Hiển thị các bài đăng có nhãn Yếu tố gây bệnh tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Yếu tố gây bệnh tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng

Nào cùng giảm cân


Sau khi thấy trọng lượng cơ thể của mình lẫn chú chó cưng không ngừng tăng lên, bà Alyson King, 49 tuổi, ở xứ Wales, nước Anh đã quyết tâm lên kế hoạch giảm cân cho cả hai.

Theo Mirror, trước đây người phụ nữ có 4 con này nặng đến 108 kg, trong khi đó chú chó Lucky nặng hơn nửa tạ, và cả hai bị bác sĩ cảnh báo sẽ bị các bệnh về tim mạch nếu không chịu giảm cân.

Sau 6 tháng áp dụng chế độ ăn kiêng, thường xuyên chạy bộ, bà Alyson và chó Lucky đã dần lấy lại vóc dáng thon thả (ảnh). Đặc biệt nhờ tính kiên trì giảm béo, chó Lucky được Hiệp hội Chó ở Anh trao danh hiệu chú chó giảm cân nhanh nhất và được thưởng 500 USD.
TN

Nhiều nguy cơ mắc bệnh tim mạch

Đối diện với bệnh của dân văn phòng

Bệnh mạch vành, mạch não là nguyên nhân chính gây nên các căn bệnh về tai biến mạch máu não và các bệnh tim mạch đang phổ biến trên thế giới hiện nay. Ở nước ta số người mắc các bệnh về đường tim mạch đang có chiều hướng gia tăng, kể cả những nhóm dân cư trẻ.

Nguồn gốc chung của nhóm bệnh về đường tim mạch là do bệnh lý của hệ mạch vành và hệ mạch não. 90% bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim là do xơ vữa động mạch gây tổn thương động mạch vành. Xơ vữa động mạch là nguyên nhân chính làm gia tăng 60-70% trường hợp bệnh nhân bị tai biến mạch máu não.

Gia tăng bệnh nhân bị bệnh tim mạch

Ở nước ta, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội thì nhu cầu về cuộc sống cũng tăng cao. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam cũng tăng lên 70-73 tuổi. Đáng buồn, một số nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy, số lượng bệnh nhân nhồi máu cơ tim cũng ngày càng gia tăng.

Số lượng bệnh nhân bị tai biến mạch máu não và bệnh mạch vành hàng năm tại Bệnh viện T.Ư Huế tăng rất nhanh. Năm 2003 bệnh viện tiếp nhận 150 bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành, năm 2004 tăng lên 397 bệnh nhân và năm 2005 là 420 người. Theo báo cáo của Viện Tim TP. Hồ Chí Minh, năm 2002 Viện chỉ tiếp nhận 30 ca nhồi máu cơ tim, nhưng trong năm 2003 con số này là 119 ca, đặc biệt một số bệnh nhân nhập viện điều trị đang còn rất trẻ, từ 22 - 33 tuổi.

Qua điều tra dịch tễ học, những năm vừa qua (1989-1994) ở hầu hết các tỉnh thành như: Hà Nội, Huế, Thanh Hoá, TP.Hồ Chí Minh… cho thấy số tai biến hàng năm tăng từ 1,5 - 2,5 lần. Tại Thừa Thiên - Huế, tỷ lệ người mắc các bệnh về đường tim mạch năm 1989 là 29,89/100.000 dân thì đến năm 1993 có 106,8/100.000 dân, tăng gấp 3,5 lần so với trước đó. Tại Quảng Nam năm 2004 có 254 bệnh nhân, năm 2005 tăng lên 382 bệnh nhân và chỉ trong 9 tháng đầu năm 2006 số bệnh nhân bị bệnh này lên đến 374 bệnh nhân.

Tăng cường dự phòng bệnh
Ở các nước phát triển, nguyên nhân gây tử vong ở người lớn tuổi do nhồi máu cơ tim chiếm 2% tổng số người chết vì bệnh tật hàng năm. Theo Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ mới mắc bệnh tai biến mạch máu não là 150 - 250/100.000 dân và tỷ lệ hiện mắc là 500 - 700/100.000 dân.

Một kết quả nghiên cứu, dự báo nguy cơ mắc bệnh mạch vành, mạch não ở tỉnh Quảng Nam cho thấy: Trong 10 năm tới nếu không có kế hoạch dự phòng tốt thì có hơn 45% người trong độ tuổi 30 - 74 (chiếm 18,86% dân số cả nước) có nguy cơ mắc bệnh mạch vành. Hơn 11% người khác trong độ tuổi từ 30-74 (chiếm 4,86% dân số cả nước) có nguy cơ mắc bệnh mạch não cần được quản lý và điều trị gấp. Đây quả là con số báo động, một thách thức lớn đối với xã hội mà chúng ta cần phải can thiệp bằng nhiều giải pháp, đặc biệt là sự vào cuộc của từng cá nhân.

Nguyên nhân chính có thể gây nên các bệnh mạch vành, mạch não chính là do tình trạng thừa cân, béo phì, cholesterol máu, huyết áp cao, tình trạng hút thuốc lá… Để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh người dân cũng cần cân bằng chế độ ăn uống hợp lý, một lối sống khoẻ mạnh.

Đồng thời cần khám sức khoẻ định kỳ để phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ nếu có để dự phòng, điều trị có hiệu quả. Khi có yếu tố nguy cơ mắc bệnh nên đến các cơ sở y tế khám và tư vấn về các biện pháp dự phòng hoặc điều trị. Người mắc bệnh cần tuân thủ tuyệt đối theo chỉ dẫn của bác sĩ về việc ăn uống, sinh hoạt, rèn luyện cơ thể. Hưởng ứng tích cực chương trình tự chăm sóc sức khoẻ, trong đó ưu tiên việc tập thể dục đều đặn và thực hiện chế độ ăn uống hợp lý, nói không với tất cả các chất kích thích gây hại như bia, rượu, thuốc lá… chính là một phương pháp dự phòng có hiệu quả đối với các căn bệnh về đường tim mạch.

Ths. Nguyễn Thị Liên - (Dân Việt)

Cơm ngoài, nguy cơ mắc bệnh tim mạch tăng gấp đôi


Tình trạng thừa cholesterol ở người thành thị ngày càng tăng cao. Một phần do thói quen ăn ngoài gia đình.

Nghiên cứu mới nhất của Viện Dinh dưỡng Quốc gia vừa được công bố khẳng định. Theo nghiên cứu, tỉ lệ người có thói quen ăn ngoài gia đình bị rối loạn chuyển hóa lipit máu cao gấp hai lần so với những người ăn cơm ở nhà.

Ăn ít nhất 300 gram rau xanh mỗi ngày

TS Lê Bạch Mai, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho biết, thói quen ăn quá nhiều đạm động vật, uống rượu làm tăng nguy cơ thừa cholesterol. Bên cạnh đó, bình quân mỗi ngày người Việt mới ăn được gần 200 gram rau xanh. Mà với trên 300 gram rau xanh mỗi ngày chúng ta mới có nhiều cơ hội loại trừ được lượng cholesterol trong cơ thể. Theo TS Lê Bạch Mai, những yếu tố dinh dưỡng này khiến nguy cơ bị rối loạn lipit máu tăng cao, dẫn đến thừa cholesterol, kéo theo nguy cơ mắc một loạt các bệnh tim mạch.


Nên bổ sung đầy đủ rau xanh vào bữa ăn để giúp cơ thể loại bỏ cholesterol. Ảnh: minh họa

Cũng theo TS Mai, số người bị cholesterol cao ở thành thị (được khảo sát tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong 3 năm 2007 - 2010) thực sự là con số rất đáng ngại. Theo khảo sát này, cứ gần 2 người dân thành thị lại có một người bị cholesterol cao. Nhóm đối tượng từ 35 - 40 tuổi có tỷ lệ bị thừa cholesterol gấp hơn hai lần so với nhóm lứa tuổi từ 25-34. "Nhiều người nghĩ rằng, chỉ ăn thịt trong bữa ăn mà không ăn cơm thì sẽ ít nguy cơ thừa cân và thừa cholesterol. Nhưng thực tế nếu ăn quá nhiều thịt (thay cơm) sẽ tăng nguy cơ thừa cholesterol", TS Mai nói.

TS Lê Bạch Mai cũng cho biết, ngoài những chế độ ăn tùy tiện thì việc ít vận động, không tập thể dục cũng gây nhiều nguy hại cho cơ thể như thừa mỡ, thừa lipid trong máu gây ra bệnh huyết áp cao, bệnh tim mạch như xơ vữa động mạch, hẹp mạch vành...

Vòng bụng to - vòng đời càng ngắn

Khảo sát mới nhất của Viện Dinh dưỡng Quốc qia về tình trạng cholesterol cao ở người trưởng thành Việt Nam cho thấy, bình quân tỷ lệ người Việt Nam có lượng cholesterol cao là 29,1%, tỷ lệ này ở người dân thành thị lên tới 44,3%.

Theo GS.TS. Phạm Gia Khải, Chủ tịch Hội Tim Mạch Việt Nam, tỷ lệ cholesterol cao hơn ngưỡng an toàn, gây dư thừa cholesterol trong máu rất nguy hiểm, đặc biệt là dư thừa cholesterol LDL-C (còn gọi là cholesterol xấu).

TS Khải còn cho biết, trước đây bệnh lý tim mạch thường gặp ở tuổi "xế chiều". Ngày nay, rất nhiều bệnh nhân mắc các chứng bệnh tim mạch ở độ tuổi trẻ. Đặc biệt, có bệnh nhân 27 tuổi đã bị xơ vữa động mạch não. Qua điều tra, có thấy bệnh nhân nghiện thuốc lá, bia rượu.

Giải thích về nguyên lý thừa cholesterol dẫn đến bệnh tim mạch, GS Khải cho biết, giống như việc tích tụ dầu mỡ trong ống dẫn nước, việc tích tụ cholesterol làm hẹp động mạch, khiến cho máu đi qua khó khăn hơn, làm giảm lượng máu tới mô cơ thể, bao gồm cả tim. Vì thế, cholesterol cao là nguyên nhân chính gây ra bệnh tim mạch, đặc biệt dẫn đến các chứng xơ vữa động mạch, bệnh động mạch vành, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não. Thậm chí, cholesterol cao còn có nguy cơ gây ra các bệnh về sỏi túi mật, đái tháo đường...

GS Phạm Gia Khải cũng cho rằng, qua nghiên cứu nhỏ trên bệnh nhân cho thấy, số bệnh nhân có biểu hiện "bụng to" có nhiều bệnh hơn những người "bụng nhỏ". Ví dụ như, người "bụng to" thường có các bệnh như mỡ máu tăng cao, huyết áp cao. Những chứng bệnh này dễ gây đột quỵ, tắc mạch, gây triệu chứng mỡ không lên được não, nhồi máu cơ tim...

"Mọi người cần thay đổi chế độ ăn để giảm lượng cholesterol dư thừa trong cơ thể. Nên bỏ thuốc lá, tăng cường các loại rau xanh, trái cây trong khẩu phần ăn hằng ngày; ăn nhiều cá; giảm ăn đồ ngọt; hạn chế chất béo từ động vật, thực phẩm chiên xào và các thực phẩm chế biến sẵn; tăng cường sử dụng các loại thực phẩm chứa nhiều vi chất tự nhiên giúp giảm cholesterol dư thừa trong cơ thể. Như thế cũng có nghĩa là không có những nguy cơ của bệnh tim mạch", TS. Lê Bạch Mai tư vấn.

Giadinh

Các yếu tố nguy cơ thường gặp của bệnh tim mạch

Bệnh tim mạch đã và đang là vấn đề sức khỏe rất được quan tâm trên thế giới, tỷ lệ tử vong và di chứng do bệnh tim mạch vẫn chiếm hàng đầu và đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển. Theo Trung tâm thống kê sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ, hơn 68 triệu người dân nước này đang có ít nhất một rối loạn về tim mạch và rất nhiều người khác được cho là có nguy cơ mắc một trong những bệnh lý nguy hiểm này. Tại Việt Nam, điều tra gần đây có tới trên 20% số người lớn bị tăng huyết áp. Kiểm soát các yếu tố nguy cơ của bệnh lý tim mạch là vô cùng quan trọng trong việc giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do bệnh lý tim mạch.

Cholesterol máu cao - một nguyên nhân gây bệnh tim mạch.
Thế nào là yếu tố nguy cơ? Yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch là yếu tố liên quan với sự gia tăng khả năng mắc bệnh tim mạch. Vậy, yếu tố nguy cơ của tim mạch bao gồm:

Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được

Tuổi: Hơn nửa số người bị đột quỵ tim mạch và tới 4/5 số người bị chết vì đột quỵ có tuổi cao hơn 65.

