Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh tim mạch và phụ nữ mang thai. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh tim mạch và phụ nữ mang thai. Hiển thị tất cả bài đăng

Bị bệnh tim có được mang thai?


Trong một số trường hợp, phụ nữ mắc bệnh tim mạch không được có thai và nếu có thai phải được bác sĩ (BS) theo dõi sát sao.

Trong thai kỳ, tim phải tăng cường hoạt động

Trong thai kỳ, những thay đổi sinh lý ảnh hường đến hệ tim mạch, bắt tim phải tăng cường hoạt động.

- Tăng khối lượng máu: trong 3 tháng đầu, khối lượng máu tăng đến 40 - 50% tổng lượng máu khi chưa có thai và duy trì suốt thai kỳ.

- Tăng cung lượng tim: cung lượng tim là khối lượng máu được tim bơm ra mỗi phút, sẽ tăng lên 30 - 40% do tăng khối lượng máu.

- Tăng nhịp tim: trong thai kỳ, nhịp tim sẽ tăng lên 10 - 15 lần/phút.

- Giảm huyết áp: một số thai phụ có hiện tượng giảm huyết áp 10mmHg trong thai kỳ, do thay đổi nội tiết tố và tăng lượng máu đến tử cung. Tình trạng này thường không phải điều trị gì, nhưng cần theo dõi.
Những thay đổi trên nhằm cung cấp đủ oxy và chất dinh dưỡng cho bào thai. Tim bình thường có thể thích nghi với các thay đổi này trong khi tim mắc bệnh có thể bị quá tải. Chúng có thể khiến người mẹ cảm thấy mệt mỏi, khó thở, nhức đầu nhẹ trong suốt thai kỳ. Vì vậy, có một số người mẹ không biết mình mắc bệnh tim mạch cho đến khi có thai.

Mắc bệnh tim mạch, cần tham khảo ý kiến BS khi muốn có thai

Phụ nữ mắc bệnh tim mạch cần nhớ rằng, việc tham khảo ý kiến BS khi muốn có thai là cần thiết và hữu ích. BS giúp đánh giá và giải thích tình trạng bệnh, mức độ an toàn khi mang thai, nguy cơ đối với mẹ và thai nhi, có cần điều trị bệnh ổn trước khi có thai không, có cần dùng thuốc hoặc cách thức điều trị nào trong thai kỳ không…? Việc tìm hiểu và chuẩn bị kỹ trước khi có thai hoàn toàn không dư thừa.

Tùy theo tình trạng sức khỏe và bệnh tim mạch đang có mà người mẹ gặp các nguy cơ khác nhau trong thai kỳ.

Thậm chí, một số tình trạng bệnh lý quá nặng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng người mẹ khi mang thai như: tăng áp động mạch phổi nặng, bệnh cơ tim giãn nở có suy tim, hội chứng Marfan có giãn động mạch chủ, bệnh tim bẩm sinh tím, hẹp khít van hai lá, hẹp van động mạch chủ nặng. Với các bệnh lý này, BS có thể khuyến cáo bệnh nhân tránh có thai hoặc gián đoạn thai kỳ.

Cần nhớ rằng, bất cứ loại thuốc nào sử dụng trong thai kỳ cũng có thể ảnh hưởng đến thai nhi. Để điều trị bệnh tim mạch, người mẹ có thể đang dùng một số thuốc.

Chính vì vậy, nếu biết người mẹ muốn có thai, BS sẽ cung cấp một chế độ điều trị an toàn nhất, chỉnh liều hoặc sử dụng thuốc thay thế… Người mẹ không nên tự ý dùng thuốc, ngưng thuốc hoặc chỉnh liều thuốc.

Thai kỳ ở phụ nữ mang van tim cơ học

Người mang van tim cơ học phải uống thuốc kháng đông sintrom mỗi ngày đến suốt đời để làm “loãng” máu, tránh tạo cục máu đông khi dòng máu đi qua van cơ học. Việc uống thuốc này phải có sự theo dõi của BS, vì nếu thuốc chưa đủ liều hoặc quá liều đều có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm.

Do phụ nữ có thai có tình trạng tăng khối lượng máu nên dễ hình thành cục máu đông hơn bình thường. Vì thế, phụ nữ mang van tim cơ học mà có thai dễ bị biến chứng tắc van do cục máu đông.

Mặt khác, sintrom có thể đi qua nhau thai nên dùng trong thai kỳ sẽ nguy hiểm: có nguy cơ gây dị dạng thai nhi trong 3 tháng đầu, gây cho mẹ nguy cơ xuất huyết và sảy thai trong 3 tháng cuối thai kỳ.
Chính vì vậy, BS có chiến lược sử dụng thuốc kháng đông áp dụng cho thai phụ mang van tim cơ học để đảm bảo van không bị tắc bởi huyết khối, không gây nguy hiểm cho thai nhi và thai phụ trong thai kỳ.

Tóm lại, phụ nữ trong độ tuổi sinh sản có mang van tim cơ học cần ghi nhớ:

- Khi dùng sintrom phải có kế hoạch ngừa thai, có thể dùng thêm thuốc ngừa thai.

- Nếu muốn có thai phải đến gặp BS để được đổi thuốc kháng đông khác ngoài sintrom.

- Trong thai kỳ, tuyệt đối tuân theo chế độ điều trị kháng đông của BS tim mạch. Thai phụ phải khám thai định kỳ để BS sản khoa theo dõi sức khỏe của thai nhi và mẹ, siêu âm phát hiện có hay không dị tật thai nhi.

Giữ sức khỏe cho mẹ là giữ sức khỏe cho con

Khi mang thai, phụ nữ có bệnh tim mạch cần lưu ý chăm sóc sức khỏe bản thân. Điều này cũng mang lại ích lợi cho thai nhi. Một số biện pháp cần áp dụng:

- Trong thai kỳ, người mẹ phải khám thai theo đúng lịch để theo dõi và xử trí kịp thời các biến cố, uống thuốc theo đúng toa điều trị.

- Thường xuyên nghỉ ngơi, tránh các hoạt động thể lực nặng.

