Hiển thị các bài đăng có nhãn Phòng bệnh tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phòng bệnh tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng

86% bệnh nhân nam bị bệnh tim do hút thuốc lá


- So với cả nước, mức sống của người dân TP.HCM khá cao. Áp lực của nếp sống công nghiệp là một trong số nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ mắc các loại bệnh nguy hiểm như tim mạch tiểu đường, béo phì…

Đó là nhận định của Phó giáo sư – Tiến sĩ Đặng Văn Phước, Chủ tịch Hội Tim mạch học TP.HCM trong Hội nghị khoa học tim mạch khu vực phía Nam lần thứ X diễn ra vào ngày 25/11.

Liên quan đến cách sinh hoạt không lành mạnh làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, trong buổi hội nghị, các bác sĩ của Bệnh viện Tim Tâm Đức TP.HCM đã cho biết về nghiên cứu của mình.

Một em bé bị biến chứng tim mạch bẩm sinh phải cưa cụt tay chân. Ảnh: Thanh Huyền.


Thông thường, bệnh mạch vành rất hiếm gặp ở người trẻ, tuy nhiên Bệnh viện Tim Tâm Đức đã thu thập được thông tin của 30 bệnh nhân ở độ tuổi dưới 40 bị hội chứng động mạch vành cấp.

Điều đáng nói 38/40 bệnh nhân nói trên là nam giới và đều đang hút thuốc lá.

Theo Phó Giáo sư – Tiến sĩ Phạm Nguyễn Vinh (Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch) tăng huyết áp chiếm hàng đầu trong các bệnh về tim mạch. Và nguyên nhân của bệnh lý này cũng có sự liên quan từ khói thuốc.

Ngoài ra, tại Việt Nam thực trạng giới trẻ, bao gồm cả trẻ em đua đòi hút thuốc lá đang ở mức báo động. Khả năng ½ số trẻ em nói trên sẽ nghiện thuốc lá khi ở tuổi trưởng thành. Việc hút thuốc lá và hít phải khói thuốc thụ động sẽ không chỉ làm tăng 25% nguy cơ mắc bệnh tim mạch, ung thư phổi mà còn làm gia tăng nguy cơ bị đột quỵ khi đến độ tuổi 60.

Trước đó, Tiến sĩ Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục khám chữa bệnh, Bộ Y tế cho biết Việt Nam hiện nay là 1/15 nước có số người hút thuốc lá cao nhất trên thế giới.

Thống kê từ hơn 1000 bệnh viện trên toàn quốc gửi về, số ca bệnh không lây nhiễm chiếm hơn 62% (ung thư, tim mạch...). Đa số các bệnh này đều có nguy cơ do hút thuốc lá.

Khói thuốc không chỉ gây hại cho người hút mà còn ảnh hưởng tới cả thai nhi, khiến trẻ có nguy cơ bị các bệnh lý tim mạch bẩm sinh khi chào đời.

Thanh Huyền

5 dấu hiệu chứng tỏ tim bạn đang suy yếu

Có những biểu hiện sức khỏe mà bạn không ngờ rằng nó liên quan đến bệnh tim mạch.
1. Đau cổ

Bạn cảm thấy đau cơ ở vùng cổ mà không khỏi. Rất có thể tim bạn có vấn đề. Mọi người thường bỏ qua triệu chứng này bởi vì họ nghĩ rằng bệnh tim phải liên quan đến một cơn đau cấp tính ở ngực, vai, và cánh tay.

Tuy nhiên, phụ nữ lại ít có khả năng bị đau tim theo cách đó mà lại có nhiều khả năng đau vùng vai, cổ nhiều hơn. Cơn đau cũng có thể mở rộng xuống phía bên trái của cơ thể, vào vai trái và cánh tay.

Nguyên nhân: Dây thần kinh từ mô tim bị hư hỏng gửi tín hiệu đau lên xuống tủy sống với các dây thần kinh liên quan đến cổ và vai.

Phát hiện: Đau căng vùng cổ mà không thể xác định cụ thể. Không thể xua tan cơn đau với nước đá, nhiệt, hoặc xoa bóp.



2. Rối loạn cương dương

Nam giới bị bệnh tim mạch vành gặp khó khăn trong việc giữ cương cứng. Một cuộc khảo sát nam giới bị bệnh tim mạch vành tại châu Âu cho thấy 2/3 bệnh nhân bị rối loạn chức năng cương dương trong nhiều tháng hoặc nhiều năm trước khi họ được chẩn đoán ra bệnh tim.

Nguyên nhân: Động mạch quanh tim bị thu hẹp và cứng lại nên không thể cung cấp đủ máu cho dương vật.

Phát hiện: Trong trường hợp này, nguyên nhân khó được phát hiện được ngay lập tức. Nếu quý ông có vấn đề về cương dương nên đi kiểm tra sức khỏe sinh sản và sức khỏe tim mạch nhằm tìm ra nguyên nhân chính xác.

3. Chóng mặt, ngất, khó thở

Theo một nghiên cứu công bố trên Circulation (Tạp chí của Hiệp hội Tim mạch Mỹ) thì có tới 40% phụ nữ bị khó thở trong những ngày trước khi bị một cơn đau tim. Bạn có thể cảm thấy khó thở, chóng mặt hoặc ngất xỉu. Nếu bạn không thể thở tốt khi đi bộ lên cầu thang, hút bụi, làm vườn, hoặc các hoạt động khác mà trước đây bạn vẫn làm bình thường thì đây là một lý do để nghi ngờ đến bệnh tim.