Cố nhiên là bạn không thể giảm bớt tuổi đời của mình được nhưng việc ăn uống điều độ và sinh hoạt hợp lý có thể giúp làm chậm lại quá trình thoái hoá do tuổi tác gây ra.

Giới: Đàn ông có nguy cơ mắc bệnh mạch vành, đột qụy và các bệnh tim mạch khác cao hơn so với nữ giới. Hiện nay, tuổi thọ của phụ nữ nói chung cao hơn nam giới trung bình 4 - 6 năm.

Yếu tố di truyền: Nếu trong gia đình bạn có người mắc bệnh tim mạch khi còn trẻ (nam dưới 55 tuổi và nữ dưới 65 tuổi), bạn phải đặc biệt lưu ý tới việc làm giảm ảnh hưởng của bất kì yếu tố nguy cơ nào có thể kiểm soát được và phải cảnh giác hơn để tránh được cơn đau tim hoặc đột qụy.

Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được

Tăng huyết áp: Tăng huyết áp được xác định nếu con số huyết áp luôn vượt quá 140/90mmHg.

Rất nhiều nghiên cứu cho thấy, điều trị thành công tăng huyết áp làm giảm rõ rệt các nguy cơ của nó. May mắn thay, hiện tại chúng ta đang có rất nhiều thuốc hạ huyết áp tốt, dễ dàng dung nạp và dùng được lâu dài.

Tăng cholesterol trong máu và các rối loạn lipid liên quan: Tăng hàm lượng các chất mỡ trong máu (cholesterol và triglycerid) rất thường gặp. Các nghiên cứu cho thấy, nồng độ cholesterol toàn phần trong máu là yếu tố dự báo mạnh về nguy cơ mắc bệnh mạch vành và đột qụy. Nồng độ cholesterol toàn phần trong máu dưới 5,2mmol/dl được coi là bình thường. Khi cholesterol tăng cao sẽ đồng nghĩa với nguy cơ đột qụy tim mạch tăng cao theo tuyến tính.

Cholesterol toàn phần bao gồm nhiều dạng cholesterol trong đó được nghiên cứu nhiều nhất là cholesterol trọng lượng phân tử cao (HDL-C) và cholesterol trọng lượng phân tử thấp (LDL-C). Nồng độ LDL-C trên 3,0mmol/dl là yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch. Ngược lại, HDL-C được xem là có vai trò bảo vệ bạn. Hàm lượng HDL-C trong máu càng cao thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch càng thấp (tối thiểu cũng phải cao hơn 1,0mmol/dl).

Hút thuốc lá: 30 - 40% trong số khoảng 500.000 trường hợp chết vì bệnh mạch vành hằng năm có nguyên nhân từ thuốc lá. Các kết quả từ nghiên cứu Framingham đã chứng minh rằng, nguy cơ đột tử cao hơn 10 lần ở nam và 5 lần ở nữ giới có hút thuốc. Thuốc lá là yếu tố nguy cơ số 1 đối với đột tử và bệnh mạch ngoại vi.

May thay, nguy cơ mắc bệnh sẽ giảm ngay sau khi từ bỏ thuốc lá. Dần dần, mức độ nguy cơ của họ sẽ gần như tương đương với người chưa bao giờ hút thuốc lá.

Béo phì: Trong một nghiên cứu gần đây trên 100.000 phụ nữ tuổi từ 30 - 55, nguy cơ tim mạch cao gấp 3 lần ở nhóm béo nhất so với nhóm có cân nặng thấp nhất.

Có hai dạng béo phì, ở dạng thứ nhất, mỡ thừa thường tập trung tại vùng bụng và thường gặp ở nam giới (gọi là "bụng bia" hay người hình quả táo). Dạng thứ hai được đặc trưng bởi sự tích lũy mỡ nhiều ở vùng mông và đùi, thường gặp ở phụ nữ (người hình quả lê). Kiểu béo phì ở bụng có liên quan với sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đặc biệt là bệnh mạch vành và đột qụy. Các nhà khoa học khuyến cáo, nếu bạn là nam giới, tốt nhất không nên để vòng bụng vượt quá 90% vòng mông, nếu bạn là phụ nữ, hãy cố gắng duy trì con số này dưới 80%.

Đái tháo đường và kháng insulin: Những người mắc bệnh đái tháo đường, đặc biệt là đái tháo đường xuất hiện sau 40 tuổi (gọi là type II) có tỷ lệ mới mắc bệnh mạch vành và đột qụy cao hơn người bình thường. Bệnh cảnh kháng insulin trong máu có thể gây tăng huyết áp và tăng lắng đọng cholesterol vào mảng vữa xơ động mạch. Hậu quả là thúc đẩy quá trình xơ vữa và các biến chứng của nó.

Lười vận động (lối sống tĩnh tại): Lối sống tĩnh tại được coi là một nguy cơ của các nguy cơ tim mạch. Việc vận động hằng ngày đều đặn ít nhất 45 phút mang lại lợi ích rõ rệt trong giảm nguy cơ bệnh tim mạch.

Rượu: Nếu sử dụng điều độ, tức không quá 1 - 2 chén mỗi ngày, rượu có thể giúp ngăn ngừa xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành. Nếu uống quá nhiều rượu (nhiều hơn 60ml rượu vang, 300ml bia, hoặc 30ml rượu nặng) mỗi ngày làm tăng huyết áp, tăng nguy cơ tổn thương gan và biến chứng thần kinh trung ương cũng như rất nhiều rối loạn khác.

Điều chỉnh các yếu tố nguy cơ tim mạch

- Thực hiện chế độ ăn uống có lợi cho tim, ít mỡ bão hoà và cholesterol, nhiều rau, quả, cá..; Giảm cân nặng nếu bạn thừa cân; Hạn chế muối đưa vào cơ thể. Đa số chúng ta ăn nhiều muối hơn lượng cơ thể chúng ta cần. Nhiều thức ăn tự nhiên đã chứa muối hoặc muối đã được thêm vào trong quá trình chế biến. Đơn giản nhất, bạn hãy hạn chế cho muối vào thức ăn khi nấu nướng; Bắt đầu một chương trình tập luyện thể dục. Tập luyện đều đặn có lợi cho tất cả mọi người. Bạn hãy chọn một phương pháp phù hợp với sở thích, thời gian và khả năng của bạn. Luyện tập đều đặn, mỗi ngày ít nhất 45 phút; Nếu bạn hút thuốc, hãy ngừng ngay; Nếu bạn uống rượu, hãy uống vừa phải; Học cách làm giảm căng thẳng, tránh phản ứng với các tình huống có thể gây stress bởi nó chỉ làm vấn đề trở nên trầm trọng hơn mà thôi; Đi khám bệnh định kỳ để đánh giá mức độ nguy cơ của bạn. Một hồ sơ hoàn toàn trong sạch về sức khỏe tại một thời điểm nào đó không thể suốt đời đảm bảo được rằng bạn không có bệnh tật.

TS. Phạm Mạnh Hùng (Tổng TK Hội tim mạch VN)-SKĐS

Phòng và chống bệnh tim mạch

Vài năm gần đây, bệnh tim mạch (kể cả bệnh tăng huyết áp, tai biến mạch máu não) đang có chiều hướng gia tăng. Hy vọng với những gợi ý dưới đây sẽ giúp bạn đọc phòng chống căn bệnh này một cách hiệu quả nhất.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh tim mạch. Nguyên nhân là do chế độ thức phẩm ngày càng nhiều calo như: thịt, mỡ động vật, bơ sữa, đường gây bệnh béo phì. Một nguyên nhân rất quan trọng khác là do ít vận động nhưng lại bị sức ép công việc quá lớn, thường xuyên bị căng thẳng. Muốn ngừa bệnh tim mạch, trước hết ta phải biết nhận diện những yếu tố gây bệnh: thuốc lá, cao mỡ, cao áp huyết, thiếu hoạt động, béo phì, và đái tháo đường (ĐTĐ).

Khám tim mạch cho người cao tuổi.
Thuốc lá

Gây rất nhiều nguy hiểm đến tim mạch. Thống kê cho thấy, người hút thuốc có tỷ lệ bị bệnh tim mạch cao hơn hai lần người không hút. Ai không hút nhưng phải hít khói của người hút cũng có nguy cơ mắc bệnh tim mạch hơn người thường. Thậm chí, trong số những người tử vong vì bệnh tim mạch, khoảng 1/3 đã tử vong vì thuốc lá. Trong số những nguyên nhân “né” được, thuốc lá là nguyên nhân cần “né” nhiều nhất. Ngay cả những người đã lỡ bị bệnh tim mạch, nếu bỏ được thuốc thì tỷ lệ bị “mất mạng” vì thuốc lá sẽ giảm xuống khoảng một nửa những người tiếp tục hút.

Cao “mỡ” (cholesterol)

Là một yếu tố quan trọng đưa đến bệnh tim mạch. Chất mỡ này tuy không thể thiếu được trong đời sống hàng ngày, nhưng rất nguy hại khi dùng nó quá nhiều. Trường hợp này, cholesterol sẽ nằm trên lớp vách mỏng của các động mạch và ngay cả trên tim nữa. Dần theo năm tháng, lớp mỡ này dày lên và giảm bớt kích thước của các động mạch. Hoạt động của máu trong việc vận chuyển oxy trở nên yếu, không đủ nuôi các cơ quan bộ phận trong cơ thể khi cần phải cố sức làm việc gì đó, dẫn đến những cơn đau ở ngực, đó là tình trạng nguy hiểm của chứng đau thắt ngực, do thiếu máu đến tim. Muốn bảo vệ tim, phải có chừng mực với hàm lượng cholesterol, ngay cả khi bạn muốn dùng một thực phẩm bổ dưỡng nào đó. Tuy vậy, cũng có một số người thường có khuynh hướng ăn những thực phẩm có hàm lượng cholesterol quá cao. Nếu hàm lượng cholesterol dưới 2g trong ngày, bạn không cần lo lắng gì cả, nhưng lần sau đó phải chú ý nhé! Trên 2,5g trong ngày, bạn phải theo một chế độ ăn kiêng và đôi khi phải uống thuốc thêm. Giữa 2 mức độ đó, hàm lượng cholesterol cần được dùng ít lại. Tóm lại, bạn phải luôn thận trọng và sử dụng có liều lượng vừa phải.

Áp huyết cao

Cũng gây nguy hiểm đáng kể cho tim mạch. Theo định nghĩa của Hội Tim mạch Hoa Kỳ thì áp huyết bình thường là từ 130/85mmHg trở xuống. Tuy nhiên, áp huyết phải dưới 120/80 thì mới được kể là “tốt”. Cũng như thuốc giảm mỡ, thuốc hạ áp huyết đã “cứu” được mạng của rất nhiều người và còn giúp nhiều người khác tránh khỏi những bệnh gây tàn tật như bệnh tai biến mạch máu não. Những lời đồn về biến chứng của thuốc đã bị “thổi phồng” quá đáng và làm người bệnh hoang mang. Cũng như thuốc giảm mỡ, biến chứng của thuốc so với cái lợi của thuốc thì quá nhỏ. Nếu uống thuốc mà không “hợp” thì nên gặp lại bác sĩ để tính chuyện đổi thuốc khác. Bỏ thuốc là một chuyện hoàn toàn không nên làm.

Thể dục

Giúp giảm đường, giảm mỡ, giảm cân, giảm áp huyết, và giảm những bệnh tim mạch. Người có thể dục thường xuyên sẽ sống khỏe hơn, lâu dài hơn, và sẽ có xương cứng hơn những người ít hoạt động. Nên thể thao khoảng hơn 30 phút, 4 hoặc 5 ngày mỗi tuần. Người “phì”, đặc biệt là những người có nhiều mỡ bụng, cũng dễ bị bệnh tim hơn một người không “phì”. Ở Hoa Kỳ, nhiều người bị “phì” vì thức ăn quá thừa thải mà sinh hoạt lại ít (ít đi bộ, ít đạp xe đạp, làm gì cũng dùng máy, thay vì sử dụng tay, chân.....). Muốn giảm cân, không có gì quan trọng hơn việc giới hạn số lượng thực phẩm tiêu thụ mỗi ngày. Phải biết số năng lượng “calories” mình cần, và tiêu thụ ít hơn số “calories” đó. Phải đặc biệt chú trọng đến những chất đường, bột, và mỡ. Ít người nghĩ nước ngọt, nước trái cây, sữa là thức ăn. Tuy nhiên, những thứ này có rất nhiều “calories”. Cũng có người đến bữa thì ăn ít, tuy nhiên, cứ đi ra lại “bốc” 1 miếng, đi vô “bốc” 2 miếng. Những miếng nhỏ này cộng lại có khi còn hơn một bữa lớn.

