp tim, huyết áp, thân nhiệt và tốc độ chuyển hóa, làm co mạch gây thiếu máu cục bộ cơ tim, thận, ruột và não.

Đột qụy do cocain là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất của đột qụy ở người trẻ tuổi. Phần lớn các đột qụy liên quan tới coain đều xảy ra ở những người dưới 40 tuổi. Chúng xảy ra với mọi cách sử dụng và ở cả người mới sử dụng lần đầu lẫn người đã sử dụng lâu dài. Đột qụy xuất huyết xảy ra với tần xuất gấp đôi đột qụy thiếu máu cục bộ. Nếu sử dụng bột cocain thì những biến chứng xuất huyết và thiếu máu cục bộ xảy ra với tần xuất gần bằng nhau.

Những đột qụy điển hình xảy ra trong vòng nhiều phút đến nhiều giờ sau khi dùng cocain. Khoảng hơn 50% các xuất huyết nội sọ là xuất huyết trong não, còn lại là những xuất huyết dưới màng nhện. Cocain làm tăng cường hoạt tính giao cảm, gây THA cấp tính và điều này có thể dẫn tới xuất huyết. 50% các trường hợp xuất huyết nội sọ phát hiện thấy các bất thường của mạch máu não đã có từ trước. Hiện chưa rõ liệu cocain có thể gây viêm mạch hay không. Đôi khi những động mạch đồ của bệnh nhân đột qụy do cocain cho thấy có hình ảnh viêm mạch, song những phát hiện này không đặc thù vì có thể thấy trong các bệnh khác.

Những bệnh nhân này ngoài việc cấp cứu và điều trị theo phác đồ của XHN và qụy cần phải từ bỏ cocain càng sớm càng tốt và cần phải theo dõi chặt chẽ sức khỏe sau đó vì rất có thể hậu quả của dùng cocain sẽ là nguyên nhân tái bệnh sau này.

TS. Nguyễn Quang Tuấn-SKĐS