Nguyên nhân: Do máu cung cấp cho các động mạch nuôi tim không đủ, khiến tim bị thiếu oxy. Do đó, khi hít một hơi sâu sẽ khiến bạn đau thắt ngực. Bệnh động mạch vành gây ra mảng bám tích tụ trên các động mạch, khiến tim không nhận đủ oxy.

Phát hiện: Nếu khó thở là do bệnh phổi thì thường đi kèm nguyên nhân như mô phổi bị tổn thương bởi hút thuốc lá hoặc các yếu tố môi trường. Nếu do tim hoặc bệnh tim mạch là nguyên nhân, thì khó thở thường xảy ra khi bạn gắng sức và biến mất khi bạn nghỉ ngơi.

4. Khó tiêu, buồn nôn, ợ nóng

Bệnh tim không hẳn chỉ có dấu hiệu thông qua đau tim, đôi khi cơn đau sẽ đến ở bụng của bạn. Một số người, đặc biệt là phụ nữ có thể bị ợ nóng, đầy hơi và nghẹt thở. Một cơn buồn nôn nặng và khó tiêu có thể là dấu hiệu sớm của cơn đau tim, hoặc nhồi máu cơ tim, đặc biệt là ở phụ nữ.

Nguyên nhân: Tắc nghẽn động mạch có thể cản trở việc cung cấp máu đến tim, gây ra cơn đau trong ngực nhưng đôi khi lại xuất hiện ở bụng.

Phát hiện: Giống như các loại đau thắt ngực, cơn đau bụng do vấn đề ở tim có thể sẽ tồi tệ hơn khi bạn gắng sức.

5. Đau hàm và tai

Đau hàm có thể có nhiều nguyên nhân nhưng đôi khi có thể là một “đầu mối” của bệnh động mạch vành và một cơn đau tim sắp xảy ra.

Nguyên nhân: Mô tim bị hư hại sẽ gửi tín hiệu đau xuống tủy sống nơi có các dây thần kinh tỏa ra từ các đốt sống, dọc theo quai hàm và lên đến tai.

Phân biệt: Không giống đau hàm gây ra bởi rối loạn khớp thái dương, đau răng, hoặc nhiễm trùng tai, cơn đau có thể kéo dài xuống vai và cánh tay - đặc biệt là ở phía bên trái. Các phương pháp trị liệu như massage, nước đá và nhiệt độ không không làm giảm đau.

Theo Viễn Thông

Các biểu hiện thường gặp của bệnh tim mạch



Việc phát hiện sớm bệnh tim mạch có vai trò hết sức quan trọng giúp ngăn ngừa hoặc giảm bớt các tai biến chết người của nó. Ðồng thời còn đem lại cho chúng ta cơ hội sớm được tiếp cận các phương pháp điều trị mới để có thể đạt kết quả chữa bệnh tốt nhất. Dưới đây là các biểu hiện cần được chú ý.

Khó thở

Khó thở do bệnh tim mạch thường xuất hiện khi khả năng bơm máu của quả tim bị suy yếu hoặc có sự cản trở trên đường dòng máu chảy từ quả tim vào các mạch máu. Khi sức bơm máu của quả tim giảm xuống sẽ gây ra khó thở do ứ trệ máu và dịch, điều này dẫn tới sự gia tăng áp lực máu ở phổi gây rò rỉ dịch vào các phế nang (túi khí nhỏ ở phổi).

Khó thở đột ngột về đêm là cơn khó thở xuất hiện khoảng vài giờ sau khi bạn đi ngủ, là hậu quả của lượng dịch tích tụ ở hai chân chúng ta ban ngày thấm trở lại dòng máu khi bạn nghỉ ngơi vào ban đêm. Hiện tượng này làm tăng gánh nặng cho quả tim và tăng áp lực máu ở phổi gây cơn khó thở.

Ðau ngực

Nhồi máu cơ tim hoặc cơn đau thắt ngực không ổn định xảy ra khi một trong các nhánh của động mạch vành bị lấp tắc hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn. Triệu chứng đau ngực trong nhồi máu cơ tim cũng có tính chất giống như cơn đau thắt ngực nhưng kéo dài hơn (>20 phút) và không thuyên giảm khi ta nghỉ ngơi và khi bệnh nhân dùng một số thuốc giãn mạch. Ngoại trừ một số trường hợp nhồi máu cơ tim “thầm lặng” tức không gây đau ngực, nhìn chung cơn đau ngực trong nhồi máu cơ tim thường dữ dội và hay kèm theo cảm giác buồn nôn, ớn lạnh, vã mồ hôi và trạng thái hết sức lo âu. Đây là một cấp cứu nên cần phải được quan tâm và có hành động kịp thời.

Viêm màng ngoài tim là một nguyên nhân nữa gây đau ngực. Quả tim cũng như các lá phổi được bao bọc bởi một lớp màng kép, bình thường mỏng như giấy bóng kính. Viêm màng ngoài tim là khi hai lá màng này bị viêm, dày lên và cọ xát vào nhau khi quả tim đập gây đau ngực. Viêm màng ngoài tim thường do virus, đặc biệt là nhóm virus có tên Coxsackie.

