Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh hở van hai lá. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh hở van hai lá. Hiển thị tất cả bài đăng

Hở van, suy tim… chỉ sống được năm năm?


Mẹ tôi năm nay 73 tuổi, mới được bệnh viện địa phương chẩn đoán hở van tim hai lá, suy tim và phù. Tôi có đọc một tiên lượng trên mạng rằng, chỉ có 45% trường hợp như mẹ tôi sống được đến năm năm nếu điều trị tích cực bằng thuốc. Điều này có đúng không? Tôi phải làm gì để cứu mẹ tôi?

Nguyễn Duy, nguyenduyanz@...

BS chuyên khoa 1 Ngô Bảo Khoa, khoa phẫu thuật tim mạch, bệnh viện đại học Y dược TP.HCM: Ngoài thông tin bạn cung cấp là mẹ bạn có tình trạng hở van hai lá, suy tim, phù… chúng tôi cần biết thêm các thông tin như mức độ mệt, mức độ hở van tim, chức năng tim, tim có giãn không, có bị tăng huyết áp không, có mắc bệnh mạch vành không, các bệnh kèm theo… thì mới có thể đánh giá và đưa ra hướng điều trị thích hợp.

Thông thường, suy tim sẽ đáp ứng tốt và cải thiện với điều trị bằng thuốc. Nếu giữ sức khoẻ tốt, sống lành mạnh, theo dõi và điều trị đúng cách, hở van hai lá có thể giữ được trong nhiều năm và chậm tiến triển thành nặng hơn. Mẹ bạn có thể đến khám tại bệnh viện đại học Y dược TP.HCM hoặc các trung tâm tim mạch, để được bác sĩ chuyên khoa đánh giá bệnh và áp dụng cách điều trị phù hợp.

Khi nào phải thay van tim?


Khi van tim bị tổn thương, tim sẽ bơm máu kém hiệu quả hơn, do vậy tim phải làm việc nhiều hơn để bơm máu giàu ôxy đi nuôi cơ thể. Khi tim phải làm việc quá nhiều có thể dẫn đến bị suy, gây ra khó thở, đau ngực, mệt mỏi và giữ nước lại trong cơ thể gây phù. Nếu các triệu chứng trên xuất hiện, có thể cần phải nong van, sửa van hay thay van tim.

Mỗi một van tim có nhiệm vụ khác nhau

Quả tim của chúng ta có 4 buồng: 2 buồng tim ở phía trên và 2 buồng tim ở phía dưới. Các van tim kiểm soát hướng đi của dòng máu giữa 4 buồng tim. Các buồng tim ở phía trên gọi là tâm nhĩ phải và tâm nhĩ trái; các buồng tim ở phía dưới gọi là tâm thất phải và tâm thất trái. Các tâm nhĩ nhận máu từ các tĩnh mạch trở về tim và bơm máu xuống các tâm thất. Các tâm thất bơm máu ra khỏi tim vào các động mạch. Các van tim giống như các cánh cửa chỉ mở một chiều. Bình thường tim có 4 van:

Van ba lá: ở bên tim phải, cho phép dòng máu chảy từ tâm nhĩ phải xuống tâm thất phải.

Van hai lá: ở bên tim trái, kiểm soát dòng máu chảy từ tâm nhĩ trái xuống tâm thất trái.

Van động mạch phổi: giúp cho máu chỉ đi theo một chiều từ tâm thất phải lên động mạch phổi và từ đó máu được trao đổi ôxy ở phổi.

Van động mạch chủ: giúp cho máu chỉ đi theo một chiều từ tâm thất trái lên động mạch chủ (là động mạch chính đưa máu từ tim đi nuôi cơ thể).

Van ba lá và van hai lá được gắn với tâm thất bởi các cột cơ và dây chằng đặc biệt. Các cột cơ và dây chằng này kiểm soát sự hoạt động của van tim.
Thay van tim.