- Theo dõi cân nặng: người mẹ tăng cân theo sự phát triển của thai nhi, tuy nhiên, tăng cân quá nhiều là một gánh nặng cho tim.
- Ngừa huyết khối: khi ngồi, tránh thói quen bắt chéo chân, nên thay đổi tư thế thường xuyên, luân phiên co duỗi 2 chân, thỉnh thoảng đi lại để máu dễ hồi lưu về tim. Mang vớ y khoa bó chân cũng là một biện pháp tốt.

- Giữ ấm: thời tiết quá nóng hay độ ẩm quá cao làm giãn mạch máu khiến tim phải tăng cung cấp máu.

- Cố gắng kiềm chế các cảm xúc như: lo lắng, xúc động…

- Không uống rượu, không hút thuốc lá và không dùng thực phẩm có tính kích thích.
- Việc sinh con với người mẹ mắc bệnh tim mạch là sự kiện có nguy cơ cao nên cần sinh con tại một cơ sở y tế đủ điều kiện theo dõi và xử trí trong quá trình chuyển dạ.

Người bị bệnh tim có nên sinh con?


Bệnh tim có nhiều loại, loại nhẹ thì ít ảnh hưởng đến sức khỏe của người mẹ khi có thai và sinh đẻ. Nhưng có loại lại ảnh hưởng rất nghiêm trọng...

Khi mang thai có nhiều thay đổi lớn trong hệ tim mạch, người mẹ có chức năng tim bình thường có thể thích nghi được nhưng với người bị bệnh tim dù nhẹ hay nặng đều có ảnh hưởng xấu, nhiều khi rất nguy kịch dẫn tới suy tim toàn bộ và có thể gây tử vong cho mẹ.

Những ảnh hưởng đến thai nhi
Khi bị bệnh tim, người mẹ luôn thiếu oxy và chất dinh dưỡng nên phôi thai kém phát triển trong tử cung. Trong 3 tháng đầu có thể làm sẩy thai hoặc thai chết trong tử cung (thường gọi là thai chết lưu).

Nếu thiếu oxy kéo dài dẫn đến suy thai mạn tính, thai thiếu oxy và các chất dinh dưỡng làm cho thai bị gầy yếu, khi sinh nhẹ cân (dưới 2.500g), hoặc là đẻ non. Những trẻ này ốm yếu, chống đỡ kém với môi trường bên ngoài tử cung của người mẹ nên hay bị ngạt, dễ bị viêm phổi, nhiễm khuẩn.

Đặc biệt nếu bị đẻ quá non tháng, phổi thai nhi chưa phát triển làm trẻ bị bệnh màng trong, nghĩa là các phế nang của phổi có một lớp màng trong suốt bao phủ nên trẻ không thở được và sẽ thiếu oxy dẫn đến tử vong. Ngoài ra, dị dạng thai thường gặp ở người mẹ bị bệnh tim bẩm sinh.

Dù bệnh tim nhẹ hay nặng thì việc có thai đều làm cho bệnh nặng lên và có thể xuất hiện những biến chứng như:

- Phù phổi cấp: Khó thở dữ dội, tím tái, ho ra máu, nghe phổi có nhiều ran ẩm.

- Suy tim cấp: Tim đập nhanh, nhịp không đều, khó thở, hồi hộp.

- Loạn nhịp tim: Ngoại tâm thu, nhịp nhanh xoang hoặc loạn nhịp hoàn toàn.

- Tắc mạch phổi: Ít gặp nhưng nếu có thì xảy ra đột ngột, có khi tử vong rất nhanh.

- Nhiễm khuẩn: Thường xảy ra sau khi sinh, vi khuẩn bám vào các tổn thương ở màng trong của tim gây nên tình trạng nhiễm khuẩn và viêm màng trong của tim (gọi là viêm nội tâm mạc). Nếu bệnh nhân may mắn thoát khỏi tử vong trong quá trình mang thai và sinh đẻ thì vẫn có khả năng tử vong sau khi sinh do bệnh viêm nội tâm mạc này.

Người bị bệnh tim có nên sinh con không?

Bệnh tim có nhiều loại, loại nhẹ thì ít ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của người mẹ khi có thai và sinh đẻ. Nhưng có loại lại ảnh hưởng rất nghiêm trọng, đe dọa đến tính mạng của người bị bệnh. Do đó người bị bệnh tim muốn có thai hay không, hoặc khi đã có thai thì nên giữ thai để sinh đẻ hay không cần phải được các thầy thuốc sản khoa và tim mạch khám, tư vấn, theo dõi cẩn thận.
Trong quá trình phát triển của thai phải luôn có sự kết hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc sản khoa và tim mạch để điều trị, theo dõi phát hiện nguy cơ của tai biến để xử trí kịp thời cũng như ra quyết định duy trì thai hay đình chỉ thai nghén để cứu mẹ.

Theo BS Thu Lan - Sức khỏe & Đời sống

Bệnh tim mạch có được mang thai?



Trong một số trường hợp, phụ nữ mắc bệnh tim mạch không được có thai và nếu có thai phải được bác sĩ (BS) theo dõi sát sao.


Trong thai kỳ, tim phải tăng cường hoạt động

Trong thai kỳ, những thay đổi sinh lý ảnh hường đến hệ tim mạch, bắt tim phải tăng cường hoạt động.

- Tăng khối lượng máu: trong 3 tháng đầu, khối lượng máu tăng đến 40 - 50% tổng lượng máu khi chưa có thai và duy trì suốt thai kỳ.

- Tăng cung lượng tim: cung lượng tim là khối lượng máu được tim bơm ra mỗi phút, sẽ tăng lên 30 - 40% do tăng khối lượng máu.

- Tăng nhịp tim: trong thai kỳ, nhịp tim sẽ tăng lên 10 - 15 lần/phút.

- Giảm huyết áp: một số thai phụ có hiện tượng giảm huyết áp 10mmHg trong thai kỳ, do thay đổi nội tiết tố và tăng lượng máu đến tử cung. Tình trạng này thường không phải điều trị gì, nhưng cần theo dõi.

Những thay đổi trên nhằm cung cấp đủ oxy và chất dinh dưỡng cho bào thai. Tim bình thường có thể thích nghi với các thay đổi này trong khi tim mắc bệnh có thể bị quá tải. Chúng có thể khiến người mẹ cảm thấy mệt mỏi, khó thở, nhức đầu nhẹ trong suốt thai kỳ. Vì vậy, có một số người mẹ không biết mình mắc bệnh tim mạch cho đến khi có thai.