Đau ngực do tim có thể do một số nguyên nhân khác như là: Bệnh lý van tim đặc biệt là hẹp hoặc hở van động mạch chủ.

Đau ngực cơ năng hay đau ngực do căn nguyên tâm lý đôi khi rất khó xác định vì thực tế một số trường hợp có thêm bệnh lý thực tổn đi kèm. Một nghiên cứu được tiến hành trên những phụ nữ tuổi trung niên có biểu hiện đau ngực nhưng không hẹp động mạch vành cho thấy: sự mất thăng bằng về nội tiết là một trong số các nguyên nhân gây ra cơn đau.

Ðánh trống ngực

Nhịp tim nhanh và không đều, còn gọi là rối loạn nhịp, có thể xảy ra ở người khoẻ mạnh nhưng cũng có thể là một biểu hiện gợi ý bệnh tim mạch. Nhịp tim rất nhanh xuất hiện không liên quan đến gắng sức thường do các rối loạn gọi là tim nhanh kịch phát trên thất hay tim nhanh nhĩ kịch phát, các thuật ngữ y học này để chỉ nhịp tim nhanh có căn nguyên từ các buồng phía trên của quả tim, gọi là tâm nhĩ. Lúc này có thể bạn vẫn cảm thấy bình thường ngoại trừ cảm giác đánh trống ngực. Các cơn tim nhanh trên thất thường không kéo dài và nếu thấy chúng kéo dài nhiều phút thì bạn cần đi gặp bác sĩ.

Nguy hiểm nhất là hiện tượng gọi là tim nhanh thất, thường gặp ở những người có bệnh tim mạch thực sự. Tim đập nhanh bắt nguồn từ các buồng tim phía dưới, có chức năng bơm máu gọi là các tâm thất. Người bị tim nhanh thất thường rất mệt và khó thở do lượng máu quả tim bơm đi nuôi cơ thể bị sút giảm đáng kể.

Ngất xỉu

Bệnh tim mạch thường gây ngất xỉu nhất là các rối loạn về nhịp như nghẽn nhĩ thất (tim đập đều đặn là do những tín hiệu thần kinh được truyền nhịp nhàng từ tâm nhĩ xuống tâm thất, nghẽn nhĩ thất là khi sự dẫn truyền này bị gián đoạn). Lúc đó tim sẽ đập rất chậm, không đủ khả năng đưa máu và dưỡng khí lên nuôi bộ não. Ngược lại, vì một lý do nào đó khi tim đập quá nhanh (nhiều hơn 150 lần trong một phút), khả năng bơm máu lên não của tim bị giảm sút cũng có thể gây ngất.

Nếu chỉ là ngất (mất ý thức) thì hãy để ngay bệnh nhân nằm nơi thoáng, nới rộng quần áo, có thể nhấc bổng 2 chân bệnh nhân lên để tăng cường máu về tim và não cần theo dõi để có thể cấp cứu hồi sinh tim phổi ngay nếu bệnh nhân chuyển sang tình trạng ngừng tuần hoàn.

Phù

Về bản chất hiện tượng phù là do nước thoát quản khỏi lòng mạch để ứ đọng ở khoảng gian bào gây phù. Do vậy thực tế thường phát hiện được phù ở các vị trí trên nền xương cứng hoặc nơi mô lỏng lẻo. Trong các bệnh tim mạch, vì lý do nào đó mà tuần hoàn ở hệ tĩnh mạch bị ứ trệ (thường do suy tim bên phải) làm tăng áp lực trong lòng tĩnh mạch gây hiện tượng nước trong tĩnh mạch ra ngoài gian bào ứ đọng gây phù. Một số trường hợp tắc tĩnh mạch cũng gây phù, nhưng ở đây là phù cục bộ tương ứng trước chỗ tắc tĩnh mạch.

Tím tái

Tím trung ương khi máu tĩnh mạch và máu động mạch bị trộn lẫn với nhau ngay trong quả tim do một luồng thông bẩm sinh nằm giữa tim trái và tim phải hoặc do khuyết tật di truyền tạo nên một buồng tim chung (máu động mạch có màu đỏ tươi do giàu ôxy còn máu tĩnh mạch có màu đỏ thẫm do đã nhường ôxy cho cơ thể). Tím trung ương cũng có thể do một bệnh lý phổi đang tiến triển như khí phế thũng ngăn cản ôxy hoà tan vào máu động mạch.

Tím ngoại vi là dạng tím thường do sự ứ trệ tuần hoàn hoặc trao đổi khí kém.

Trong thực tế, ta tương đối dễ dàng phân biệt hai loại tím trên qua các dấu hiệu của chúng. Tím ngoại vi thường xuất hiện ở những vùng da hở như đầu ngón tay, cằm, mũi và môi. Trong khi tím trung ương xuất hiện ở quanh kết mạc mắt, niêm mạc ở trong họng và lưỡi.

Mệt mỏi

Tình trạng mệt mỏi ở người mắc bệnh tim mạch còn có thể do thuốc gây ra, khoảng 10% số người dùng thuốc điều trị hạ huyết áp than phiền vì cảm thấy mệt mỏi tăng lên.