Bệnh ĐTĐ

Cũng rất nguy hại cho tim mạch. Phụ nữ có ĐTĐ bị nhiều bệnh tim mạch gấp 3 lần phụ nữ bình thường. Đàn ông có ĐTĐ thì bị nhiều bệnh tim mạch gấp 2 lần đàn ông bình thường. Khoảng 2/3 những người có ĐTĐ sẽ tử vong vì những bệnh tim mạch. Chính vì vậy mà ai có ĐTĐ đều nên đặc biệt để ý và ngăn ngừa bệnh tim mạch. Dĩ nhiên chế độ ăn, thể dục, uống thuốc và chích thuốc là quan trọng.

BS. Quốc Bảo-skds

Tác động vào các yếu tố gây bệnh tim mạch

Ở các nước công nghiệp phát triển, tỷ lệ mắc bệnh mạch vành ở độ tuổi 30-39 là 0,9%, 50-59 tuổi trên 30% và trên 60 tuổi trên 50%, ở Việt Nam tỷ lệ bị bệnh mạch vành là 9,5%. Các yếu tố nguy cơ chính của bệnh mạch vành gồm hút thuốc lá, tăng huyết áp, tăng cholesterol máu, thiếu vận động, di truyền, giới tính, tuổi, và 3 yếu tố nguy cơ bổ sung là bệnh tiểu đường, béo phì, stress. Trong mười yếu tố đó, trừ các yếu tố di truyền, giới tính, tuổi tác, con người có thể tác động được vào 7 yếu tố còn lại để giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành.

Hoa quả là nguồn cung cấp chủ yếu vitamin C, E và beta caroten.
Hút thuốc có liên quan đến hơn 30 bệnh khác nhau trong đó có bệnh ung thư, bệnh phổi và bệnh tim mạch. Người hút thuốc có nguy cơ bị mắc bệnh mạch vành cao hơn gấp hai lần so với người không hút thuốc, hút thuốc được coi là yếu tố nguy cơ lớn nhất gây bệnh mạch vành, của đột tử do tim. Bỏ hút thuốc là cách quan trọng để giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành. Nếu bạn không hút thuốc thì đừng bao giờ hút, nếu bạn hút thuốc thì hãy bỏ ngay. Đáng tiếc rằng đối với nhiều người, thói quen hút thuốc rất khó từ bỏ.

Tăng huyết áp có thể được điều chỉnh bằng cách dùng thuốc. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp có thể giảm huyết áp bằng việc tập luyện rèn sức bền thường xuyên với các bài tập: đi bộ nhanh, chạy việt dã, đạp xe, bơi và chế độ ăn uống hợp lý định hướng giảm cân (giảm chất béo, ăn nhạt, ăn nhiều rau, hoa quả).

Tăng cholesterol máu có thể được điều chỉnh bằng chế độ dinh dưỡng hợp lý, tập luyện thể dục thể thao và dùng thuốc. Cách đơn giản nhất là giảm cholesterol máu nhờ tập luyện thể dục thể thao kết hợp ăn uống hợp lý, hạn chế tối đa sử dụng các thức ăn có chứa nhiều cholesterol như trứng, thịt mỡ, giò, xúc xích, dầu dừa, dầu cọ..., sử dụng nhiều thức ăn có chứa vitamin E, vitamin C và beta caroten. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, các vitamin này có tác dụng chống lão hóa, giảm xơ vữa động mạch. Không nên ăn quá 3 quả trứng/tuần và phải cách ngày (trong 1 quả trứng đã chứa đủ nhu cầu về cholesterol của cơ thể trong ngày - 250mg), thay ăn thịt bằng cá. Ăn cá rất tốt cho sức khỏe, cá không những là nguồn cung cấp chất đạm quý giá, mà còn cung cấp cho cơ thể các vitamin A, D, E, B12, B6, đặc biệt là trong mỡ cá có rất nhiều axit béo omega-3 có tác dụng giảm hàm lượng cholesterol máu, cản trở phát triển xơ vữa động mạch, nuôi dưỡng não, cải thiện thị lực (axit béo omega-3 đặc biệt có nhiều trong cá thu, cá ngừ, cá trích, cá hồi).

Cuộc sống tĩnh tại ít vận động: Tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, chủ yếu với các bài tập rèn sức bền như đi bộ nhanh, chạy bước nhỏ, đạp xe đạp, bơi với liều lượng hợp lý và tập thường xuyên làm giảm đáng kể nguy cơ bị mắc bệnh mạch vành. Trong một nghiên cứu ở Mỹ thấy rằng, chỉ cần đi bộ nhanh 20-30 phút/buổi, với tần số 3-5 buổi/tuần đã có hiệu quả tốt giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành. Tập luyện thể dục thể thao rèn sức bền thường xuyên còn ảnh hưởng đến các yếu tố nguy cơ khác của bệnh mạch vành như giảm huyết áp, giảm hàm lượng cholesterol xấu, tăng hàm lượng cholesterol có ích và giảm cân.

Kiểm soát béo mập, đái tháo đường và stress: Với chế độ ăn giảm calo và giảm chất béo, tăng cường ăn các loại rau quả có chứa các vitamin - antioxidant như: C, E và beta- caroten, kết hợp tập thể dục thể thao rèn sức bền thường xuyên (đặc biệt là đi bộ nhanh, chạy cự ly dài) sẽ giúp cho cơ thể giảm đáng kể lượng mỡ thừa - giảm cân. Tập luyện thể dục thể thao thường xuyên còn giảm nguy cơ phát triển bệnh đái tháo đường týp II, giảm các yếu tố gây xơ vữa động mạch, giảm cân ở những người bị thừa cân; điều hòa lượng đường glucose trong máu do cải thiện khả năng sử dụng glucose của hệ thống cơ bắp.

Để kiểm soát ảnh hưởng của stress đối với cơ thể, mỗi chúng ta cần biết cách giảm các nguồn gây stress, điều hòa cuộc sống, và sử dụng các kỹ thuật thư giãn như các bài tập thở, tăng thời gian ngủ nghỉ, tập luyện thể dục thể thao, đi du lịch, thăm thú bạn bè...

Nguy cơ mắc bệnh tim mạch nói chung và bệnh mạch vành nói riêng có thể được kiểm soát bằng cách tác động lên các yếu tố nguy cơ sau: hút thuốc, tăng huyết áp, tăng cholesterol máu, cuộc sống tĩnh tại ít vận động, bệnh tiểu đường, béo mập, stress nhờ dùng thuốc, chế độ ăn uống hợp lý, tập luyện thể dục thể thao rèn sức bền thường xuyên với liều lượng phù hợp, hạn chế các thói quen có hại, biết cách kiểm soát stress và tạo cho bản thân một cuộc sống thanh thản.

TS. Đặng Quốc Bảo

Ai dễ mắc bệnh tim? (Kỳ II)

Không nên ngồi lâu không hoạt động

Hội Tim mạch Mỹ cho rằng, ít vận động là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh tim. Hoạt động thích hợp có rất nhiều cách, ví dụ như tham gia làm vườn, làm việc nhà, đi bộ, đạp xe chậm… là những hoạt động không quá mạnh, làm thường xuyên sẽ góp phần phòng bệnh tim rất tốt. Một ngày đi bộ hoặc hoạt động nhẹ nhàng khoảng 60 phút, hoặc ít nhất cách ngày một lần cũng sẽ rất có ích trong phòng chống bệnh tim mạch. Lời khuyên mọi người “vận động là sự sống”.

Người bị bệnh tim không nên ngủ quá nhiều

Các chuyên gia y học Mỹ đã điều trị 80 vạn người trong độ tuổi từ 40 – 80, kết quả cho thấy, những người bị bệnh tim mà ngủ 10 giờ một ngày thì tỷ lệ tử vong gấp 2 lần người chỉ ngủ 7 giờ/ngày, tỷ lệ này ở người trúng phong là 35 lần, điều này cho thấy, ngủ nhiều quá không tốt. Đó là vì khi ngủ, tuần hoàn máu chậm, dễ gây thành các cục máu đông; ngoài ra, nếu ngủ quá dài, cũng là dấu hiệu chứng xơ vữa động mạch. Do vậy, người có tuổi không nên ngủ nhiều, đề phòng bất trắc.

Cơn đau thắt ngực do stress.

Ban ngày ngủ khó dậy cần đề phòng bệnh tim

Các nghiên cứu cho thấy, người ngủ khó tỉnh không phải là việc tốt, nhất là ban ngày ngủ khó dậy thì tỷ lệ mắc bệnh tim càng cao hơn. Đặc biệt là đối với những người già, nhất là phụ nữ mà ban ngày ngủ mê mệt, khó dậy thì tỷ lệ mắc bệnh tim thường cao hơn so với những người trẻ. Một công trình nghiên cứu của Mỹ cho thấy, những phụ nữ cao tuổi ngủ ngày mà khó dậy thì tỷ lệ tử vong do bị bệnh tật cao hơn tới 82%, khả năng mắc bệnh tim cao hơn người khác tới 62%. Còn ở đàn ông thì tỷ lệ này chỉ là 35%.

Ban ngày sự trao đổi chất ở đại não phải dựa vào hoạt động mạnh mẽ của tim mới hoàn thành được, mà tim muốn hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt này lại phải dựa vào tuần hoàn máu ở hai hệ. Trong đó tuần hoàn phổi làm cho máu ở tĩnh mạch chứa ôxy thấp khi qua phổi được bổ sung đầy đủ ôxy rồi thông qua tim đập để chảy ra động mạch. Còn vòng tuần hoàn lớn ở cơ thể lại làm cho máu từ động mạch chảy tới các phủ tạng và tổ chức cơ thể để đảm bảo cho sự trao đổi chất ở đó. Khi tim bị mắc bệnh, hai vòng tuần hoàn nói trên đều bị ảnh hưởng, trong đó não là bộ phận mẫn cảm nhất, nếu cung cấp năng lượng và ôxy cho nó không đủ sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới chức năng của não, làm cho người bệnh luôn muốn ngủ, tinh thần mệt mỏi.

Không nên hút thuốc

Hút thuốc là nguyên nhân gây thiếu máu cơ tim không triệu chứng. Các nhà khoa học Mỹ khảo sát hai nhóm người hút thuốc và không hút thuốc cho thấy, nicotin trong thuốc lá làm giảm ảnh hưởng tới hệ thống thần kinh, làm cho năng lực cảm nhận đau đớn giảm đi, chính điều này đã che lấp triệu chứng của bệnh động mạch vành ở người bệnh. Vì vậy người bệnh chủ quan không đi khám và khi được phát hiện thì bệnh đã nặng. Lời khuyên là, người hút thuốc cần khám sức khỏe định kỳ và làm điện tâm đồ, nếu có thiếu máu cơ tim cần điều trị ngay.

Không nên chủ quan khi trời mưa lạnh

Bị mưa đột ngột dễ dẫn tới bệnh động mạch vành. Theo các chuyên gia, khi trời mưa khí hậu thay đổi rất lớn, khí áp hạ đột ngột, lúc đó tim sẽ đập nhanh hơn, cơ tim dễ bị thiếu ôxy. Nếu đột ngột bị mưa, nhiệt độ trong và ngoài cơ thể sẽ chênh lệch nhau, tim không chịu nổi những ảnh hưởng đó của môi trường, dễ gây ra bệnh động mạch vành, nhất là ở người già.

Không dùng quần áo bằng sợi hóa học

Người bị bệnh tim mạch cần chú ý đến hiện tượng tĩnh điện. Với người bình thường, tĩnh điện hoàn toàn không gây hại, nhưng người bệnh tim cần cẩn thận. Các nghiên cứu cho thấy, một số người bị bệnh nhịp tim thất thường đa số do mặc đồ lót bằng sợi hoá học làm da bị tĩnh điện gây ra chênh lệch điện áp, ảnh hưởng tới sự truyền dẫn của điện tim, đẫn tới nhịp tim thất thường. Do đó, người có bệnh tim mạch, cần phải mặc đồ lót bằng sợi bông để tránh hiện tượng trên. Ngoài ra cần tăng cường độ ẩm tương đối trong phòng ở cũng là cách để hạn chế tĩnh điện làm tổn thương cơ thể.