Phụ nữ mắc bệnh tim mạch cần nhớ rằng, việc tham khảo ý kiến BS khi muốn có thai là cần thiết và hữu ích. BS giúp đánh giá và giải thích tình trạng bệnh, mức độ an toàn khi mang thai, nguy cơ đối với mẹ và thai nhi, có cần điều trị bệnh ổn trước khi có thai không, có cần dùng thuốc hoặc cách thức điều trị nào trong thai kỳ không…? Việc tìm hiểu và chuẩn bị kỹ trước khi có thai hoàn toàn không dư thừa.

Tùy theo tình trạng sức khỏe và bệnh tim mạch đang có mà người mẹ gặp các nguy cơ khác nhau trong thai kỳ. Thậm chí, một số tình trạng bệnh lý quá nặng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng người mẹ khi mang thai như: tăng áp động mạch phổi nặng, bệnh cơ tim giãn nở có suy tim, hội chứng Marfan có giãn động mạch chủ, bệnh tim bẩm sinh tím, hẹp khít van hai lá, hẹp van động mạch chủ nặng. Với các bệnh lý này, BS có thể khuyến cáo bệnh nhân tránh có thai hoặc gián đoạn thai kỳ.

Cần nhớ rằng, bất cứ loại thuốc nào sử dụng trong thai kỳ cũng có thể ảnh hưởng đến thai nhi. Để điều trị bệnh tim mạch, người mẹ có thể đang dùng một số thuốc. Chính vì vậy, nếu biết người mẹ muốn có thai, BS sẽ cung cấp một chế độ điều trị an toàn nhất, chỉnh liều hoặc sử dụng thuốc thay thế… Người mẹ không nên tự ý dùng thuốc, ngưng thuốc hoặc chỉnh liều thuốc.

Thai kỳ ở phụ nữ mang van tim cơ học

Người mang van tim cơ học phải uống thuốc kháng đông sintrom mỗi ngày đến suốt đời để làm “loãng” máu, tránh tạo cục máu đông khi dòng máu đi qua van cơ học. Việc uống thuốc này phải có sự theo dõi của BS, vì nếu thuốc chưa đủ liều hoặc quá liều đều có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm.

Do phụ nữ có thai có tình trạng tăng khối lượng máu nên dễ hình thành cục máu đông hơn bình thường. Vì thế, phụ nữ mang van tim cơ học mà có thai dễ bị biến chứng tắc van do cục máu đông. Mặt khác, sintrom có thể đi qua nhau thai nên dùng trong thai kỳ sẽ nguy hiểm: có nguy cơ gây dị dạng thai nhi trong 3 tháng đầu, gây cho mẹ nguy cơ xuất huyết và sảy thai trong 3 tháng cuối thai kỳ. Chính vì vậy, BS có chiến lược sử dụng thuốc kháng đông áp dụng cho thai phụ mang van tim cơ học để đảm bảo van không bị tắc bởi huyết khối, không gây nguy hiểm cho thai nhi và thai phụ trong thai kỳ.

Tóm lại, phụ nữ trong độ tuổi sinh sản có mang van tim cơ học cần ghi nhớ:

- Khi dùng sintrom phải có kế hoạch ngừa thai, có thể dùng thêm thuốc ngừa thai.

- Nếu muốn có thai phải đến gặp BS để được đổi thuốc kháng đông khác ngoài sintrom.

- Trong thai kỳ, tuyệt đối tuân theo chế độ điều trị kháng đông của BS tim mạch. Thai phụ phải khám thai định kỳ để BS sản khoa theo dõi sức khỏe của thai nhi và mẹ, siêu âm phát hiện có hay không dị tật thai nhi.

Giữ sức khỏe cho mẹ là giữ sức khỏe cho con

Khi mang thai, phụ nữ có bệnh tim mạch cần lưu ý chăm sóc sức khỏe bản thân. Điều này cũng mang lại ích lợi cho thai nhi. Một số biện pháp cần áp dụng:

- Trong thai kỳ, người mẹ phải khám thai theo đúng lịch để theo dõi và xử trí kịp thời các biến cố, uống thuốc theo đúng toa điều trị.

- Thường xuyên nghỉ ngơi, tránh các hoạt động thể lực nặng.

- Theo dõi cân nặng: người mẹ tăng cân theo sự phát triển của thai nhi, tuy nhiên, tăng cân quá nhiều là một gánh nặng cho tim.

- Ngừa huyết khối: khi ngồi, tránh thói quen bắt chéo chân, nên thay đổi tư thế thường xuyên, luân phiên co duỗi 2 chân, thỉnh thoảng đi lại để máu dễ hồi lưu về tim. Mang vớ y khoa bó chân cũng là một biện pháp tốt.

- Giữ ấm: thời tiết quá nóng hay độ ẩm quá cao làm giãn mạch máu khiến tim phải tăng cung cấp máu.

- Cố gắng kiềm chế các cảm xúc như: lo lắng, xúc động…

- Không uống rượu, không hút thuốc lá và không dùng thực phẩm có tính kích thích.

- Việc sinh con với người mẹ mắc bệnh tim mạch là sự kiện có nguy cơ cao nên cần sinh con tại một cơ sở y tế đủ điều kiện theo dõi và xử trí trong quá trình chuyển dạ.

BS.CKI. NGÔ BẢO KHOA - skđs

Tiền sản giật triệu chứng nguy hiểm cần lưu ý



Tiền sản giật (TSG) ảnh hưởng tới 5-10% bà bầu, có thể gây tổn hại cho cả mẹ và con. Do đó, việc thử máu và nước tiểu cần được tiến hành ở các bà bầu trước khi sinh. Phát hiện sớm và điều trị để giúp kiểm soát huyết áp cho đến khi mẹ tròn con vuông, có thể giúp ngăn ngừa nhiều biến chứng nguy hiểm.

Thế nào là TSG?