Nhiều bệnh thể chất khác gây mệt mỏi bao gồm thiếu máu và các bệnh mạn tính như suy nhược tuyến giáp, đái đường và bệnh lý về phổi...

Nếu bạn cảm thấy mệt mỏi ngay từ khi thức giấc cho tới cuối ngày với một mức độ gần như không đổi thì nguyên nhân có lẽ do rối loạn tâm thần hơn là bệnh tim mạch, thường nhất là chứng trầm cảm.

Dấu hiệu đi cách hồi

Tắc cấp tính:

Các biểu hiện của tắc động mạch ngoại vi cấp (đặc biệt là tắc động mạch chi dưới) được mô tả kinh điển là hội chứng nhiều chữ “P” (theo tiếng Anh):

Painess - Đau đột ngột chi bị tắc. Đau có thể xảy ra trên một chi đã từng có triệu chứng đau cách hồi trước đó hoặc không. Đau có thể rất dữ dội và liên tục, Pallor - xanh tái chi bị tắc động mạch nuôi dưỡng, Pulseless - mất mạch vùng chi bị tắc. Trong trường hợp tắc động mạch chủ bụng hoặc động mạch chậu gốc, thì mất mạch cả hai bên, Paralysis – liệt bên chi bị tắc mạch. Mức độ nhẹ hơn là yếu bên chi bị tắc động mạch. Khi bị tắc động mạch chủ bụng có thể gây liệt cả 2 chi dưới, Poikilothermia – lạnh bên chi bị tắc mạch. Nếu bị tắc động mạch chủ bụng thì cả 2 chi dưới bị lạnh hơn.

Tắc mạn tính:

Trong trường hợp nặng, đau có thể tồn tại ngay cả khi nghỉ, xuất hiện ở đoạn xa của chi, có thể xuất hiện khi ngủ và để giảm đau bệnh nhân thường phải để thõng chân tự do ngoài thành giường hoặc ghế.

Nhiều trường hợp bệnh nhân chỉ có dấu hiệu đau cách hồi còn khám chi bình thường. Tuy nhiên khi bệnh tiến triển, có thể thấy các dấu hiệu sau:

- Mạch bên chi bị tổn thương động mạch yếu hơn hoặc có thể mất ở một số vị trí.

- Bên chi bị tắc mạch mạn tính thường nhỏ hơn, da khô, móng và lông kém phát triển, bong vảy và có thể lạnh hơn bên chi không bị bệnh mạch.
Trong trường hợp bị nặng, có thể thấy các dấu hiệu loét, hoại tử các vùng viễn cực (đầu chi, gót chân). Các tổn thương loét hoặc nhiễm trùng đặc biệt dễ xảy ra khi bệnh nhân bị chấn thương.

GS.TS. Nguyễn Lân Việt

Phát hiện sớm các bệnh nặng - Cách gì?



Các loại bệnh nặng như tim mạch, đột quỵ, tiểu đường, ung thư… khi mới phát thường không có triệu chứng gì đặc biệt khiến người bệnh và thầy thuốc dễ bỏ qua, song đây lại là khoảng “thời gian vàng” để cứu sống người bệnh. Nếu phát hiện và điều trị các bệnh đó càng sớm càng có nhiều cơ may chữa khỏi. Vậy làm thế nào để phát hiện sớm các bệnh nặng?

Muốn phát hiện sớm các loại bệnh nặng như đau tim, đột quỵ, tiểu đường, ung thư bạn cần nắm chắc các dấu hiệu cảnh báo sớm sau đây :



Dấu hiệu cảnh báo đau tim



Có những triệu chứng tưởng chừng rất mơ hồ nhưng nếu bạn không chủ quan, sớm nhận biết và đi khám ngay để được chẩn đoán đúng, điều trị kịp thời thì cơ may giúp bạn thoát được những căn bệnh nặng là rất cao.

Nếu bạn để ý thấy mình có một hay nhiều hơn các dấu hiệu sau đây là bạn đã mắc bệnh đau tim. Khó chịu ở vùng ngực trái diễn ra trên vài phút, sau đó biến mất rồi lại tái phát, cảm giác giống như bị đè ép, nặng ngực hoặc hơi đau. Khó chịu ở nửa người trên. Có khi thấy đau hay khó chịu ở một hay hai tay hoặc ở lưng, cổ, hàm dưới hay vùng dạ dày. Thở gấp thường đi kèm với khó chịu ở ngực, nhưng đôi khi xảy ra trước. Có người còn thấy vã mồ hôi lạnh, buồn nôn, đầu óc quay cuồng… Khi có dấu hiệu cảnh báo đau tim, bạn nên đi khám ở bệnh viện ngay để được chẩn đoán và điều trị càng sớm càng tốt.



Triệu chứng sớm của đột quỵ



Những triệu chứng sớm của đột quỵ gồm: nhức đầu dữ dội mà không rõ nguyên nhân; khó nhìn ở một hay hai mắt; tê hay yếu ở mặt, tay, chân hay gặp ở một bên người; bị lẫn lộn, khó nói hoặc nói vô nghĩa; khó đi, chóng mặt, mất thăng bằng, khó phối hợp các động tác. Khi phát hiện thấy một hay nhiều triệu chứng trên, người bệnh cần đến bệnh viện khám ngay.