Tránh căng thẳng trong công việc

Phần lớn bệnh tim là do áp lực về tâm lý (stress). Chẳng hạn công việc quá nhiều, quá lu bù, làm việc quá sức hoặc xúc cảm quá, nhất là loại không vui vẻ (cảm xúc âm tính). Các nghiên cứu cho thấy, khi rơi vào trạng thái quá căng thẳng, lo lắng và mệt mỏi, hệ thống thần kinh thực vật xuất hiện những phản ứng mang tính điều tiết như tim đập nhanh hơn, vã mồ hôi, người run lên, tâm thần bất ổn, mất ngủ… Những phản ứng này sau đó sẽ tự mất đi. Nhưng một số người tính cách hướng nội, mẫn cảm, đa nghi, không đủ tự tin, do dự, quá chú ý tới bản thân, sinh ra căng thẳng và lo sợ trước những phản ứng của cơ thể, sẽ làm cho những triệu chứng này tăng nặng thêm. Các stress đều dễ trực tiếp tạo nên các biến chứng nặng nề của bệnh xơ vữa động mạch (như cơn đau tim) dạng nhồi máu cơ tim hoặc dạng cơn đau thắt ngực.

Suy tim cấp tính – Chớ coi nhẹ

Suy tim cấp tính là chỉ những người chức năng tim không toàn vẹn nhưng triệu chứng lại không điển hình, nên rất dễ bị coi nhẹ. Nếu khi ngủ đêm phải kê cao gối mới thấy thoải mái, khi nằm ngửa bị ho, thở dốc; khi ngủ hay bị ngạt phải tỉnh dậy ngồi một lúc mới khỏi… thì có thể là biểu hiện của suy tim. Người khi nằm mà bị ho, chú ý nếu bị suy tim thì ho thường kèm theo sợi máu hoặc viêm tuyến nước bọt, ngồi dậy thấy đỡ, dùng thuốc kháng sinh điều trị không kết quả, mẫn cảm với thuốc trợ tim đều thuộc dạng này. Nhịp tim thất thường cũng là một đặc trưng của người suy tim, mạch tăng (trên 80 lần/phút), hễ lao động thể lực là tăng trên 100 lần/phút, cũng có lúc thấy mạch ngừng. Hiện tượng này chứng tỏ nhịp tim thất thường (loạn nhịp) một khi phát hiện ra cần đi kiểm tra ngay để đề phòng bị suy tim.

BS. Nguyễn Văn Kiểm-SKĐS

Kỳ 1: Những nhân tố nguy hiểm cho bệnh tim mạch

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới thì bệnh tim mạch là một trong những nguyên nhân gây tử vong cao nhất. Tuy nhiên, bệnh có thể được phòng ngừa cũng như hạn chế nguy cơ tử vong nếu chúng ta có ý thức phát hiện và điều trị sớm. Bài viết này xin giới thiệu một số yếu tố nguy cơ cần cảnh báo để bạn đọc tham khảo.

Nhiễm khuẩn răng miệng dễ gây hoại tử cơ tim

Người bị hói đầu thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao.

Gần đây, các chuyên gia y học phát hiện, hoại tử cơ tim có liên quan nhất định tới việc vệ sinh răng miệng kém. Trên lâm sàng, khi kiểm tra toàn bộ cơ thể những bệnh nhân bị hoại tử cơ tim cấp tính, thấy phần lớn các người bệnh đều có các bệnh về răng, miệng, thường gặp nhất là viêm hoặc sưng (có mủ) quanh răng. Qua phân tích thấy rằng, ở vùng răng bị bệnh có rất nhiều khuẩn hình que và liên cầu khuẩn. Các loại khuẩn này nảy sinh ra độc tố và xâm nhập vào máu, tới một mức độ nào đó, chất độc sẽ gây nghẽn mạch và các động mạch nhỏ bị co thắt; nếu động mạch vành của tim bị liên lụy sẽ gây nghẽn mạch làm cơ tim hoại tử. Cơ chế phát sinh bệnh tương đối phức tạp, mà khâu vệ sinh răng miệng kém chỉ là một trong số những nguyên nhân mà thôi.Ù tai có thể liên quan đến tim

Các nghiên cứu mới nhất gần đây cho thấy, những người trên 55 tuổi mà đột nhiên thấy tai bị ù, thì thường là biểu hiện của bệnh động mạch vành (ĐMV) và tim mạch. Ù tai, thính lực giảm sút hoặc tai điếc thường là một trong những biểu hiện của bệnh xơ vữa động mạch, ĐMV hoặc thiếu máu não tạm thời. Thông thường, sau 6 – 12 tháng kể từ khi có các triệu chứng trên sẽ bị mắc bệnh ĐMV.

Tóc rụng phải đề phòng bệnh tim

Theo tài liệu nước ngoài, đàn ông trong độ tuổi 21 – 55, nếu đỉnh đầu bị hói nặng thì khả năng mắc bệnh tim cao gấp 3 lần so với người bình thường. Qua nghiên cứu, các chuyên gia cho rằng mối liên quan giữa người hói và bệnh tim có thể là do một lượng hormon nam gây ra. Loại hormon này có thể ảnh hưởng tới hàm lượng cholesterol gây tắc nghẽn trong mạch máu.

Đau vai tay trái cần kiểm tra điện tâm đồ ngay

Hiện tượng đau vai trái có thể do bệnh tim gây ra. Bởi thần kinh cảm giác đau vai và đau tim hầu như cùng đi vào cột sống ở cùng một nơi. Vì vậy, khi tim có vấn đề, thường hay bị nhầm với hiện tượng đau vai, làm thời gian bệnh tim kéo dài, gây hậu quả nghiêm trọng. Do vậy, khi vùng vai trái đau kéo dài không khỏi, cần phải đi điện tâm đồ kiểm tra tim ngay.

Người từ tuổi trung niên đau bụng vùng thượng vị cần cảnh giác đau do tim

Đau bụng vùng thượng vị cấp tính thường là biểu hiện đầu tiên của hoại tử cơ tim, hay xuất hiện sau khi ăn no, nhất là sau khi ăn loại thức ăn lượng mỡ cao. Điều này liên quan đến việc sau khi ăn, máu đặc hơn, lưu lượng máu chảy giảm, tiểu cầu dễ tập trung lại gây tắc nghẽn ĐMV và làm trương lực của thần kinh dạ dày, ruột tăng lên. Trong lâm sàng, ngoài đau bụng vùng thượng vị ra, thường kèm theo buồn nôn, nôn oẹ, chướng bụng, đi lỏng, tức ngực, đau ngực, ra nhiều mồ hôi… Triệu chứng ở cơ tim thường bị các triệu chứng ở đường tiêu hoá che lấp, người bệnh thường bị chẩn đoán là đau dạ dày làm lỡ thời cơ điều trị tim mạch, do vậy dẫn đến tình trạng nguy hiểm. Lời khuyên với những người 45 tuổi trở lên, khi xuất hiện đau bụng trên thì dù họ không có tiền sử bệnh tim, cho điều trị chống co thắt không có hiệu quả thì nên suy nghĩ tới bệnh cơ tim hoại tử, phải cho làm điện tâm đồ ngay để cấp cứu kịp thời.

Viêm khớp ngón tay cần chú ý bảo vệ tim

Các nhà khoa học phát hiện, viêm khớp ngón tay có thể là biểu hiện sớm đối với những người đàn ông chết vì bệnh tim, cũng là một trong những tín hiệu cảnh báo phụ nữ chết sớm. Công trình nghiên cứu này của các nhà khoa học Phần Lan cho rằng, người già và người béo phì mắc viêm khớp nhiều hơn, nhất là người béo phì thì mắc viêm khớp càng nặng hơn. Hiện chưa có cách nào chữa trị tận gốc loại bệnh này, nên phòng bệnh vẫn là hơn cả.

Sau khi gãy xương, cẩn thận phòng mắc bệnh tim

Đau tim lan sang vai trái.

Người già sau khi gãy xương dễ bị mắc bệnh tim mạch và là nguyên nhân quan trọng gây tử vong khi diễn biến xấu đi. Đó là do xương gãy gây đau đớn làm thần kinh giao cảm hưng phấn, làm tăng huyết áp, nghiêm trọng hơn có thể gây xuất huyết não. Sau khi phẫu thuật xương gãy, cơ thể rơi vào trạng thái bị kích thích cao độ, trực tiếp tổn hại đến cơ tim làm rối loạn hoạt động của tim. Vì vậy, khi bị gãy xương, cần phải theo dõi huyết áp, nhịp tim.Cẩn thận khi nửa đêm ho nhiều

Một số người già đêm đột nhiên bị ho nhiều, nhưng do không có triệu chứng gì khác nên dễ bị coi nhẹ. Nhưng thực ra đó chính là một tín hiệu suy kiệt chức năng tim. Lâm sàng gọi đây là “hô hấp khó khăn bột phát”. Đó chính là biểu hiện báo trước của bệnh tim, cần phải đi kiểm tra ngay.

Phụ nữ ngủ ngáy cần cảnh giác với bệnh tim

Một báo cáo khoa học của Đại học Harvard – Mỹ cho biết: phụ nữ ngáy ngủ sẽ tăng rủi ro mắc bệnh tim mạch hơn. Những người này kèm theo trạng thái ngủ nằm ngửa, hút thuốc, uống rượu, làm ca đêm nhiều thì nguy cơ mắc bệnh tim cao hơn người thỉnh thoảng mới ngáy tới 20%.

Nấc liên tục cần đề phòng cơ tim hoại tử

Nấc phần lớn là do dạ dày bị lạnh, viêm dạ dày và cơ hoành cách gây nên, ngoài ra thì trúng phong cũng hay bị nấc. Nhưng cũng có khi nấc lại do hoại tử cơ tim gây ra, nguyên nhân là do cơ tim vách dưới hoại tử kích thích cơ hoành gây ra. Do đó, nếu đột nhiên bị nấc liên tục mà không do các nguyên nhân gây bệnh khác thì phải suy nghĩ tới việc do cơ tim hoại tử gây ra, cần phải làm điện tim và kiểm tra ngay lập tức.

BS. Nguyễn Văn Kiểm-SKĐS

Choáng váng chóng mặt

Choáng váng & chóng mặt là triệu chứng mà bệnh nhân thường than phiền tại các phòng khám tổng quát cũng như thần kinh.

Choáng váng thường được sử dụng mô tả cảm giác xây xẩm hoặc mất thăng bằng. Còn chóng mặt là 1 ảo giác bệnh nhân thấy đồ vật xung quanh xoay tròn hoặc có cảm giác bản thân mình bị xoay tròn

Nguyên nhân

1. Bất thường ở tai trong, những dây thần kinh nốI kết từ tai trong đến não bộ. Ví dụ: Viêm mê đạo, chóng mặt tư thế lành tính, bệnh Méniere

2. Tổn thương tại chính não bộ: nhiễm trùng ỡ não bộ, u não, chấnthương vùng đầu, đột quỵ & co giật cũng gây ra chóng mặt.

3. Thuốc & rượu:

Một số kháng sinh như Streptomycin, gentamycin, thuốc lợi tiểu, thuốc điều trị trầm cảm, thuốc chống động kinh, thuốc dãn mạch

Rượu & thuốc lá cũng là những nguyên nhân thường gặp

4. Say tàu xe :do cơ chế mất thăng bằng ở tai trong, vận động đầu, mắt

Triệu chứng

Một số triệu chứng đặc biệt có thể gợi ý nguyên nhân của chóng mặt do bệnh tai, tổn thương ở não hay các nguyên nhân khác

Những biểu hiện gợi ý

Triệu chứng

Nguồn gốc

Nguyên nhân

Xoay tròn

Tai trong

Say tàu xe, nhiễm trùng, viêm thần kinh tiền đình, chóng mặt tư thế, bệnh Méniere.

Xây xẩm, chóang váng

Bệnh tim mạch

Hạ huyết áp

Lú lẫn, mơ hồ

Bệnh về tinh thần /tâm thần

Trầm cảm, lọan thần, rối loạn lo âu

Mất thăng bằng

Tổn thương thần kinh trung ương

Đột quỵ, chấn thương đầu, u não , ápxe não, thoái hóa thần kinh trung ương

Những yếu tố nguy cơ:

Khỏang 20% người độ tuổI 60 thường hay than phiền về chóang váng chóng mặt trong sinh họat hằng ngày. Chóng mặt tư thế lành tính thường ở người già, còn các nguyên nhân khác như viêm mê đạo, say tàu xe thì gặp ở mọi lứa tuổi.
Chẩn đóan chóng mặt:

Khi người bệnh bị chóng mặt cần phải được thăm khám tại các phòng khám chuyên khoa thần kinh & tai mũi họng để xác định nguồn gốc, nguyên nhân chóng mặt.