Những phụ nữ bị chứng huyết áp cao và chất đạm trong nước tiểu thường mắc chứng TSG. Bệnh thường xuất hiện khi các bà bầu bắt đầu bước sang tuần thứ 20 của thai kỳ, nhưng có thể cũng xảy ra bất cứ thời điểm nào trong nửa sau của thai kỳ. Nếu không chữa trị, nó có thể dẫn đến một tình trạng nguy hiểm hơn gọi là sản giật. Sản giật gây động kinh và có thể dẫn đến hôn mê hoặc tử vong ở mẹ. TSG có thể nhẹ hay nặng và ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể. Nó gây thêm áp lực cho thận, tạo nhiều protein trong nước tiểu. Trong trường hợp nghiêm trọng, TSG có thể gây tổn hại cho thận, tim, não, gan và mắt cho người mẹ. Đối với một số phụ nữ có triệu chứng TSG có thể cần phải nằm viện hoặc nằm bất động trên giường suốt thời gian còn lại cho đến khi em bé được sinh ra. Nó cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các bé được sinh ra.

Các triệu chứng TSG

Những triệu chứng dưới đây có thể là dấu hiệu của TSG:

- Sưng ở bàn tay và bàn chân.

- Đau nặng đầu.

- Có vấn đề với tầm nhìn (mờ mắt).

- Giảm trí nhớ.

- Đau ở phần trên của bụng.

- Tăng cân nhanh.

Làm thế nào để chẩn đoán?

Tại mỗi cuộc hẹn trước khi sinh, bác sĩ sẽ đo huyết áp của bạn và thực hiện một thử nghiệm nước tiểu. Nếu huyết áp cao, bác sĩ sẽ theo dõi chặt chẽ phần còn lại của thai kỳ. Bởi vì huyết áp cao không là điều kiện đủ để chẩn đoán TSG. Nó thường được chẩn đoán khi tình trạng huyết áp cao được đi kèm với một lượng lớn chất đạm trong nước tiểu. Bạn có thể được chẩn đoán là bị TSG nếu bị sưng, thêm protein trong nước tiểu và một trong những dấu hiệu huyết áp sau đây:

- Huyết áp 140/90mmHg hoặc cao hơn.

- Huyết áp tâm thu của bạn tăng thêm 30mmHg hoặc hơn.

- Huyết áp tâm trương của bạn tăng 15mmHg hoặc hơn.

TSG nghiêm trọng xảy ra khi:

- Huyết áp tâm thu hơn 160mmHg.

- Huyết áp tâm trương hơn 110mmHg.

Những đối tượng có nguy cơ bị TSG?

Các chuyên gia không biết lý do tại sao một số phụ nữ mang thai lại bị triệu chứng TSG. Nhưng những đối tượng phụ nữ với những yếu tố sau có nguy cơ bị TSG lớn hơn:

- Phụ nữ trẻ hơn 20 tuổi.

- Phụ nữ lớn hơn 35 tuổi.

- Mang thai lần đầu tiên.

- Mang thai sinh đôi.

- Có cao huyết áp, đái tháo đường, bệnh thận, máu, rối loạn đông máu, lupus...

- TSG ở lần mang thai trước đó.

- Lịch sử gia đình có người bị chứng TSG.

- Thừa cân.

Làm thế nào điều trị được TSG?

Nếu TSG nhẹ thì bạn có thể nằm điều trị tại nhà trên giường. Bác sĩ có thể kê toa thuốc để giảm huyết áp của bạn và sẽ giám sát chặt chẽ sức khỏe của bạn và em bé trong suốt những tháng ngày còn lại của thai kỳ. Nếu bạn có TSG nghiêm trọng, bạn cần nhập viện và sinh con sớm hơn dự định.

Nhiều phụ nữ bị TSG vẫn sinh con khỏe mạnh.

Khi em bé được sinh ra từ những bà mẹ bị TSG thường phải được cách ly sớm. Những em bé này có nhiều nguy cơ đối với các vấn đề sức khỏe khác nhau, bao gồm cả trọng lượng sinh thấp và khuyết tật dài hạn.

BS. THU PHƯƠNG - skđs

Suýt chết vì mang thai khi bị bệnh tim


Ngày 22/7, chị L.T.Y., 21 tuổi, đang mang thai tháng thứ chín, nhập viện tại khoa Hồi sức-cấp cứu, BV 175 TP.HCM trong tình trạng khó thở, đau ngực trái, nhịp tim đập nhanh 180-200 lần/phút (bình thường từ 60-100 lần). Ngay sau đó, tình trạng bệnh diễn tiến theo chiều hướng xấu một cách nhanh chóng.

BS Trương Đình Cẩm - Trưởng khoa Tim mạch - can thiệp, BV 175 TP.HCM, cho biết sau khi hội chẩn, các BS quyết định sốc điện để cắt cơn nhịp nhanh và phẫu thuật cứu tính mạng thai nhi dù chưa tới ngày chuyển dạ. Tuy nhiên, sau ba lần sốc điện, cơn nhịp nhanh vẫn tái phát, huyết áp tụt khiến cuộc phẫu thuật không thể thực hiện. Bệnh nhân tiếp tục được chuyển lên phòng Can thiệp tim mạch để đặt điện cực tâm nhĩ nhằm khống chế cơn nhịp nhanh. Sau khi huyết áp ổn định, đã mổ lấy ra em bé nặng 2,9kg nhưng bị ngạt thai. Các BS tiếp tục kích thích hô hấp, sau 10 phút, em bé đã tự thở và cất tiếng khóc chào đời. Riêng chị Y. sau khi mổ lấy thai và điều trị tim mạch, sức khỏe đã dần hồi phục, cơn nhịp nhanh không còn tái phát.

Theo BS Đình Cẩm, phụ nữ mắc bệnh tim, nếu muốn mang thai cần được tư vấn, theo dõi trước và trong thời gian mang thai đến lúc chuyển dạ để phát hiện và xử lý biến cố kịp thời. Vì khi mang thai, tim thai phụ co bóp nhiều hơn để đưa máu nuôi thai nhi, do đó, bệnh tim rất dễ bộc phát.

PNO

Phụ nữ bệnh tim và nguy cơ tử vong khi mang thai

Trong quá trình mang thai, cơ thể người phụ nữ có nhiều thay đổi về giải phẫu, huyết học, nội tiết, tuần hoàn… làm tăng dần gánh nặng lên hệ tuần hoàn.

Những người khỏe mạnh thì hệ thống tim mạch có thể thích ứng được nhưng những sản phụ bị bệnh tim thì thai nghén trở thành một gánh nặng và có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm dẫn đến tử vong cho cả mẹ và thai nhi.