Trước khi vỡ mạch máu não gây đột quỵ thường có triệu chứng cảnh báo sớm.



Biểu hiện của tiểu đường



Một nghiên cứu cho thấy trên 30% người bị tiểu đường không biết mình mắc bệnh. Bạn hãy cảnh giác với các biểu hiện: đi tiểu nhiều lần, khát nhiều dù vẫn uống nước, nhanh bị đói dù vẫn ăn đủ ba bữa như thường lệ; sụt cân nhiều; người cảm thấy mệt mỏi, bứt rứt; mắt bị mờ… Bệnh tiểu đường có thể diễn ra âm thầm không triệu chứng. Nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời giúp bạn giảm nguy cơ biến chứng.



Chỉ điểm của một số bệnh ung thư



Ung thư họng thường có các triệu chứng: khàn tiếng hay thay đổi giọng nói, thấy khối u ở vùng cổ hoặc có cảm giác có một cục vướng trong họng, khó nuốt, cảm giác rát bỏng khi nuốt, ho kéo dài, khó tiêu, nóng ngực, nôn, nghẹn, đau ngực…



Nếu ung thư vú, bệnh nhân cảm thấy có một u cục dày lên trong ngực, gặp nhiều ở phía nách, vùng xung quanh núm vú, dưới bầu vú. Kích thước, hình dáng bầu vú thay đổi so với trước kia. Chảy nước vàng hay máu ra từ núm vú. Da vú có sự thay đổi màu sắc hay cảm giác. Da vú bị co rút, nhăn nheo hoặc có vảy. Dù hiếm, đàn ông vẫn có thể bị ung thư vú và nếu thấy một cục trong vú nên đi khám ngay.



Ung thư phổi có các biểu hiện: ho kéo dài, ho ra máu, tức ngực, khàn tiếng, thở ngắt quãng hay khò khè, viêm phổi hay viêm phế quản nhiều lần, mệt mỏi, ăn không ngon, sụt cân, có cảm giác thấy vai, cánh tay, bàn tay yếu đi, có khi bị đau lưng.



Ung thư bàng quang dấu hiệu sớm gồm: đi tiểu ra máu, nước tiểu có màu đỏ sậm hay mờ nhạt, lợn cợn, đau buốt khi đi tiểu, đi tiểu rắt.



Ung thư đại tràng, trực tràng có các biểu hiện: thay đổi thói quen đi ngoài, táo bón, đi ngoài nhiều lần, phân lỏng bất thường, cảm thấy ruột luôn đầy, có máu màu đỏ sậm hay đỏ tươi lẫn trong phân, khuôn phân dẹt hơn bình thường, dạ dày phình to, đầy hay co rút, hay đầy hơi, sụt cân, mệt mỏi thường xuyên.



Ung thư thận, với các triệu chứng: đi tiểu ra máu, có thể thấy một khối u ở vùng hông, đau mơ hồ vùng lưng hay vùng hông, ho không rõ nguyên nhân trên ba tuần.



Ung thư buồng trứng triệu chứng thường là: sưng nề hay khó chịu vùng bụng dưới, cảm thấy đầy bụng sau bữa ăn nhẹ, sụt cân và chán ăn, khó tiêu, buồn nôn, tiêu chảy, táo bón hay đi tiểu nhiều lần trong ngày, chảy máu từ âm đạo…



Ung thư tuyến tiền liệt có các dấu hiệu: đi tiểu nhiều lần, nhất là về đêm, khó tiểu, nhất là lúc bắt đầu, khó giữ lại nước tiểu hoặc ngược lại không tiểu được, dòng nước tiểu yếu hay bị gián đoạn, đau hay cảm giác rát bỏng khi đi tiểu, đau khi xuất tinh, có máu trong nước tiểu hay tinh dịch, đau kéo dài hay cứng vùng phía dưới lưng, hông hay bắp đùi.



Ung thư tinh hoàn: thấy một khối u ở tinh hoàn, cảm giác nặng ở bìu, đau âm ỉ vùng bụng dưới hay ở háng, tự nhiên thấy có nước ở bìu, đau hay khó chịu một bên tinh hoàn hay bìu, vú to lên hay có cảm giác nặng.



BS. Phạm Quốc Tuấn

Phương pháp ngừa đột quỵ đơn giản


Tập luyện thể dục có lợi ích trong việc ngừa đột quỵ cũng như bệnh tim mạch.

Nghiên cứu trên một nhóm 11.000 đàn ông cho thấy, khi một người đốt cháy từ 2.000 - 3.000 calories/tuần (khoảng 1 giờ đi bộ nhanh 5 lần/ tuần) giúp giảm một nửa nguy cơ bị đột quỵ. Nhóm người đốt cháy từ 1.000 - 2.000 calories hoặc nhiều hơn 3.000 calories/tuần cũng giảm nguy cơ mắc bệnh cao. Nghiên cứu tương tự cho biết, tập luyện thể dục bao gồm giải trí, tiêu khiển có tác dụng cao hơn so với tập luyện đơn giản hàng ngày như đi bộ hoặc leo trèo. Ở phụ nữ, các hình thức tập luyện như đi bộ hoặc đi bước dài thay vì đi bộ ngẫu nhiên, cũng giúp phòng bệnh tốt hơn.