Tuy nhiên người bệnh cần chuẩn bị trả lời nhũng câu hỏi sau:

1. Chóng mặt là gì ? Bạn có cảm giác muốn ngất, xoay tròn, lú lẫn, hỏang sợ /mất thăng bằng.

2. Chóng mặt xuất hiện đột ngột ? Hay có yếu tố thuận lợi nào thúc đẩy ? Chẳng hạn thay đổi tư thế đột ngột

3. Bạn làm gì để giảm chóng mặt ?

4. Các triệu chứng kèm theo: Nôn / buồn nôn, đau đầu, mờ mắt, nói lắp, tê-yếu tay chân? ù tai, giảm thính lực.

5. Có uống rượu /hút thuốc. Có đang dùng thuốc gì ?

Các Test chẩn đóan chóng mặt:

Tùy theo nguyên nhân, nguồn gốc mà các test được chỉ định khác nhau.

Trong nguyên nhân bệnh tai trong thường được đo thính lực đồ, các xét nghiệm về dịch, mũ vùng tai xoang

Chụp điện tóan cắt lớp (CT) hay cộng hưởng từ (MRI) thường được chỉ định trong các tổn thương não như u não, u dây thần kinh, đột qụy, chấn thương vùng đầu

Điều trị chóng mặt:

Tùy nguồn gốc, nguyên nhân của chóng mặt mà thái độ điều trị khác nhau. Tuy nhiên trong mọi trường hợp khi xảy ra cơn chóng mặt cấp cần phải điều trị triệu chứng vì nó làm cho bệnh nhân khó chịu & sợ hãi.

Sử dụng thuốc tùy thuộc vào kinh nghiệm lâm sàng của thầy thuốc, một số thuốc sau đây thường được sử dụng và đánh giá tốt:

Các thuốc nhóm Histamine: Các thuốc này làm giảm ngay các triệu chứng chóng mặt và buồn nôn nhưng có tác dụng ngầy ngật.

Meclizin : 50-75mg/ngày.

Promethazine : 25-100mg/ngày.

Hydroxyzine : 25-100mg/ngày.

Dimenhydrynate : 25-100mg/ngày.

Diphenhydramine : 50-100mg/ngày.

Acetylleucine: 1000-1500mg/ngày.

Nhóm ức chế canxi:

Flunarizine : 5-10mg/ngày.

Cinnarizine : 50-100mg/ngày.

Nhóm Benzodiazepines:

Diazepam: thuốc nhóm này thường dùng cho bệnh nhân quá lo lắng nhưng cần được hướng dẫn kỹ sử dụng.

Nhóm tăng tuần hoàn tiền đình:

Piracetam: 1200-2400mg/ngày.

Betahistine: 24-48mg/ngày.

Extrait de ginkgo biloba.

Các Bài Tập Điều Trị Chóng Mặt:

Ở giai đoạn cấp:

Tư thế nằm

Đưa mắt nhìn sang hai bên và lên xuống thực hiện động tác chậm rồI nhanh dần.

Nhìn ngón tay di chuyển qua lại trước mắt khoảng 20cm.

Cử động gập ngữa và xoay đầu sang hai bên, chậm và tăng dần.

Tập tư thế ngồI sau đó là tư thế đứng với cùng động tác như trên.

Khi đã bớt:

Tập các động tác như trên ở tư thế đứng.

Đang ngồi từ từ đứng dậy với mở mắt và nhắm mắt.

Lên xuống bậc thang với mở mắt và nhắm mắt.

Xoay người 360 độ trong lúc cố xoay đầu về một điểm cố định.

Theo Suckhoegiadinh.org

Ngăn chặn nguy cơ mắc bệnh tim mạch

Bệnh lý tim mạch là nguyên nhân hàng đầu trong mọi nguyên nhân gây tử vong. Ngoài yếu tố bẩm sinh, đa số trường hợp là do sai lầm trong lối sống.

Bệnh tim mạch ngày nay đã xuất hiện ở lứa tuổi trẻ hơn nhiều so với trước đây. Vừa qua, bệnh viện tiếp nhận một bệnh nhân chỉ mới 40 tuổi, nhập viện vì đột ngột đau ngực trái dữ dội, kèm đổ nhiều mồ hôi và khó thở. Kết quả khám bệnh cho biết bệnh nhân T. bị nhồi máu cơ tim tối cấp, cần phải thông mạch vành. Anh T. là chủ doanh nghiệp, thường xuyên tiếp đãi khách nên phải nhậu nhẹt. Anh có thói quen hút thuốc khoảng 20 điếu mỗi ngày, ít vận động nên bị thừa cân.

Trước đây anh T. vẫn thấy khỏe bình thường, chỉ mới lần khám sức khỏe tổng quát đầu năm nay cho thấy lượng đường trong máu hơi tăng, cholesterol tăng cao, đo điện tim thấy có dấu hiệu thiếu máu cơ tim nhẹ. Vì bận công việc nên anh T. bỏ qua không điều trị tích cực. Ngoài ra anh T. có người cha chết vì bệnh xuất huyết não. Anh T. có nguy cơ mắc bệnh tim mạch rất cao mà không biết.

Có những yếu tố nguy cơ không thay đổi được, tuy nhiên cũng có các yếu tố nguy cơ có thể ngăn chận. Hiểu được điều này ta có thể chủ động phòng ngừa bệnh.

1 Các yếu tố nguy cơ tim mạch không thể thay đổi được, bao gồm: tuổi, giới, di truyền. Đây là các yếu tố nguy cơ mà nền y học đang bó tay.

- Tuổi: càng cao tuổi nguy cơ bệnh tim mạch càng tăng. Một thống kê ở Mỹ cho thấy cứ năm người chết do bệnh tim mạch thì có tới bốn người trên 65 tuổi.

- Giới tính: trong độ tuổi từ nhỏ đến trung niên, nam bị bệnh tim mạch nhiều hơn nữ, nhưng đến tuổi mãn kinh thì tỉ lệ bệnh tim mạch ở nữ xấp xỉ ở nam.

- Di truyền: Nhiều nghiên cứu cho thấy nếu bố mẹ hay anh chị em bị bệnh tim thì con cái, anh chị em ruột có nhiều nguy cơ mắc bệnh.

2 Các yếu tố nguy cơ tim mạch có thể thay đổi được:

- Thuốc lá: ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi, là nguyên nhân hay gặp gây nhồi máu cơ tim ở tuổi dưới 40. Người hút thuốc lá có nguy cơ bị bệnh tim mạch cao gấp 2-4 lần người không hút thuốc

- Cholesterol máu cao, LDL và cholesterol toàn phần cao, HDL thấp sẽ làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim.

- Béo phì: người béo phì dễ bị tăng cholesterol máu, tăng huyết áp và là nguy cơ của bệnh tim mạch. Nhất là béo phì kèm theo béo bụng.

- Ít hoặc không vận động: Khi vận động cơ thể tăng tiêu hao năng lượng, mọi cơ quan tăng cường hoạt động giúp thải trừ các chất độc hại ra ngoài, làm giảm cholesterol, hạ huyết áp. Vận động làm tăng sức mạnh của cơ bắp, làm tim và mạch máu đàn hồi tốt hơn, dẻo dai hơn. Vì vậy người ít hoặc không vận động có nhiều nguy cơ bị bệnh tim mạch hơn so với người năng vận động, rèn luyện cơ thể.

- Tăng huyết áp: Ở người bệnh tăng huyết áp, thành mạch máu thường bị vữa xơ nên rất kém co giãn. Do đó để tống máu đi, tim phải co bóp mạnh hơn. Hệ quả là cơ tim sẽ dày lên và cứng hơn, sự cố gắng liên tục sẽ làm tim suy yếu. Do áp lực lên thành động mạch tăng cùng với sự vữa xơ, mạch máu dễ bị vỡ ở những nơi xung yếu, tăng nguy cơ tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim.

- Bệnh đái tháo đường: Theo một nghiên cứu, hơn 65% người đái tháo đường bị tử vong vì bệnh tim mạch.

- Bị stress làm tăng nhịp tim và tăng huyết áp. Người bệnh tim mà liên tục chịu ảnh hưởng của stress thì tần số cơn đau thắt ngực tăng lên.

- Rượu làm tăng huyết áp, tăng triglicerid máu, gây nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Tuy nhiên uống rượu vang đỏ đều đặn một ly hằng ngày lại tốt cho tim mạch.

3 Yếu tố nguy cơ ở phụ nữ:

Uống thuốc viên ngừa thai sẽ làm tăng nhẹ nguy cơ nhồi máu cơ tim sớm ở nữ giới, nếu kèm thêm hút thuốc lá thì nguy cơ này tăng lên rất nhiều lần.

Trong giai đoạn mang thai nếu bị tiền sản giật, đái tháo đường, hoặc người sinh con nhẹ cân cũng tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim sớm.

Bs NGUYỄN THANH HẢI – TTO (Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương)


Nhóm có nguy cơ thẤp Nhóm có nguy cơ cao Nhóm có nguy cơ trung bình

NhẬn biẾt

Khi có tất cả các yếu tố sau đây:

không hút thuốc lá, cholesterol toàn phần dưới 200mg/dL và HDL trên 40mg/dL, huyết áp tâm thu dưới 120mmHg và huyết áp tâm trương dưới 80mmHg, không bị đái tháo đường, gia đình không có ai sớm mắc bệnh mạch máu

Khi có bất kỳ yếu tố nào sau đây:

đã biết bị bệnh động mạch vành hay bệnh mạch máu khác, bị bệnh đái tháo đường type 2, trên 65 tuổi kèm theo một hoặc nhiều yếu tố (hút thuốc lá, tăng huyết áp, rối loạn mỡ trong máu, béo phì)

Khi không thể xếp vào nhóm nguy cơ thấp hoặc nhóm nguy cơ cao

GIẢI pháp

Không cần điều trị. Chỉ cần tiếp tục duy trì lối sống khỏe mạnh (ăn uống hợp lý, tập luyện thể lực, không bị béo phì) Cần điều trị càng sớm càng tốt Cần thay đổi lối sống để có được như người có nguy cơ thấp, đồng thời cũng cần được kiểm tra thêm xem có bệnh động mạch vành hay không

Cholesterol: Những điều cần biết

Tại sao phải xét nghiệm cholesterol trong máu

Vì cholesterol máu có liên quan chặt chẽ với bệnh tim mạch, mà bệnh tim mạch là nguyên nhân tử vong hàng đầu trên thế giới. Bệnh tim mạch nói trong bài này gồm cả bệnh tim, chủ yếu các bệnh tim thiếu máu cục bộ như nhồi máu cơ tim, và bệnh mạch chủ yếu các tai biến mạch não như xuất huyết não hoặc nhồi máu não. Tử vong do bệnh tim đứng hàng đầu, còn tử vong do bệnh mạch đứng thứ hai, vậy tử vong tim mạch chiếm “thủ khoa” và chuyện dễ hiểu. Ðiều đáng nói ở đây là đa số trường hợp của cả hai bệnh trên đều do một nguyên nhân là vữa xơ động mạch, mà vữa xơ động mạch lại có liên quan chặt chẽ đến cholesterol huyết. Sang thế kỷ 21, Tổ chức Y tế Thế giới cho biết tử vong tim mạch vẫn đứng đầu, do đó xét nghiệm cholesterol trong máu vẫn còn rất cần thiết trong thời gian dài dài! Bảng 1 cho thấy cholesterol càng cao thì tử vong do bệnh tim thiếu máu cục bộ càng nhiều.

Vì cholesterol máu có liên quan chặt chẽ với bệnh tim mạch, mà bệnh tim mạch là nguyên nhân tử vong hàng đầu trên thế giới. Bệnh tim mạch nói trong bài này gồm cả bệnh tim, chủ yếu các bệnh tim thiếu máu cục bộ như nhồi máu cơ tim, và bệnh mạch chủ yếu các tai biến mạch não như xuất huyết não hoặc nhồi máu não. Tử vong do bệnh tim đứng hàng đầu, còn tử vong do bệnh mạch đứng thứ hai, vậy tử vong tim mạch chiếm “thủ khoa” và chuyện dễ hiểu. Ðiều đáng nói ở đây là đa số trường hợp của cả hai bệnh trên đều do một nguyên nhân là vữa xơ động mạch, mà vữa xơ động mạch lại có liên quan chặt chẽ đến cholesterol huyết. Sang thế kỷ 21, Tổ chức Y tế Thế giới cho biết tử vong tim mạch vẫn đứng đầu, do đó xét nghiệm cholesterol trong máu vẫn còn rất cần thiết trong thời gian dài dài! Bảng 1 cho thấy cholesterol càng cao thì tử vong do bệnh tim thiếu máu cục bộ càng nhiều.