Kiểm tra chức năng tim mạch trước khi có thai

Phụ nữ bị bệnh tim nên được đánh giá tình trạng sức khỏe trước khi mang thai. Việc thăm khám cẩn thận tình trạng tim mạch và đánh giá khả năng gắng sức là hết sức quan trọng để xác định khả năng dung nạp của bệnh nhân với những thay đổi về huyết động trong quá trình mang thai và nguy cơ bị biến chứng trong thời kỳ chuyển dạ và đẻ. Đánh giá tình trạng tim mạch bao gồm hỏi tiền sử và khám thực thể cẩn thận, làm điện tâm đồ 12 chuyển đạo, siêu âm Doppler tim. Trắc nghiệm gắng sức có đo mức độ tiêu thụ ôxy rất hữu ích để đánh giá mức độ suy tim một cách khách quan. Việc lượng giá trước nguy cơ của thai nghén dựa trên kết quả thăm khám lâm sàng và các thăm dò cận lâm sàng nên được bàn bạc với bệnh nhân và các thành viên trong gia đình bởi cả bác sĩ tim mạch và bác sĩ sản khoa. Khi dự định có thai, các thuốc có nguy cơ ảnh hưởng đến thai nhi nên ngừng lại.

Trong một số trường hợp có sự thay đổi một cách sinh lý về giải phẫu và chức năng của hệ thống tim mạch trong thời kỳ mang thai có thể gây ra các triệu chứng và dấu hiệu giống như bệnh tim. Các triệu chứng này bao gồm mệt mỏi, giảm khả năng gắng sức, thở gấp, hồi hộp, chóng mặt và thậm chí ngất. Khám thực thể thường phát hiện thấy tĩnh mạch cảnh đập, phù chân, sờ thấy mỏm thất phải đập và nghe thấy tiếng thổi tâm thu. Do vậy, trong nhiều trường hợp cần phải làm các thăm dò để có thêm thông tin chính xác về tình trạng tim mạch trước khi quyết định điều trị.

Thời kỳ mang thai cần chú ý gì?

Chăm sóc trong quá trình mang thai bao gồm sự phân loại và đánh giá mức độ trầm trọng của bệnh cũng như tình trạng của bệnh nhân. Việc thăm khám trong quá trình mang thai nên định kỳ hằng tháng đối với các bệnh nhân có bệnh nhẹ và 2 tuần với các bệnh nhân có bệnh mức độ trung bình đến nặng cho đến tuần thứ 28-30, sau đó thăm khám hằng tuần cho đến khi sinh. Khi cần thiết phải sử dụng thuốc để điều trị, nên sử dụng liều thuốc thấp nhất có hiệu quả điều trị cho mẹ và an toàn cho thai nhi. Nguyên nhân tử vong do các bệnh tim mạch thường gặp là tăng huyết áp (12%) và các bệnh tim khác (20%). Để hạn chế biến chứng, các phụ nữ bị bệnh tim mà mang thai cần phải có sự tư vấn cẩn thận, theo dõi chặt chẽ và điều trị tích cực của các bác sĩ chuyên khoa tim mạch và chuyên khoa sản.

Giai đoạn chuyển dạ, đẻ và ngay sau đẻ

Thời điểm và cách thức đẻ nên được bàn luận và quyết định bởi bác sĩ sản khoa, bác sĩ tim mạch và bác sĩ gây mê sản khoa. Nói chung, đẻ đường dưới với gây tê giảm đau phù hợp và việc làm ngắn giai đoạn 2 của thời kỳ đẻ thì an toàn và có thể thực hiện được ở hầu hết các bệnh nhân có bệnh tim. Phẫu thuật lấy thai có nguy cơ bị biến chứng cao hơn nên được tiến hành theo chỉ định của sản khoa và trong một số trường hợp các bệnh nhân có tình trạng huyết động không ổn định. Theo dõi huyết động trong quá trình chuyển dạ và đẻ được khuyến cáo cho các bệnh nhân có triệu chứng và ở các bệnh nhân có van tim bị hẹp mức độ vừa đến nặng, rối loạn chức năng thất trái, và tăng áp động mạch phổi.

Thay vì mất máu khi sinh, giai đoạn sớm sau khi sinh có sự tăng dòng máu tĩnh mạch trở về tim gây ra bởi sự di chuyển của máu từ tử cung trống rỗng vào trong tuần hoàn hệ thống, giảm áp lực đè ép của tử cung vào hệ tĩnh mạch, sự di chuyển của dịch từ các chi và từ phần thấp của cơ thể vào trong lòng mạch. Những thay đổi về huyết động đó có thể dẫn đến suy tim do vậy cần phải tiếp tục theo dõi huyết động 12-24 giờ sau khi sinh.

Dự phòng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn

Kháng sinh dự phòng đã được khuyến cáo cho các bệnh nhân bệnh tim được phẫu thuật hay làm các thủ thuật chảy máu. Các bệnh nhân bị bệnh tim có tỷ lệ bị nhiễm khuẩn huyết cao hơn khi chuyển dạ và đẻ. Vi khuẩn được phát hiện thấy trong máu ở 14% phụ nữ sau khi chuyển dạ hay vỡ ối và rất nhiều vi khuẩn phân lập được có khả năng gây viêm nội tâm mạc. Khi bị biến chứng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, tỷ lệ tử vong của mẹ khoảng 22% và thai nhi khoảng 15%. Vì bệnh nhân bệnh tim có nguy cơ cao bị nhiễm khuẩn máu thậm chí cả trong quá trình sinh nở không biến chứng, hậu quả nặng nề của viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn và giá thành điều trị tương đối thấp nên việc sử dụng kháng sinh dự phòng khi chuyển dạ được chỉ định cho tất cả các bệnh nhân có bệnh tim.

Mỗi năm trên thế giới có khoảng 200 triệu phụ nữ có thai, trong số đó có khoảng 500.000 sản phụ bị tử vong do các biến chứng có liên quan đến thai nghén, trong số này 86% phụ nữ có thai và 99% sản phụ tử vong là ở các nước đang phát triển.

Suc khoe doi song – BS. Lê Hoàng

Giải pháp giảm nỗi lo bệnh tim mạch cho nữ giới

Ở Việt Nam, theo thống kê của Bộ Y tế tại các bệnh viện trên cả nước trong những năm gần đây cho thấy, tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong của các bệnh tim mạch khá cao và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ.