Quả tim sẽ suy yếu khi van tim bị hỏng

Thấp tim là nguyên nhân thường gặp nhất gây bệnh van tim. Thấp tim có thể làm van tim bị viêm, xơ hóa và dày lên theo thời gian làm cho các van tim không thể mở ra hoặc đóng lại một cách bình thường. Một số người bị bệnh van tim từ khi mới sinh nên được sửa hay thay van từ khi còn nhỏ. Các van tim cũng có thể bị tổn thương do nhiễm khuẩn (viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn) hay những bệnh lý khác như vữa xơ động mạch, nhồi máu cơ tim... Van tim bị tổn thương làm hạn chế dòng máu chảy qua van gọi là hẹp van tim. Van tim đóng không kín, làm cho dòng máu chảy ngược lại các buồng tim gọi là hở van tim. Cả hai tổn thương trên thường hay kết hợp với nhau.

Khi van tim bị tổn thương, tim sẽ bơm máu kém hiệu quả hơn, do vậy tim phải làm việc nhiều hơn để bơm máu giàu ôxy đi nuôi cơ thể. Khi tim phải làm việc quá nhiều có thể dẫn đến bị suy, gây ra khó thở, đau ngực, mệt mỏi và giữ nước lại trong cơ thể gây phù. Nếu các triệu chứng trên xuất hiện, có thể cần phải nong van, sửa van hay thay van tim.

Van tim sẽ sửa chữa và thay như thế nào?

Nong van tim bằng bóng qua da: Khi van hai lá, van động mạch phổi và một số trường hợp van động mạch chủ bị hẹp khít đơn thuần (không kèm theo hở van hay chỉ hở van ở mức độ nhẹ) và không có huyết khối ở trong các buồng tim thì các bác sĩ có thể tách các van bị hẹp này bằng bóng qua da. Bác sĩ sẽ luồn một ống thông có gắn quả bóng ở đầu qua da theo đường động mạch hoặc tĩnh mạch đùi vào tới vị trí van tim bị hẹp. Bóng sẽ được bơm căng lên với kích thước đã được lựa chọn trước làm cho van tim bị hẹp được tách rộng ra. Sau đó các dụng cụ sẽ được rút ra ngoài.

Phẫu thuật sửa van tim: Khi lá van bị tổn thương, bờ các lá van bị dày lên, co kéo hay khi bị sa lá van làm cho van đóng không kín, hậu quả là làm cho dòng máu có thể phụt ngược trở lại buồng tim. Van hai lá có thể được sửa bằng cách lấy đi phần lá van thừa và khâu phần còn lại với nhau, hoặc bằng cách tạo hình lại các dây chằng. Các phẫu thuật viên có thể đặt thêm một vòng đặc biệt gọi là vòng tạo hình vòng van để làm thu nhỏ lại vòng van bị giãn. Một ưu điểm của phẫu thuật sửa van tim là bệnh nhân vẫn tiếp tục được sử dụng van tim của chính mình.

Phẫu thuật thay van tim: Nếu van tim của bệnh nhân bị tổn thương quá nhiều không thể sửa được nữa thì cần được cắt đi và thay thế bằng van tim nhân tạo. Các van nhân tạo được chia ra thành 2 nhóm: van sinh học và van cơ học (được làm bằng kim loại, hay các chất tổng hợp khác...).

Người bị bệnh van tim hay sau phẫu thuật van tim có nguy cơ bị một nhiễm khuẩn đặc biệt gọi là viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn. Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn xuất hiện khi vi khuẩn xâm nhập vào trong dòng máu và làm loét sùi van tim. Điều đó có thể gây nhiều biến chứng trầm trọng. Bệnh nhân hãy dùng thuốc kháng sinh trước và sau một số thủ thuật như:

Tất cả các thủ thuật có liên quan đến răng miệng, bao gồm lấy cao răng, đánh bóng răng. Để làm giảm vi khuẩn trong miệng, hãy đánh răng và sát khuẩn miệng hàng ngày, kiểm tra răng miệng định kỳ 6-12 tháng một lần.

Bất cứ một phẫu thuật lớn nào; các tiểu phẫu và trong một số trường hợp khác như sinh con; các thủ thuật có gây tổn thương cho tổ chức của cơ thể, như soi bàng quang, thăm trực tràng...