Vì cholesterol máu có liên quan chặt chẽ với bệnh tim mạch, mà bệnh tim mạch là nguyên nhân tử vong hàng đầu trên thế giới. Bệnh tim mạch nói trong bài này gồm cả bệnh tim, chủ yếu các bệnh tim thiếu máu cục bộ như nhồi máu cơ tim, và bệnh mạch chủ yếu các tai biến mạch não như xuất huyết não hoặc nhồi máu não. Tử vong do bệnh tim đứng hàng đầu, còn tử vong do bệnh mạch đứng thứ hai, vậy tử vong tim mạch chiếm “thủ khoa” và chuyện dễ hiểu. Ðiều đáng nói ở đây là đa số trường hợp của cả hai bệnh trên đều do một nguyên nhân là vữa xơ động mạch, mà vữa xơ động mạch lại có liên quan chặt chẽ đến cholesterol huyết. Sang thế kỷ 21, Tổ chức Y tế Thế giới cho biết tử vong tim mạch vẫn đứng đầu, do đó xét nghiệm cholesterol trong máu vẫn còn rất cần thiết trong thời gian dài dài! Bảng 1 cho thấy cholesterol càng cao thì tử vong do bệnh tim thiếu máu cục bộ càng nhiều.

Những ai cần làm cholesterol huyết

Nếu có điều kiện, nên làm cholesterol cho tất cả mọi người trên 20 tuổi, nhưng để tiết kiệm, nên xét nghiệm ưu tiên cho những người mắc một trong những bệnh nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực, tai biến mạch não, bệnh động mạch ngoại biên (viêm tắc động mạch chi), tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì; hoặc cha, mẹ, anh chị em ruột mắc những bệnh trên. Trường hợp kết quả bình thường (xem dưới), sau 5 năm mới cần làm lại.

Cholesterol huyết, bao nhiêu là cao ?

Cholesterol từ 5,2 mmol/1 trở xuống là bình thường, từ 5,2 đến 6,2 là hơi cao, từ 6,2 trở lên là cao rõ. Tuy nhiên, các con số trên chỉ là tương đối. Vì ngay những người cholesterol dưới 5,2 cũng có 3-4 phần nghìn chết do thiếu máu cục bộ (Bảng 1).

Bảng 1. Các trị số bình thường và bệnh lý của “bộ mỡ”

1. Cholesterol toàn phần

Bình thường <>Nghi bệnh lý 5.2 – 6.2 mmol/l

Bệnh lý rõ >6.2 mmol/l

2. Triglycerid

<1.72>2.3 mmol/l

3. HDL-C

>1.5 mmol/l

1.5 – 1 mmol/l

<1.0>

4. LDL-C

<3.4>4.1 mmol/l

Như vậy cholesterol huyết càng thấp càng tốt, không sợ thấp quá. Nhưng cholesterol càng cao, tử vong càng tăng: 5,2 lên 6,2 tử vong tăng gấp đôi; 6,2 lên 7,7 tử vong từ 8% tăng lên 16% !

Tại sao lại phải xét nghiệm cả “bộ mỡ’

Vài chục năm gần đây, người ta thấy phải phân biệt cholesterol tốt là HDL-C có tác dụng bảo vệ tim, với cholesterol xấu là LDL-C hay gây vữa xơ động mạch. Do đó, nên làm cả “bộ mỡ” thì tốt hơn. Bộ mỡ gồm: 1. cholesterol toàn phần; 2. Triglycerid cũng là chất mỡ nhưng không phải cholesterol; 3. HDL-C; Và 4.LDL-C. Bảng 1 trên cho biết các trị số bình thường và bệnh lí của ‘bộ mỡ”. Chú ý: (Không nên định lượng lipid toàn phần như ngày xưa, vì không giúp gì cho chẩn đoán.) – Ðịnh lượng cholesterol toàn phần và HDL không cần nhịn đói như đối với triglycerid và LDL.

Vài chục năm gần đây, người ta thấy phải phân biệt cholesterol tốt là HDL-C có tác dụng bảo vệ tim, với cholesterol xấu là LDL-C hay gây vữa xơ động mạch. Do đó, nên làm cả “bộ mỡ” thì tốt hơn. Bộ mỡ gồm: 1. cholesterol toàn phần; 2. Triglycerid cũng là chất mỡ nhưng không phải cholesterol; 3. HDL-C; Và 4.LDL-C. Bảng 1 trên cho biết các trị số bình thường và bệnh lí của ‘bộ mỡ”. Chú ý: (Không nên định lượng lipid toàn phần như ngày xưa, vì không giúp gì cho chẩn đoán.) – Ðịnh lượng cholesterol toàn phần và HDL không cần nhịn đói như đối với triglycerid và LDL.

Cholesterol cao tới bao nhiêu thì phải điều trị ?

Ngày nay, người ta căn cứ vào LDL nhiều hơn vào cholesterol toàn phần, Bảng 1 đã cho thấy LDL bao nhiêu là bệnh lí, những để điều trị người ta còn phải xét các yếu tố nguy cơ rồi phân biệt các trường hợp sau đây: 1- Trường hợp nguy cơ cao, nghĩa là có bị nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực hoặc đái tháo đường: LDL từ 2,6 đã phải bắt đầu điều trị, và từ 3,4 đã phải dùng thuốc. 2- Trường hợp nguy cơ trung bình nghĩa là có 2 yếu tố nguy cơ trở lên (xin xem bảng 2 liệt kê các yếu tố nguy cơ thí dụ tăng huyết áp và hút thuốc lá: LDL 3,4 mới điều trị ; LDL 4,1 dùng thuốc. 3. HDL thấp <> 1,5 mmol/1 thì được trừ một yếu tố nguy cơ. 4- Tiền sử gia đình trực hệ có bệnh mạch vành sớm (nam <55> 45; nữ > 55 tuổi 5- Trường hợp nguy cơ thấp, nghĩa là chỉ có 1 yếu tố nguy cơ trong Bảng 2 : LDL phải từ 4 trở nên mới cần điều trị, và chỉ xét dùng thuốc khi LDL quá 4,9. Nếu không làm được LDL, có thể căn cứ vào cholesterol toàn phần; LDL 3,4 và 4,1 coi như tương đương với cholesterol 5,2 và 6,2.

Ðiều trị tăng cholesterol huyết như thế nào !

Trừ khi nguy cơ cao, bao giờ cũng nên bắt đầu bằng sửa đổi cách sống trong 2-3 tháng, nếu chưa đạt mục tiêu mới dùng thuốc.

Sửa đổi cách sống gồm 4 điểm chính: 1. Ăn ít mỡ bão hòa và ít cholesterol; 2. Ăn nhiều chất xơ. 3. Giảm cân nặng 4. Tăng hoạt động thể lực. Xin xem bài viết riêng về những điểm này.

Theo Thong Tin Y Dược Việt Nam

Đau chân, coi chừng bệnh mạch máu

Đau nhức hai chân là triệu chứng rất thường gặp của nhiều loại bệnh, nên dễ gây chẩn đoán nhầm lẫn hoặc bị người bệnh lẫn bác sĩ bỏ qua. Nếu đó là đau chân do tắc mạch thì thật nguy hiểm cho người bệnh.

Hút thuốc lá là một trong những nguy cơ gây tắc động mạch chân

Tránh các biến chứng nặng

Một điều quan trọng: với những người có yếu tố nguy cơ như người tuổi trên 50, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa mỡ trong máu, hút thuốc lá, xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành... nếu có triệu chứng đau cách hồi chân và kém đáp ứng với các điều trị giảm đau thông thường cần nghĩ đến nguyên nhân hẹp tắc động mạch. Những người này nên được khám và tư vấn tại các chuyên khoa mạch máu để có thể phát hiện sớm bệnh, tăng khả năng bảo tồn chân, tránh các biến chứng nặng có thể dẫn tới hoại tử, phải cắt bỏ chân sau này.

Nếu có dịp quan sát tại các phòng khám xương khớp và mạch máu, có thể nhận thấy khoảng hơn một nửa số bệnh nhân đến khám có các triệu chứng xảy ra ở hai chân. Trong đó, đau cách hồi là triệu chứng thường dễ bị bỏ sót hoặc có thể bị nhầm lẫn. Điều đó làm bệnh nhân bị mất cơ hội điều trị và theo dõi bệnh mạch máu ở giai đoạn sớm, có thể dẫn tới những hậu quả đáng tiếc về sau. Thực tế, gần như hầu hết bệnh nhân bệnh mạch máu đến khám và điều trị khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, như đau chân dữ dội ngay khi nghỉ ngơi, teo

cơ thiểu dưỡng nặng nề, hoặc thậm chí tím tái chân, hoại tử chân... Với các tình huống như vậy, kết quả điều trị sẽ rất kém và tỉ lệ cắt bỏ chân rất cao. Đây là thực trạng tại nước ta, một vấn đề cần được nhìn nhận và đáng báo động.

Mô tả cơn đau cách hồi

Đau cách hồi là thuật ngữ y khoa. Đây là cơn đau được mô tả với cảm giác co rút, thắt chặt, đau nhức, rất khó chịu, xảy ra sau khi người bệnh hoạt động, đi lại một quãng đường nhất định. Vị trí đau thường ở vùng cẳng

chân. Cơn đau thường chỉ giảm, nhẹ bớt khi người bệnh ngồi nghỉ, để thõng chân. Nhưng nếu tiếp tục đi thì sau một quãng đường cố định như cũ, cơn đau sẽ xuất hiện trở lại. Đau cách hồi sẽ làm người bệnh không thể đi liên tục trong một quãng đường dài, mà phải khập khiễng và ngắt quãng với từng quãng đường ngắn, vừa đi vừa nghỉ từng đoạn một. Người bệnh cũng có thể khai rằng nếu hoạt động nặng hoặc chạy nhanh, hoặc đi lên dốc, hoặc lội nước, cơn đau sẽ xuất hiện sớm hơn so với đi trên đường bằng phẳng. Vị trí cơn đau cũng có thể xảy ra ở vùng đùi hoặc vùng mông, kèm theo chứng rối loạn cương dương (hội chứng Lerich).

Đau cách hồi được coi là triệu chứng điển hình của bệnh hẹp tắc động mạch.

Bệnh càng tiến triển, quãng đường đi được càng ngắn lại. Khi bệnh chuyển sang giai đoạn nặng hơn, bệnh nhân có thể đau ngay cả lúc nghỉ ngơi.

Hoại thư toàn bộ bàn chân do bệnh nhân đến muộn - Ảnh: BS L.P.L.

Phân biệt với các cơn đau chân khác

Ngoài các đặc điểm như đã mô tả ở trên, đau cách hồi điển hình do mạch máu có thể kèm theo các dấu hiệu khác như giảm hay mất mạch một bên chân, sờ thấy lạnh hơn bên đối diện, teo cơ, rụng lông, hư móng, chân tái nhợt hơn khi giơ cao... Người bệnh không thấy đỡ đau khi dùng các thuốc điều trị giảm đau thông thường.

Trong khi đó, nếu đau do nguyên nhân thần kinh thì cơn đau thường xảy ra và nặng hơn ngay khi người bệnh bước đi những bước đầu, khi có cử động của chân. Người bệnh cũng đi khập khiễng và rất khó khăn trên toàn bộ quãng đường chứ không ngắt quãng. Khi dây thần kinh bị chèn ép lâu ngày có thể kèm theo các triệu chứng khác như tê rần, kiến bò hoặc giảm cảm giác, teo cơ... nhưng chân vẫn bắt được mạch rõ, nhìn thấy hồng hào, sờ thấy ấm.

Nếu đau do nguyên nhân xương khớp, cơn đau cũng sẽ xuất hiện ngay khi người bệnh bắt đầu cử động, bước xuống đi lại, thay đổi tư thế. Quãng đường người bệnh đi được không cố định mà có thể thay đổi ngắn dài tùy theo mức độ đau chân. Đau có thể xảy ra ở một tư thế nhất định, khi có sự co kéo, dãn các khớp, dây chằng hoặc có thể kèm theo các dấu hiệu của viêm khớp như sưng, nóng, đỏ, ấn đau tại chỗ, biến dạng khớp... Đau ở trường hợp này thường đáp ứng với các thuốc kháng viêm giảm đau và các thuốc bổ trợ về xương khớp đường toàn thân hay tại chỗ khác, sau một thời gian điều trị.