Nguy cơ bệnh tim mạch ngày càng tăng

Gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, vai trò của nữ giới cũng được phát huy, là tiền đề cho nhiều yếu tố bệnh tật phát triển do liên quan nhiều đến tính chất stress trong công việc, ít có thời gian cho vận động, thể dục - thể thao, kết hợp với lối sống thì có nhiều yếu tố nguy cơ như: ăn quá nhiều thức ăn nhanh, dư thừa năng lượng, ăn nhiều bột đường, chất béo, mỡ động vật, thức uống có ga, lạm dụng rượu bia, thuốc lá… Kết hợp với yếu tố sinh lý của cơ thể, nữ giới ngày càng đi dần về trạng thái thay đổi nội tiết do sinh sản, rồi nội tiết giảm dần khi tiền mãn kinh và mãn kinh, tạo điều kiện cho bệnh lý tim mạch phát triển như: tăng huyết áp, xơ mỡ động mạch, bệnh lý mạch vành, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, suy tim… Để có giải pháp tốt cho việc phòng bệnh tim mạch kể trên, thì các nhà khoa học đã chứng minh và khẳng định rằng, bệnh tim mạch ngày nay có nhiều yếu tố liên quan mật thiết như: rối loạn chuyển hóa lipid máu, thừa cân hay béo phì, đái tháo đường, stress, ít vận động, ăn nhiều chất béo, nhiều muối - đường, rượu bia, thuốc lá… Cho nên, muốn phòng bệnh tim mạch một cách có hiệu quả cần một số giải pháp sau:

Tránh thừa cân hay béo phì bằng dinh dưỡng

Qua nhiều công trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã thấy rằng, tình trạng thừa cân hay béo phì có liên quan mật thiết đến bệnh lý tim mạch… Vì vậy, việc phòng chống thừa cân béo phì qua cân bằng chế độ ăn uống là việc làm hết sức cần thiết, cần duy trì chỉ số BMI từ 18,7 - 23,8. Vì hiện tượng thừa cân hay béo phì là nguy cơ trực tiếp đối với sự tăng cholesterol, là quá trình tích lũy mỡ dưới da ở vùng bụng, mông, hông và tăng lượng triglycerid, khiến cho tim phải làm việc nhiều hơn để nuôi cơ thể, lâu ngày dẫn đến tim sẽ suy yếu. Cần duy trì chế độ ăn hợp lý, đủ no, đủ chất, thức ăn đa dạng, hạn chế ăn mặn, nên ăn muối có trong thức ăn hàng ngày, khoảng 1g muối mỗi ngày và không nên vượt quá 6g/ngày.

Nên chọn cho mình một phương pháp luyện tập cho phù hợp về sức khỏe.

Tăng cường ăn các thức ăn có chứa nhiều vitamin E, C, A, B6, B12, acid folic và acid béo không no omega-3, để bảo vệ thành mạch máu trước nguy cơ hình thành các mảng xơ vữa. Acid béo không no omega-3 có trong cá, đặc biệt là các loại cá biển như: cá hồi, cá thu. Tăng cường ăn các thức ăn có chứa nhiều các nguyên tố vi lượng như: kẽm, kali trong cam - chuối. Nên ăn những chất béo thay mỡ động vật cấu tạo chủ yếu là thành phần acid béo chưa bão hòa, có nhiều trong các loại dầu ô liu, dầu vừng, lạc, hướng dương. Ăn nhiều rau quả hoặc sản phẩm có nhiều chất xơ. Sử dụng đậu nành có trong đậu tương vì có vi chất tương tự như hormone estrogen, có vai trò duy trì ổn định cholesterol trong máu.

Không ăn hoặc ăn ít thịt mỡ, da động vật và hạn chế các đồ ăn có chứa nhiều cholesterol như: trứng gia cầm, tim, gan động vật, bơ, kem, sôcôla. Tránh hoặc giảm mỡ trong chế độ ăn sẽ giúp ta giảm được đáng kể hàm lượng cholesterol trong máu, vì trong cholesterol có lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) có tác dụng làm tích tụ các cục xơ vữa ở thành mạch máu, dẫn đến xơ vữa thành mạch, phát sinh cao huyết áp, nhồi máu cơ tim…

Hạn chế rượu bia và không thuốc lá

Ngày nay, các nhà khoa học đã nghiên cứu và thấy rằng nếu ta uống nhiều rượu thì có hại cho sức khỏe, làm cho tim đập nhanh hơn, có thể dẫn đến thiếu máu cơ tim, loạn nhịp tim, nặng hơn là nhồi máu cơ tim, rất nguy hiểm đến tính mạng. Ở bệnh nhân cao huyết áp, rất dễ dẫn đến tai biến mạch máu não, liệt nửa người, nặng hơn là hôn mê và tử vong…

Đối với thuốc lá, làm tăng nguy cơ mắc bệnh xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành, bệnh mạch máu ngoại vi, tăng huyết áp, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, vì chất nicotin trong thuốc lá làm mạch máu co hẹp, cản trở sự lưu thông của máu, làm huyết áp tăng. Nicotin làm giảm oxy trong máu, và tăng các yếu tố làm đông máu, hậu quả là các bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não dễ dàng xảy ra. Vì vậy, không nên uống rượu – bia hay hút thuốc lá hoặc đang hút thì nên ngừng trước khi quá muộn.

Phòng chống stress trong cuộc sống

Trong sự phát triển bệnh lý tim mạch, stress cũng có vai trò cực kỳ quan trọng, trong trạng thái stress, huyết áp và nhịp tim tăng cao, làm tăng gánh nặng cho tim, tăng huyết áp động mạch, tăng ảnh hưởng lên thành phần hóa học của máu, làm tăng hàm lượng cholesterol thúc đẩy phát triển xơ vữa động mạch. Cho nên, trong cuộc đời mỗi chúng ta, có lúc phải đối diện với các tình huống hết sức khó khăn, thậm chí xung đột, cần tránh bằng nhiều giải pháp như: kế hoạch hóa trong công tác, cũng như thư giãn, giải trí, khi tính chất công việc căng thẳng, đây cũng là biện pháp giúp ta thoát khỏi cơn stress. Nên đi tham quan - nghỉ mát, thay đổi không khí, đầu óc tinh thần thoải mái sẽ đem lại rất hiệu quả trong công việc, từ đó cũng tránh những tác hại của stress và ảnh hưởng đối với hệ tim mạch.