Nguy cơ bị nhiễm khuẩn trong các tình huống này rất nhỏ nếu người bệnh được dùng thuốc kháng sinh. Hãy liên hệ ngay với bác sĩ nếu có bất cứ dấu hiệu nào như sốt, vã mồ hôi, ăn không ngon, sụt cân hay mệt mỏi kéo dài.

PGS.TS. Nguyễn Quang Tuấn - skđs

Lần đầu tiên Việt Nam ghép van tim từ người chết não

Ảnh:  Đ.H.
Nam bệnh nhân người Hà Giang đã tỉnh táo lại sau ca mổ thay van tim. Ảnh: Đ.H.

Sáng qua, hai van tim của một ca tử vong do chết não đã được các bác sĩ Bệnh viện Việt Đức Hà Nội sử dụng để ghép và cứu sống cho hai bệnh nhân mắc bệnh tim. Đây là lần đầu tiên Việt Nam thực hiện việc ghép van tim đồng loại.

Tiến sĩ Dương Đức Hùng, Phó trưởng khoa Phẫu Thuật tim mạch và lồng ngực, Bệnh viện Việt Đức, cho biết, hai ca ghép van tim trên đều thành công và đến sáng nay, cả hai bệnh nhân đã tỉnh táo hoàn toàn và tiếp tục được hồi sức, theo dõi. Một bệnh nhân được thay van là nam, 35 tuổi, người Hà Giang, bị hỏng van động mạch chủ, trường hợp còn lại là một cháu bé 11 tuổi, bị dị tật bẩm sinh ở tim và phải ghép van động mạch phổi.

Hai van tim này được lấy từ một bệnh nhân tử vong do chết não – được người nhà hiến nội tạng cho bệnh viện. Từ gan, hai quả thận, hai giác mạc và hai van tim của người này, các bác sĩ Bệnh viện Việt Đức đã ghép thành công, cứu chữa được cho 7 bệnh nhân.
Ảnh: Bệnh viện cung cấp.
Các bác sĩ đang phẫu thuật ghép van tim cho bệnh nhân bị hỏng van động mạch chủ. Ảnh: Bệnh viện Việt Đức cung cấp.

Tiến sĩ Dương Đức Hùng cho biết, hiện nay số bệnh nhân cần được thay van tim rất lớn, đa số là những người trẻ.

Trước đây, van tim dùng để thay thường là loại van nhân tạo hay van sinh học. Van nhân tạo được làm bằng các chất hóa học như titan… sử dụng được khoảng 8-12 năm nhưng phải dùng kèm thuốc chống đông và theo dõi thường xuyên, chỉ cần thừa một chút thuốc chống đông sẽ gây chảy máu không cầm lại, còn nếu thiếu thì gây hỏng van. Vì vậy, khi thay van này, bệnh nhân có thể đối mặt với nhiều biến chứng, có thể tử vong hoặc phải mổ lại để điều chỉnh van.

Van sinh học là các loại van tim của động vật như lợn, bò…, đã qua các khâu xử lý, có ưu điểm là không phải sử dụng thuốc chống đông nhưng lại có thời gian sử dụng rất ngắn, chỉ khoảng 6-8 năm, có bệnh nhân chỉ được 3 năm.

Trong khi đó, van tim lấy từ đồng loại vừa không cần dùng thuốc chống đông, lại có thể sử dụng được ít nhất 20 năm mới thoái hóa, và thế giới từng ghi nhận có người sau ghép hơn 30 năm vẫn khỏe mạnh.

Tuy nhiên, do kỹ thuật ghép van tim khá phức tạp, số van đồng loại có được để thực hiện phẫu thuật (từ nguồn hiến tạng) cũng không nhiều nên hiện nay trên thế giới cũng mới chỉ thực hiện được một số ít các ca mổ này. Còn tại Việt Nam, Bệnh viện Việt Đức là đơn vị đầu tiên thực hiện phẫu thuật này.

Theo bác sĩ Hùng, thành công của ca ghép van tim này cho thấy các bác sĩ Việt Nam có thể hoàn toàn làm chủ những kỹ thuật phẫu thuật khó trên thế giới, đồng thời mở ra một kỳ vọng lớn cho những bệnh nhân phải thay van tim, từ nguồn hiến tạng.

VNE