Các loại vitamin gồm có: acid folic như vitamin B, folate (một dạng của acid folic) có thể phòng ngừa đột quỵ. Nếu trong máu có lượng acid folic cao, nguy cơ mắc bệnh sẽ càng giảm so với người có lượng acid folic ở mức trung bình do lượng homocysteine, loại amino acid có liên quan đến việc gia tăng đột quỵ, bệnh mạch vành cũng như bệnh alzheimer, đã bị sụt giảm. Khi lượng homocysteine ở mức thấp sẽ kết hợp với acid folic giảm nguy cơ đột quỵ khoảng 24% và bệnh tim mạch khoảng 16%.

Tác động kháng oxy hóa của các vitamin kháng oxy hóa và carotenoid có tác dụng ngừa đột quỵ, chứng mất trí nhớ hoặc cả hai. Tuy nhiên, với vitamin A, E hoặc Beta Carotene lại không có tác dụng ngừa bệnh. Canxi, kali và magiê được xem là những chất điện phân trong cơ thể và có tầm quan trọng trong việc kiểm soát áp lực máu, đề phòng đột quỵ. Ăn nhiều thực phẩm chứa kali có thể ngừa bệnh từ 22 - 24% nhờ giảm bớt áp lực máu. Cơ thể thiếu kali có thể tăng nguy cơ mắc bệnh đột quỵ ở một số người đặc biệt nam giới có huyết áp cao. Canxi có liên quan đến việc giảm nguy cơ đột quỵ ở phụ nữ cũng như nam giới, nếu uống nhiều sữa hơn.

Hài lòng với cuộc sống sẽ tốt cho tim


Đó là những phát hiện mới khi các nhà nghiên cứu phân tích gần 8.000 công chức Anh, trung bình 49 tuổi, được hỏi về sự hài lòng của họ trong 7 lĩnh vực của cuộc sống: mối quan hệ lãng mạn, hoạt động giải trí, công việc, gia đình, quan hệ tình dục, mức sống và bản thân.

Trong khoảng thời gian theo dõi 6 năm, những người hài lòng với cuộc sống giảm 13% nguy cơ mắc bệnh tim mạch vành. Những người hài lòng trong công việc, gia đình, giới tính và bản thân cũng giảm 13% nguy cơ mắc bệnh tim.

Theo Hiệp hội Tim mạch châu Âu, nghiên cứu này chỉ ra rằng sự hài lòng trong công việc, gia đình, quan hệ tình dục và bản thân của một người chính là chìa khóa để có trái tim khỏe mạnh.

Trúc linh

5 dấu hiệu chứng tỏ tim bạn đang suy yếu


Có những biểu hiện sức khỏe cảnh báo rằng tim bạn đang có vấn đề. Nhưng cũng có khi bạn đã làm ngơ những dấu hiệu đó hoặc không ngờ rằng nó liên quan đến bệnh tim mạch.

1. Đau cổ

Bạn cảm thấy đau cơ ở vùng cổ mà không khỏi. Rất có thể tim bạn có vấn đề. Mọi người thường bỏ qua triệu chứng này bởi vì họ nghĩ rằng bệnh tim phải liên quan đến một cơn đau cấp tính ở ngực, vai, và cánh tay. Tuy nhiên, phụ nữ lại ít có khả năng bị đau tim theo cách đó mà lại có nhiều khả năng đau vùng vai, cổ nhiều hơn. Cơn đau cũng có thể mở rộng xuống phía bên trái của cơ thể, vào vai trái và cánh tay.

Nguyên nhân: Dây thần kinh từ mô tim bị hư hỏng gửi tín hiệu đau lên xuống tủy sống với các dây thần kinh liên quan đến cổ và vai.

Phát hiện: Đau căng vùng cổ mà không thể xác định cụ thể. Không thể xua tan cơn đau với nước đá, nhiệt, hoặc xoa bóp.

2. Rối loạn cương dương

Nam giới bị bệnh tim mạch vành gặp khó khăn trong việc giữ cương cứng. Một cuộc khảo sát nam giới bị bệnh tim mạch vành tại châu Âu cho thấy 2/3 bệnh nhân bị rối loạn chức năng cương dương trong nhiều tháng hoặc nhiều năm trước khi họ được chẩn đoán ra bệnh tim.

Nguyên nhân: Động mạch quanh tim bị thu hẹp và cứng lại nên không thể cung cấp đủ máu cho dương vật.

Phát hiện: Trong trường hợp này, nguyên nhân khó được phát hiện được ngay lập tức. Nếu quý ông có vấn đề về cương dương nên đi kiểm tra sức khỏe sinh sản và sức khỏe tim mạch nhằm tìm ra nguyên nhân chính xác.

3. Chóng mặt, ngất, khó thở

Theo một nghiên cứu công bố trên Circulation (Tạp chí của Hiệp hội Tim mạch Mỹ) thì có tới 40% phụ nữ bị khó thở trong những ngày trước khi bị một cơn đau tim. Bạn có thể cảm thấy khó thở, chóng mặt hoặc ngất xỉu. Nếu bạn không thể thở tốt khi đi bộ lên cầu thang, hút bụi, làm vườn, hoặc các hoạt động khác mà trước đây bạn vẫn làm bình thường thì đây là một lý do để nghi ngờ đến bệnh tim.