Vận động bằng thể dục - thể thao

Về vận động thể lực, trước hết nên chọn cho mình một phương pháp luyện tập cho phù hợp về sức khỏe, điều kiện về thời gian lẫn kinh tế, hàng ngày nên vận động như: đi bộ, chạy bộ, đạp xe, bơi lội, đánh cầu lông hay tennis… Tùy theo khả năng, ít nhất 30 phút đều đặn mỗi ngày vận động cơ bắp, các nhà nghiên cứu thấy rằng sẽ xúc tác insulin chuyển hóa được lượng đường ở ngoại vi, giảm tính đề kháng của insulin, giúp hạn chế bệnh đái tháo đường. Vận động giúp ta kiểm soát được cân nặng của cơ thể, đặc biệt làm giảm cholesterol và triglycerid trong máu, tập thể dục làm máu huyết lưu thông tốt, tăng sức chịu đựng của cơ thể, loại bỏ các năng lượng dư thừa, tăng cường hô hấp, kiểm soát nhịp tim, tinh thần thư giãn...

Tầm soát phát hiện bệnh giai đoạn sớm nhất

Kiểm tra sức khỏe theo định kỳ, là giải pháp tốt nhất để phát hiện bệnh sớm nhất, bằng khám sức khỏe tổng quát, ít nhất 6 tháng một lần, nên kiểm tra tim mạch, đo mạch huyết áp, đo điện tim, xét nghiệm đường, mỡ trong máu…

Tóm lại, bệnh tim mạch được xem là bệnh gây tử vong hàng đầu của thế kỷ 21, bệnh có tính xã hội, do đó những kiến thức cơ bản về bệnh cần được phổ cập để mọi người đều biết, đặc biệt là nữ giới, nhằm giúp mỗi chúng ta có thể phòng bệnh hoặc phát hiện bệnh được sớm và điều trị kịp thời, sẽ tránh được nhiều biến chứng nghiêm trọng.

BS. CKI. Trần Quốc Long

Người bị bệnh tim có nên sinh con?

Khi mang thai có nhiều thay đổi lớn trong hệ tim mạch, người mẹ có chức năng tim bình thường có thể thích nghi được nhưng với người bị bệnh tim dù nhẹ hay nặng đều có ảnh hưởng xấu, nhiều khi rất nguy kịch dẫn tới suy tim toàn bộ và có thể gây tử vong cho mẹ.

Những ảnh hưởng đến thai nhi

Khi bị bệnh tim, người mẹ luôn thiếu oxy và chất dinh dưỡng nên phôi thai kém phát triển trong tử cung. Trong 3 tháng đầu có thể làm sẩy thai hoặc thai chết trong tử cung (thường gọi là thai chết lưu). Nếu thiếu oxy kéo dài dẫn đến suy thai mạn tính, thai thiếu oxy và các chất dinh dưỡng làm cho thai bị gầy yếu, khi sinh nhẹ cân (dưới 2.500g), hoặc là đẻ non. Những trẻ này ốm yếu, chống đỡ kém với môi trường bên ngoài tử cung của người mẹ nên hay bị ngạt, dễ bị viêm phổi, nhiễm khuẩn. Đặc biệt nếu bị đẻ quá non tháng, phổi thai nhi chưa phát triển làm trẻ bị bệnh màng trong, nghĩa là các phế nang của phổi có một lớp màng trong suốt bao phủ nên trẻ không thở được và sẽ thiếu oxy dẫn đến tử vong. Ngoài ra, dị dạng thai thường gặp ở người mẹ bị bệnh tim bẩm sinh.

Những tai biến đối với người mẹ

Dù bệnh tim nhẹ hay nặng thì việc có thai đều làm cho bệnh nặng lên và có thể xuất hiện những biến chứng như:

- Phù phổi cấp: Khó thở dữ dội, tím tái, ho ra máu, nghe phổi có nhiều ran ẩm.

- Suy tim cấp: Tim đập nhanh, nhịp không đều, khó thở, hồi hộp.

- Loạn nhịp tim: Ngoại tâm thu, nhịp nhanh xoang hoặc loạn nhịp hoàn toàn.

- Tắc mạch phổi: Ít gặp nhưng nếu có thì xảy ra đột ngột, có khi tử vong rất nhanh.

- Nhiễm khuẩn: Thường xảy ra sau khi sinh, vi khuẩn bám vào các tổn thương ở màng trong của tim gây nên tình trạng nhiễm khuẩn và viêm màng trong của tim (gọi là viêm nội tâm mạc). Nếu bệnh nhân may mắn thoát khỏi tử vong trong quá trình mang thai và sinh đẻ thì vẫn có khả năng tử vong sau khi sinh do bệnh viêm nội tâm mạc này.

Người bị bệnh tim có nên sinh con không?

Bệnh tim có nhiều loại, loại nhẹ thì ít ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của người mẹ khi có thai và sinh đẻ. Nhưng có loại lại ảnh hưởng rất nghiêm trọng, đe dọa đến tính mạng của người bị bệnh. Do đó người bị bệnh tim muốn có thai hay không, hoặc khi đã có thai thì nên giữ thai để sinh đẻ hay không cần phải được các thầy thuốc sản khoa và tim mạch khám, tư vấn, theo dõi cẩn thận.Trong quá trình phát triển của thai phải luôn có sự kết hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc sản khoa và tim mạch để điều trị, theo dõi phát hiện nguy cơ của tai biến để xử trí kịp thời cũng như ra quyết định duy trì thai hay đình chỉ thai nghén để cứu mẹ.

Bác sĩ Thu Lan-suckhoedoisong

Phụ nữ bệnh tim và nguy cơ tử vong khi mang thai

Trong quá trình mang thai, cơ thể người phụ nữ có nhiều thay đổi về giải phẫu, huyết học, nội tiết, tuần hoàn... làm tăng dần gánh nặng lên hệ tuần hoàn. Những người khỏe mạnh thì hệ thống tim mạch có thể thích ứng được nhưng những sản phụ bị bệnh tim thì thai nghén trở thành một gánh nặng và có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm dẫn đến tử vong cho cả mẹ và thai nhi.