Một bệnh khác cũng có thể bị nhầm lẫn là suy tĩnh mạch mãn tính. Tuy nhiên bệnh này ít khi gây ra các cơn đau thật sự. Người bệnh thường hay mô tả các cảm giác nặng nề, nhức mỏi, ê ẩm, căng cứng chân, tê rần... xảy ra sau khi đứng lâu, sau một ngày làm việc. Các triệu chứng nặng hơn về chiều tối và thường nhẹ hơn vào buổi sáng, hay sau khi nghỉ ngơi, gác chân cao. Đây là điểm khác biệt cơ bản với đau cách hồi mạch máu, vì bệnh sẽ trầm trọng hơn nếu ngồi gác chân cao, người bệnh thường phải ngồi để thõng chân xuống giường. Các triệu chứng kèm theo của suy tĩnh mạch là tình trạng sưng phù chân quanh mắt cá, vọp bẻ về đêm, giãn các tĩnh mạch nông ngoài da, chân nóng ấm...

BS LÊ PHI LONG - TTO


Tác động vào các yếu tố gây bệnh tim mạch

Ở các nước công nghiệp phát triển, tỷ lệ mắc bệnh mạch vành ở độ tuổi 30-39 là 0,9%, 50-59 tuổi trên 30% và trên 60 tuổi trên 50%, ở Việt Nam tỷ lệ bị bệnh mạch vành là 9,5%.

Các yếu tố nguy cơ chính của bệnh mạch vành gồm hút thuốc lá, tăng huyết áp, tăng cholesterol máu, thiếu vận động, di truyền, giới tính, tuổi, và 3 yếu tố nguy cơ bổ sung là bệnh tiểu đường, béo phì, stress. Trong mười yếu tố đó, trừ các yếu tố di truyền, giới tính, tuổi tác, con người có thể tác động được vào 7 yếu tố còn lại để giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành.

Hoa quả là nguồn cung cấp chủ yếu vitamin C, E và beta caroten.

Hút thuốc có liên quan đến hơn 30 bệnh khác nhau trong đó có bệnh ung thư, bệnh phổi và bệnh tim mạch. Người hút thuốc có nguy cơ bị mắc bệnh mạch vành cao hơn gấp hai lần so với người không hút thuốc, hút thuốc được coi là yếu tố nguy cơ lớn nhất gây bệnh mạch vành, của đột tử do tim. Bỏ hút thuốc là cách quan trọng để giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành. Nếu bạn không hút thuốc thì đừng bao giờ hút, nếu bạn hút thuốc thì hãy bỏ ngay. Đáng tiếc rằng đối với nhiều người, thói quen hút thuốc rất khó từ bỏ.

Tăng huyết áp có thể được điều chỉnh bằng cách dùng thuốc. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp có thể giảm huyết áp bằng việc tập luyện rèn sức bền thường xuyên với các bài tập: đi bộ nhanh, chạy việt dã, đạp xe, bơi và chế độ ăn uống hợp lý định hướng giảm cân (giảm chất béo, ăn nhạt, ăn nhiều rau, hoa quả).

Tăng cholesterol máu có thể được điều chỉnh bằng chế độ dinh dưỡng hợp lý, tập luyện thể dục thể thao và dùng thuốc. Cách đơn giản nhất là giảm cholesterol máu nhờ tập luyện thể dục thể thao kết hợp ăn uống hợp lý, hạn chế tối đa sử dụng các thức ăn có chứa nhiều cholesterol như trứng, thịt mỡ, giò, xúc xích, dầu dừa, dầu cọ…, sử dụng nhiều thức ăn có chứa vitamin E, vitamin C và beta caroten. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, các vitamin này có tác dụng chống lão hóa, giảm xơ vữa động mạch. Không nên ăn quá 3 quả trứng/tuần và phải cách ngày (trong 1 quả trứng đã chứa đủ nhu cầu về cholesterol của cơ thể trong ngày – 250mg), thay ăn thịt bằng cá. Ăn cá rất tốt cho sức khỏe, cá không những là nguồn cung cấp chất đạm quý giá, mà còn cung cấp cho cơ thể các vitamin A, D, E, B12, B6, đặc biệt là trong mỡ cá có rất nhiều axit béo omega-3 có tác dụng giảm hàm lượng cholesterol máu, cản trở phát triển xơ vữa động mạch, nuôi dưỡng não, cải thiện thị lực (axit béo omega-3 đặc biệt có nhiều trong cá thu, cá ngừ, cá trích, cá hồi).

Cuộc sống tĩnh tại ít vận động: Tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, chủ yếu với các bài tập rèn sức bền như đi bộ nhanh, chạy bước nhỏ, đạp xe đạp, bơi với liều lượng hợp lý và tập thường xuyên làm giảm đáng kể nguy cơ bị mắc bệnh mạch vành. Trong một nghiên cứu ở Mỹ thấy rằng, chỉ cần đi bộ nhanh 20-30 phút/buổi, với tần số 3-5 buổi/tuần đã có hiệu quả tốt giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành. Tập luyện thể dục thể thao rèn sức bền thường xuyên còn ảnh hưởng đến các yếu tố nguy cơ khác của bệnh mạch vành như giảm huyết áp, giảm hàm lượng cholesterol xấu, tăng hàm lượng cholesterol có ích và giảm cân.

Kiểm soát béo mập, đái tháo đường và stress: Với chế độ ăn giảm calo và giảm chất béo, tăng cường ăn các loại rau quả có chứa các vitamin – antioxidant như: C, E và beta- caroten, kết hợp tập thể dục thể thao rèn sức bền thường xuyên (đặc biệt là đi bộ nhanh, chạy cự ly dài) sẽ giúp cho cơ thể giảm đáng kể lượng mỡ thừa – giảm cân. Tập luyện thể dục thể thao thường xuyên còn giảm nguy cơ phát triển bệnh đái tháo đường týp II, giảm các yếu tố gây xơ vữa động mạch, giảm cân ở những người bị thừa cân; điều hòa lượng đường glucose trong máu do cải thiện khả năng sử dụng glucose của hệ thống cơ bắp.

Để kiểm soát ảnh hưởng của stress đối với cơ thể, mỗi chúng ta cần biết cách giảm các nguồn gây stress, điều hòa cuộc sống, và sử dụng các kỹ thuật thư giãn như các bài tập thở, tăng thời gian ngủ nghỉ, tập luyện thể dục thể thao, đi du lịch, thăm thú bạn bè…

Nguy cơ mắc bệnh tim mạch nói chung và bệnh mạch vành nói riêng có thể được kiểm soát bằng cách tác động lên các yếu tố nguy cơ sau: hút thuốc, tăng huyết áp, tăng cholesterol máu, cuộc sống tĩnh tại ít vận động, bệnh tiểu đường, béo mập, stress nhờ dùng thuốc, chế độ ăn uống hợp lý, tập luyện thể dục thể thao rèn sức bền thường xuyên với liều lượng phù hợp, hạn chế các thói quen có hại, biết cách kiểm soát stress và tạo cho bản thân một cuộc sống thanh thản.

TS. Đặng Quốc Bảo – Suckhoedoisong.vn

Bảo vệ trái tim trong ngày Tết

Mỗi dịp Tết đến xuân về, mọi người cùng háo hức chuẩn bị đón mừng năm mới với bao hy vọng rằng năm mới sẽ mang lại nhiều may mắn và hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm có thể xảy ra các biến chứng tim mạch ở những người có nguy cơ cao và đặc biệt là ở những người có bệnh tim mạch cho dù là tiềm ẩn hay đã có biểu hiện trên lâm sàng. Do vậy, những hiểu biết về ảnh hưởng của thời tiết cũng như các sinh hoạt trong ngày Tết đến bệnh lý tim mạch sẽ giúp chúng ta có thể chủ động phòng ngừa một cách tích cực các bệnh lý này.

Ảnh hưởng của tâm lý và thể lực

Thời tiết giá lạnh ngày Tết có thể làm gia tăng tắc nghẽn động mạch vành.
Nguy cơ bị bệnh động mạch vành tăng cao vào các ngày đầu năm so với những ngày khác trong năm. Nguyên nhân có thể là do chủ quan của bệnh nhân bị bệnh vào ngày nghỉ Tết nhưng trì hoãn không đi viện, hoặc do khách quan là có sự thay đổi trạng thái từ nghỉ ngơi kéo dài trong các ngày nghỉ cuối năm sang trạng thái hoạt động, làm tăng Ảnh hưởng của thời tiết

Khí hậu nước ta khác biệt khá nhiều giữa hai miền Nam Bắc, nhất là vào dịp Tết khí hậu thường lạnh ở miền Bắc và nóng ở miền Nam. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân bị tử vong do nguyên nhân tim mạch ở thời điểm tháng 12 và tháng 1 cao hơn 33% so với thời điểm từ tháng 6 đến tháng 9. Tỷ lệ bị nhồi máu cơ tim vào các tháng mùa đông tăng 53% so với các tháng mùa hè.

Một yếu tố thay đổi theo mùa ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong của bệnh nhân là nhiệt độ. Người ta thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa nhiệt độ trung bình của tháng với tỷ lệ tử vong do bệnh động mạch vành. Nhiệt độ thấp (thời tiết lạnh) làm tăng tiết các catecholamin dẫn đến co mạch ngoại biên, làm tăng lượng máu trở về tim và tăng huyết áp do vậy làm tăng nhu cầu ôxy của cơ tim. Đồng thời các catecholamin cũng gây co thắt động mạch vành làm giảm cung cấp máu và ôxy cho cơ tim. Nếu động mạch vành của bệnh nhân đã bị tổn thương có thể sẽ gây ra triệu chứng đau ngực hay gây nhồi máu cơ tim cấp. Huyết áp mùa đông tăng cao hơn huyết áp mùa hè khoảng 5 mmHg, sự duy trì liên tục mức tăng huyết áp này làm tăng tới 21% các biến chứng tim mạch trong mùa đông.

Ảnh hưởng của thuốc lá

Các nghiên cứu cho thấy vào dịp lễ Tết lượng tiêu thụ thuốc lá tăng vọt. Thuốc lá làm rối loạn chức năng điều hòa mạch máu (vận mạch), hoạt hóa tiểu cầu, tăng đông máu, tăng huyết áp và nhịp tim, khởi phát và thúc đẩy quá trình vữa xơ động mạch tiến triển. Tiết trời lạnh vào dịp Tết cũng làm tăng số lượng tiểu cầu, tăng hồng cầu và độ nhớt của máu làm tăng nguy cơ bệnh động mạch vành, tai biến mạch máu não và bệnh mạch máu ngoại vi.

Ảnh hưởng của rượu, bia

Vui quá chén sẽ có hại cho tim.
Tết cũng là dịp có lượng tiêu thụ bia rượu tăng vọt. Những người uống quá nhiều rượu, bia trong một thời gian dài có nguy cơ cao bị bệnh gan, dạ dày... và bệnh tim mạch. Tuy nhiên, những người không uống nhiều rượu bia thường xuyên, nhưng chè chén say sưa với lượng rượu, bia lớn trong ngày Tết, kỳ nghỉ cuối năm thường có các triệu chứng khó chịu ở ngực như hồi hộp, tức ngực, đôi khi có ngất. Uống quá nhiều rượu trong một thời gian dài có thể gây ra các biến chứng tim mạch trầm trọng như suy tim ứ huyết, tăng huyết áp, tai biến mạch não, rối loạn nhịp tim và đột tử. Các triệu chứng của bệnh cơ tim do rượu thường âm thầm, tuy nhiên một số bệnh nhân có biểu hiện suy tim ứ huyết cấp. Các triệu chứng thường gặp là khó thở khi gắng sức và những cơn khó thở kịch phát vào ban đêm, cảm giác hồi hộp đánh trống ngực do những cơn rung nhĩ kịch phát, những cơn rối loạn nhịp nhanh trên thất. Các bệnh nhân nghiện rượu không có bằng chứng bị bệnh tim thường đi khám vì hồi hộp, khó chịu ở ngực, hay ngất, đặc biệt sau những cuộc chè chén say sưa với một lượng rượu lớn trong ngày nghỉ cuối năm. Các triệu chứng đó được gán cho một cái tên là "Hội chứng tim sau ngày nghỉ".