Nguyên nhân: Do máu cung cấp cho các động mạch nuôi tim không đủ, khiến tim bị thiếu oxy. Do đó, khi hít một hơi sâu sẽ khiến bạn đau thắt ngực. Bệnh động mạch vành gây ra mảng bám tích tụ trên các động mạch, khiến tim không nhận đủ oxy.

Phát hiện: Nếu khó thở là do bệnh phổi thì thường đi kèm nguyên nhân như mô phổi bị tổn thương bởi hút thuốc lá hoặc các yếu tố môi trường. Nếu do tim hoặc bệnh tim mạch là nguyên nhân, thì khó thở thường xảy ra khi bạn gắng sức và biến mất khi bạn nghỉ ngơi.

4. Khó tiêu, buồn nôn, ợ nóng

Bệnh tim không hẳn chỉ có dấu hiệu thông qua đau tim, đôi khi cơn đau sẽ đến ở bụng của bạn. Một số người, đặc biệt là phụ nữ có thể bị ợ nóng, đầy hơi và nghẹt thở. Một cơn buồn nôn nặng và khó tiêu có thể là dấu hiệu sớm của cơn đau tim, hoặc nhồi máu cơ tim, đặc biệt là ở phụ nữ.

Nguyên nhân: Tắc nghẽn động mạch có thể cản trở việc cung cấp máu đến tim, gây ra cơn đau trong ngực nhưng đôi khi lại xuất hiện ở bụng.

Phát hiện: Giống như các loại đau thắt ngực, cơn đau bụng do vấn đề ở tim có thể sẽ tồi tệ hơn khi bạn gắng sức.

5. Đau hàm và tai

Đau hàm có thể có nhiều nguyên nhân nhưng đôi khi có thể là một “đầu mối” của bệnh động mạch vành và một cơn đau tim sắp xảy ra.

Nguyên nhân: Mô tim bị hư hại sẽ gửi tín hiệu đau xuống tủy sống nơi có các dây thần kinh tỏa ra từ các đốt sống, dọc theo quai hàm và lên đến tai.

Phân biệt: Không giống đau hàm gây ra bởi rối loạn khớp thái dương, đau răng, hoặc nhiễm trùng tai, cơn đau có thể kéo dài xuống vai và cánh tay - đặc biệt là ở phía bên trái. Các phương pháp trị liệu như massage, nước đá và nhiệt độ không không làm giảm đau.

Bí quyết giúp bạn loại bỏ bệnh tim mạch



Chỉ số choresterol trong máu cao có thể kéo theo hàng loạt vấn đề về tim mạch và làm giảm chất lượng cuộc sống. Hãy làm bạn với 5 loại thực phẩm sau để bảo vệ chính mình.

1. Bột yến mạch các loại thực phẩm giàu chất xơ

Bột yến mạch có chứa chất xơ hòa tan, làm giảm mật độ lipoprotein (LDL) - một loại cholesterol "xấu" trong máu của chúng ta. Chất xơ hòa tan cũng được tìm thấy trong thực phẩm như đậu tây, táo, lúa mạch, lê, mận. Chất xơ hòa tan có thể làm giảm sự hấp thu cholesterol vào máu của bạn.

Theo các nghiên cứu khoa học, chỉ cần tăng hấp thu 5 đến 10 gam chất xơ hòa tan mỗi ngày sẽ giúp bạn giảm đáng kể chỉ số của LDL. Ăn 1,5 chén bột yến mạch nấu chín cung cấp 6 gram chất xơ. Nếu bạn dùng thêm trái cây, chẳng hạn như chuối, bạn sẽ có thêm khoảng 4 gram chất xơ.

2. Cá và axít omega-3
Mỡ cá rất giàu axit omega-3, một loại axít béo có lợi cho hệ tim mạch của con người. Các nhà khoa học cho biết, chất này không những giúp điều hoà huyết áp, giảm nguy cơ máu đông mà còn giúp hạ thấp nguy cơ bị độ quỵ.

Các bác sĩ khuyên chúng ta nên ăn ít nhất hai khẩu phần cá mỗi tuần. Bạn có thể tìm thấy axit này nhiều nhất trong các loài cá như: cá thu, cá hồi, cá trích, cá ngừ, cá mòi... Cách chế biến tốt nhất là nướng hoặc luộc để tránh thêm vào chất béo không lành mạnh từ dầu ăn.


3. Quả óc chó, hạnh nhân và các loại hạt khác

Quả óc chó, hạnh nhân và các loại hạt khác có thể làm giảm cholesterol trong máu. Chúng rất giàu axit béo không bão hòa, quả óc chó cũng giúp giữ cho các mạch máu khỏe mạnh.

Theo Cục Quản lý Thuốc và Thực phẩm của Mỹ, những người ăn khoảng 1,5 ounce, hoặc 42,5 gam các loại hạt như hạnh nhân, quả phỉ, lạc, hồ đào,... giảm nguy cơ bị bệnh tim so với những người khác. Chỉ cần chắc chắn rằng bạn ăn các loại hạt không ướp muối hoặc tráng với đường.