Kiểm tra chức năng tim mạch trước khi có thai

Phụ nữ bị bệnh tim nên được đánh giá tình trạng sức khỏe trước khi mang thai. Việc thăm khám cẩn thận tình trạng tim mạch và đánh giá khả năng gắng sức là hết sức quan trọng để xác định khả năng dung nạp của bệnh nhân với những thay đổi về huyết động trong quá trình mang thai và nguy cơ bị biến chứng trong thời kỳ chuyển dạ và đẻ. Đánh giá tình trạng tim mạch bao gồm hỏi tiền sử và khám thực thể cẩn thận, làm điện tâm đồ 12 chuyển đạo, siêu âm Doppler tim. Trắc nghiệm gắng sức có đo mức độ tiêu thụ ôxy rất hữu ích để đánh giá mức độ suy tim một cách khách quan. Việc lượng giá trước nguy cơ của thai nghén dựa trên kết quả thăm khám lâm sàng và các thăm dò cận lâm sàng nên được bàn bạc với bệnh nhân và các thành viên trong gia đình bởi cả bác sĩ tim mạch và bác sĩ sản khoa. Khi dự định có thai, các thuốc có nguy cơ ảnh hưởng đến thai nhi nên ngừng lại.

Trong một số trường hợp có sự thay đổi một cách sinh lý về giải phẫu và chức năng của hệ thống tim mạch trong thời kỳ mang thai có thể gây ra các triệu chứng và dấu hiệu giống như bệnh tim. Các triệu chứng này bao gồm mệt mỏi, giảm khả năng gắng sức, thở gấp, hồi hộp, chóng mặt và thậm chí ngất. Khám thực thể thường phát hiện thấy tĩnh mạch cảnh đập, phù chân, sờ thấy mỏm thất phải đập và nghe thấy tiếng thổi tâm thu. Do vậy, trong nhiều trường hợp cần phải làm các thăm dò để có thêm thông tin chính xác về tình trạng tim mạch trước khi quyết định điều trị.

Thiết đồ cắt dọc của tim.

Thời kỳ mang thai cần chú ý gì?

Chăm sóc trong quá trình mang thai bao gồm sự phân loại và đánh giá mức độ trầm trọng của bệnh cũng như tình trạng của bệnh nhân. Việc thăm khám trong quá trình mang thai nên định kỳ hằng tháng đối với các bệnh nhân có bệnh nhẹ và 2 tuần với các bệnh nhân có bệnh mức độ trung bình đến nặng cho đến tuần thứ 28-30, sau đó thăm khám hằng tuần cho đến khi sinh. Khi cần thiết phải sử dụng thuốc để điều trị, nên sử dụng liều thuốc thấp nhất có hiệu quả điều trị cho mẹ và an toàn cho thai nhi. Nguyên nhân tử vong do các bệnh tim mạch thường gặp là tăng huyết áp (12%) và các bệnh tim khác (20%). Để hạn chế biến chứng, các phụ nữ bị bệnh tim mà mang thai cần phải có sự tư vấn cẩn thận, theo dõi chặt chẽ và điều trị tích cực của các bác sĩ chuyên khoa tim mạch và chuyên khoa sản.

Giai đoạn chuyển dạ, đẻ và ngay sau đẻ

Thời điểm và cách thức đẻ nên được bàn luận và quyết định bởi bác sĩ sản khoa, bác sĩ tim mạch và bác sĩ gây mê sản khoa. Nói chung, đẻ đường dưới với gây tê giảm đau phù hợp và việc làm ngắn giai đoạn 2 của thời kỳ đẻ thì an toàn và có thể thực hiện được ở hầu hết các bệnh nhân có bệnh tim. Phẫu thuật lấy thai có nguy cơ bị biến chứng cao hơn nên được tiến hành theo chỉ định của sản khoa và trong một số trường hợp các bệnh nhân có tình trạng huyết động không ổn định. Theo dõi huyết động trong quá trình chuyển dạ và đẻ được khuyến cáo cho các bệnh nhân có triệu chứng và ở các bệnh nhân có van tim bị hẹp mức độ vừa đến nặng, rối loạn chức năng thất trái, và tăng áp động mạch phổi.

Thay vì mất máu khi sinh, giai đoạn sớm sau khi sinh có sự tăng dòng máu tĩnh mạch trở về tim gây ra bởi sự di chuyển của máu từ tử cung trống rỗng vào trong tuần hoàn hệ thống, giảm áp lực đè ép của tử cung vào hệ tĩnh mạch, sự di chuyển của dịch từ các chi và từ phần thấp của cơ thể vào trong lòng mạch. Những thay đổi về huyết động đó có thể dẫn đến suy tim do vậy cần phải tiếp tục theo dõi huyết động 12-24 giờ sau khi sinh.

Dự phòng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn

Kháng sinh dự phòng đã được khuyến cáo cho các bệnh nhân bệnh tim được phẫu thuật hay làm các thủ thuật chảy máu. Các bệnh nhân bị bệnh tim có tỷ lệ bị nhiễm khuẩn huyết cao hơn khi chuyển dạ và đẻ. Vi khuẩn được phát hiện thấy trong máu ở 14% phụ nữ sau khi chuyển dạ hay vỡ ối và rất nhiều vi khuẩn phân lập được có khả năng gây viêm nội tâm mạc. Khi bị biến chứng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, tỷ lệ tử vong của mẹ khoảng 22% và thai nhi khoảng 15%. Vì bệnh nhân bệnh tim có nguy cơ cao bị nhiễm khuẩn máu thậm chí cả trong quá trình sinh nở không biến chứng, hậu quả nặng nề của viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn và giá thành điều trị tương đối thấp nên việc sử dụng kháng sinh dự phòng khi chuyển dạ được chỉ định cho tất cả các bệnh nhân có bệnh tim.

Mỗi năm trên thế giới có khoảng 200 triệu phụ nữ có thai, trong số đó có khoảng 500.000 sản phụ bị tử vong do các biến chứng có liên quan đến thai nghén, trong số này 86% phụ nữ có thai và 99% sản phụ tử vong là ở các nước đang phát triển.

BS. Lê Hoàng-suckhoedoisong