Để làm giảm ảnh hưởng của thời tiết và các sinh hoạt trong ngày Tết đến các bệnh lý tim mạch, chúng ta nên có một chế độ sinh hoạt điều độ, đúng giờ, tránh bị nhiễm lạnh đột ngột. Bệnh nhân bị tăng huyết áp, bệnh động mạch vành hay bị suy tim nên dự trữ đủ lượng thuốc trong dịp Tết và tự theo dõi trị số huyết áp thường xuyên, đặc biệt là khi có các triệu chứng bất thường để có biện pháp phòng ngừa và điều trị kịp thời.

TS. Nguyễn Quang Tuấn-suckhoedoisong

Vữa xơ động mạch là gì? Có phải là xơ cứng động mạch không?

Ðộng mạch là những ống đưa máu từ tim đi cung cấp oxy và các chất bổ cho toàn cơ thể, khác với tĩnh mạch là các ống đưa máu trở về tim. Ở người bình thường trẻ tuổi mặt trong các động mạch nhìn nhẵn bóng; còn các động mạch bị vữa xơ mặt trong thấy những chỗ nổi lên, đó là những mảng vữa xơ. Gọi là mảng vữa xơ (atheroma) vì nó có một vỏ ngoài bằng những sợi xơ cứng, bao bọc lấy một lõi,gồm một số chất mỡ, một số tế bào bị hủy hoại và cả những sợi xơ nữa, lổn nhổn như­ cháo, như­ vữa. Tóm lại, màng vữa xơ =lõi vữa + vỏ xơ. Vì các chất mỡ có nhiều ống lõi của mảng vữa xơ nên có tác giả là xơ mỡ động mạnh cũng đúng

Còn chữ xơ cứng động mạch là một chữ chung chung, để chỉ tất cả các trường hợp động mạch bị cứng trong đó vữa xơ động mạch là phổ biến và gây nhiều tai hại nhất. Cụm từ xơ cứng động mạch ngày nay rất ít khi dùng đến.

Người trẻ tuổi có bao giờ bị vữa xơ động mạch không?

Các nghiên cứu từ nửa thế kỷ nay đều cho biết vữa xơ động mạch xuất hiện từ khi người ta còn rất trẻ, đến 20 - 30 tuổi đa số đã bị vữa xơ động mạch rồi. Tất nhiên khi mới xuất hiện ở người trẻ, mặt trong các động mạch chưa có những mảng vữa xơ thật sự như tả ở trên, mà chỉ mới nhìn thấy các dải mỡ màu vàng, chưa lồi lên lẫn vào lòng động mạch, đó là vữa xơ động mạch độ 1. Sau này, với thời gian và tuổi tác, các dải này mới dày lên thành các mảng vữa xơ lồi lên (độ 2) có khi ngấm cả calci (độ 3), hoặc loét ra (độ 4).

Như vậy người trẻ tuổi cũng đã có vữa xơ động mạch rồi. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quý Tảo cho biết từ 25 đến 20 tuổi, 50% người Việt Nam có vữa xơ động mạch, còn từ 30 tuổi trở lên thì 100% đều có bệnh này...

Tuy nhiên, bệnh vữa xơ động mạch ở người trẻ ít khi thể hiện ra, và cũng rất ít khi biến chứng như ở người nhiều tuổi cho nên cũng có thể nối rằng vữa xơ động mạch là bệnh chủ yếu ở người già.

Vữa xơ động mạch có triệu chứng gì? và gây ra bệnh gì?

Ðại đa số: trường hợp vữa xơ động mạch không có triệu chứng gì cả. Ðó là những trường hợp nhẹ, mảng vữa xơ gây hẹp mạch ít, thí dụ, vữa xơ động mạch ở người tương đối trẻ hoặc ở nữ giới. Vì vậy, mặc dù bị vữa xơ động mạch, người bệnh vẫn sinh hoạt, làm việc như thư­ờng, không có vấn đề gì. Chỉ khi nào mảng vữa xơ lồi lên chít hẹp đáng kể lòng động mạch, người bệnh mới có một số triệu chứng, những triệu chứng này tùy thuộc vào động mạch nào bị hẹp, và hẹp nhiều hay ít. Những động mạch hay bị vữa xơ hơn cả là động mạch vành, động mạch cảnh, động mạch chi; gây nên các bệnh tương ứng là bệnh tim thiếu máu cục bộ, tai biến mạch não, biến động. Vữa xơ động mạch vành với bệnh tim thiếu máu cục bộ. Các động mạch vành được giao nhiệm vụ cung cấp máu, tức oxy cho cơ tim, cho nên nếu chúng bị các mảng vừa xơ hẹp lại, thì một vùng cơ tim sẽ bị thiếu máu. Ðó là trường hợp các bệnh tim do thiếu máu cục bộ, còn gọi là bệnh tim vành biểu hiện quan trọng nhất của vữa xơ động mạch. Hai bệnh tim thiếu máu cục bộ hay gặp hơn cả là đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim.

Trong đau thắt ngực, người bệnh mỗi khi lao động chân tay nặng như: chạy, lên thang gác, leo dốc, và cả khi xúc động mạnh nữa, thấy đau ngực. Gọi là đau thắt ngực, nhưng thật ra ít khi đau thật, lại càng ít khi có cảm giác "thắt", mà thường chỉ là tức, nặng ở ngực, nghỉ 5-10 phút lại hết. Vì vậy, người ta gọi là đau thắt ngực khi gắng sức. Trong thực tế, chỉ khi nào động mạch vành hẹp nhiều, diện tích lòng mạch giảm khoảng 70%, mới thấy đau thắt ngực; vữa xơ động mạch vành nhẹ, hẹp ít, không có triệu chứng này. Người đau thắt ngực nếu biết cách xử lý, có thể sống chung với bệnh hàng năm trời được, tất nhiên phải dùng thuốc theo cách dặn dò của thầy thuốc. Còn nhồi máu cơ tim là một bệnh nặng hơn rất nhiều: trong bệnh này mảng vữa xơ lớn hơn nữa lại bị nứt ra, hình thành một cục huyết (huyết khối) chít hẳn lòng động mạch. Vùng cơ tim do động mạch vành đó phụ trách vì vậy, bị cắt nguồn máu cung cấp, không có oxy nuôi, gọi là bị nhồi máu. Chỉ một thời gian ngắn, khoảng 6 đến12 giờ sau, là vùng đó bị hoại tử, tức là chết hẳn, ảnh h­ưởng rất lớn đến hoạt động của quả tim.

Vữa xơ động mạch vành còn có thể gây ra một số bệnh ít gặp hơn nh­ư suy tim, loạn nhịp tim, chết đột ngột .v.v....

Vữa xơ động mạch cảnh, động mạch não với tai biến mạch não

Các động mạch cảnh ở 2 bên cổ, đưa máu lên các động mạch não để nuôi các tế bào thần kinh rất nhạy cảm. Vữa xơ động mạch này hay gây các tai biến mạch não rất nặng, không tử vong thì cũng tàn phế suốt đời. Có 3 dạng tai biến mạch não do vữa xơ động mạch

1. Hoặc mảng vữa xơ ở động mạch não lớn đến mức làm tắc hẳn động mạch, người bệnh sẽ bị nhồi máu não (trước đây gọi là nhũn não). Vùng não hoại tử không hồi phục được, gây liệt nửa người. Ðây là dạng hay gặp nhất, chiếm tới 60-70 % tai biến mạch não nói chung.

2: Hoặc mảng vữa xơ ở động mạch cảnh tan vỡ, một mảnh theo dòng máu lên làm tắc một động mạch não. Tai hại cũng như vậy: nhồi máu não, hoại tử não, liệt nửa người.

3. Hoặc vữa xơ động mạch, theo một cơ chế phức tạp, không làm tắc mà làm vỡ một mạch máu não. Máu tràn ra động mạch, phá hủy các tế bào não, đó là xuất huyết não, ít gặp hơn nhồi máu não, nhưng nặng hơn nhiều.

Vữa xơ động mạch chi, với bệnh động mạch ngoại biên

Khi một động mạch chi trên hoặc chi dưới bị mảng vữa xơ chít hẹp, hoặc tắc hẳn, chi đó cũng bị thiếu máu cục bộ, bị thiếu oxy. Ðó là bệnh động mạch ngoại biên hay gặp ở chi dư­ới là chính. Hiện nay chuyên khoa tim mạch không dùng thuật ngữ như viêm tắc động mạch chi, xơ cứng động mạch gây tắc. v.v... nữa.

Triệu chứng của bệnh này diễn biến qua 4 giai đoạn.

Giai đoạn I vô triệu chứng: bệnh nhân đi lại, hoạt động như­ thường, không biết mình có bệnh.

Giai đoạn II đau cách hồi: bệnh nhân thấy lúc nghỉ thì không sao, nhưng cứ đi một quãng là đau chân, phải ngừng lại vài phút đau mới hết. Bệnh càng nặng, quãng đi được càng ngắn; Nếu đi được trên 200 m là giai đoạn IIA, nếu đi chưa đến 200m đã đau là IIB. Vị trí đau thường là bụng chân, nhưng cũng có thể cao hơn ở mông, đùi; hoặc thấp hơn ở cổ chân, bàn chân.

Giai đoạn III là bệnh nhân đau thường xuyên, không đi lại cũng đau.

Giai đoạn IV: loét, hoại tử. Tại sao người ta lại bị vữa xơ dộng mạch.Vữa xơ động mạch không có một nguyên nhân nào rõ rệt. Nhưng khảo sát số lớn đối tượng trong thời gian dài,người ta nhận thấy những người có biểu hiện vữa xơ động mạch, nhất là vữa xơ động mạch vành, có một số yếu tố hay gặp hơn các người khác. Người ta gọi đó là những yếu tố nguy cơ đối với bệnh tim mạch, có thể hiểu là những yếu tố nguy cơ đối với vữa xơ động mạch. Ngày nay, các nhà tim mạch học đều nhất trí công nhận những yếu tố nguy cơ sau đây:

1 . Những rối loạn lipid trong máu, thí dụ tăng cholesterol toàn phần, tăng LDL-C, giảm HDL-C và tăng triglycerid.

2. Hút thuốc lá.

3. Tăng huyết áp tâm thu > 140 hoặc tăng huyết áp tâm trương >90mmHg.

4. Ðái tháo đường, hoặc kháng insulin.

5. Thiếu vận động thể lực và béo phì.

6. Căng thẳng tinh thần.

Ba yếu tố trên (1, 2 và 3) có mối liên quan rất chặt chẽ, nhưng người ta ít nói đến, vì không thể đảo ngược được, đó là:

Tuổi già, càng già càng nhiều nguy cơ. Giới nam nhiều nguy cơ hơn nữ. Gia đình có người mắc bệnh tim mạch tương đối trẻ, nam dư­ới 65 tuổi và nữ dưới 55.

Làm thế nào để điều trị và dự phòng vữa xơ động mạch?

Gần đây điều trị các bệnh do vữa xơ động mạch có rất nhiều tiến bộ: người ta đã có biện pháp nong các động mạch bị hẹp, thông các động mạch bị tắc bằng thuốc hoặc bằng ống thông; mổ bắc cầu nối để máu tránh nơi tắc mà vẫn đến cơ quan đang thiếu máu cục bộ, v.v...

Những biện pháp này các nhà chuyên khoa tim mạch nước ta đều đã làm được thành thạo và chữa được nhiều trường hợp hiểm nghèo. Nhưng dù sao đó cũng là những biện pháp khó áp dụng rộng rãi, vì đòi hỏi kỹ thuật cao và chi phí lớn. Cho nên người ta vẫn thấy phòng bệnh có ích lợi hơn chữa bệnh rất nhiều. Với mục tiêu đó, Tổ chức Y tế thế giới khuyên các nước đang phát triển nên tập trung vào 4 nội dung giáo dục sức khỏe sau để phòng bệnh tim mạch:

1. Cải tiến cách ăn uống: bớt mỡ, bớt muối, bớt calo.

2. Chống hút thuốc lá.

3. Phòng và chữa tăng huyết áp

4. Tăng hoạt động thể lực và chống béo.

Về thuốc, tùy trường hợp các bác sĩ có thể cho thêm thuốc để hạ cholesterol, hạ huyết áp, chữa đái tháo đường, v v. Gần đây, năm 2001, các tác giả khuyên nên dùng một số thuốc để phòng bệnh tim mạch: aspirin cho những người nhiều nguy cơ; chẹn beta cho những bệnh nhân đã bị nhồi máu cơ tim; nội tiết tố nữ cho bệnh nhân mãn kinh v.v...

Tất cả những thuốc trên, đều phải có hư­ớng dẫn chặt chẽ của bác sĩ mới được dùng.