4. Dầu ôliu
Dầu ô liu có chứa một hợp chất chống oxy hóa mạnh, có thể làm giảm LDL cholesterol nhưng vẫn để lại HDL cholesterol-một loại choresterol có lợi. Sử dụng khoảng 2 thìa (23 gram) dầu ô liu mỗi ngày thay cho các chất béo khác trong chế độ ăn của bạn sẽ giúp tăng cường sức khoẻ cho tim mạch.


Có nhiều cách chế biến dầu oliu, bạn có thể xào rau, thêm nó vào ướp, hoặc trộn với giấm như một salad thay đồ. Dầu ô liu có nhiều calories, vì vậy không nên ăn nhiều hơn 23g/ngày.

5. Thực phẩm có bổ sung sterol thực vật hoặc stanols

Thực phẩm đang có sẵn đã được tăng cường với sterol hoặc stanols - chất tìm thấy trong cây có thể giúp ngăn chặn sự hấp thu cholesterol. Bơ thực vật, nước cam và nước uống sữa chua với các sterol thực vật có thể giúp giảm cholesterol LDL hơn 10%.

Lượng sterol thực vật hàng ngày cần thiết là ít nhất 2g tương đương 237ml nước cam có tăng cường chất sterol một ngày. Tất nhiên, nhóm thực phẩm này không làm giảm sút lượng choresterol HDL có lợi.

"Giữ nhịp" cho trái tim



Sự thay đổi đơn giản mỗi ngày có thể giảm 92% nguy cơ các bệnh về tim. Nghe có vẻ lý thuyết nhưng hãy thử làm theo những lời khuyên này xem, bạn sẽ thấy sự khác biệt.

Đậu nành

Những protein thực vật có thể giúp bạn giảm cholesterol. Đậu nành không những tốt cho tim mạch mà còn góp phần ngăn ngừa ung thư vú.

Dùng tỏi khi nấu ăn

Chỉ cần 1 nhánh tỏi mỗi ngày, hay 300mg cho 3 lần trong ngày là có thể giúp bạn giảm các nguy cơ tấn công tim, ít nhất là giảm được sự ngăn cản của các tế bào máu đỏ dẫn đến nghẽn động mạch; giảm hư tổn động mạch; ngăn cản cholesterol tích tụ ở vỏ động mạch, gây tắc nghẽn.

“Thêm gia vị” cho “món” thể dục

Việc tập thể dục tốt nhất là bạn liên tục hoạt động. Vậy mỗi ngày, ngoài các bài tập thông thường, bạn hãy thử một vài trò vui nhộn khác như: đánh bóng tennis, nô đùa với con bạn hay khiêu vũ trong phòng ngủ sau giờ làm việc. Nếu bạn tìm thấy thứ gì khác mình thích, hãy kết hợp nó vào việc tập luyện hàng ngày.

Một nghiên cứu cho thấy rằng, những người hoạt động hàng ngày sẽ đốt cháy lượng calo nhiều hơn so với những người tập thể dục từ 30-60 phút, rồi lại ngồi trước máy tính.

Là chính mình

Một trong những nguyên nhân lớn nhất gây ra căng thẳng là cố gắng sống không giống như bạn vốn có. Hàng ngày, bạn hãy kiểm tra lại xem thực tế mình đã làm gì. Bạn hãy cố gắng sống với chính mình và dành thời gian cho mọi người, như thế bạn mới cảm thấy vui vẻ và thoải mái được.

Thiền trong 5 phút

Việc thiền sẽ giúp bạn tập trung vào khoảnh khắc hiện tại, có thể giảm tác động của sự căng thẳng hàng ngày. Bạn có thể thoát khỏi “cơn bão” stress bằng cách đơn giản, nhắm mắt và thanh thản tập trung vào hơi thở trong 5-10 phút.

Có đức tin

Các nghiên cứu chỉ ra rằng, những người có thói quen thường xuyên hướng đến một đức tin về mặt tinh thần nào đó sẽ sống lâu hơn, tốt hơn và ít các nguy cơ về bệnh tim hơn. Một hoạt động cũng có lợi ích tương tự khác đó là: tham gia các hoạt động xã hội, các hoạt động tình nguyện…

Giữ liên lạc

Mối liên hệ chặt chẽ với gia đình, bạn bè và cộng đồng có thể giảm lo lắng và phiền muộn - 2 yếu tố làm tăng các nguy cơ bệnh tim. Hẹn ăn trưa với bạn bè, dành nhiều thời gian để ăn tối ở nhà cùng gia đình, hay lên kế hoạch thăm nom những người bạn yêu quý, bạn nên hạ quyết tâm thực hiện việc này mỗi ngày.

Dành những điều ngọt ngào cho vợ (chồng)

Có nhiều bằng chứng chứng minh rằng việc lập gia đình sẽ giúp bạn đối mặt với bệnh tim, nhưng điều đó chỉ đúng nếu các bạn là một đôi vợ chồng hạnh phúc. Một nghiên cứu trên tạp chí Annals of Behavioral Medicine (Mỹ) chỉ ra rằng, những người đã có gia đình nguy cơ huyết áp cao hơn trung bình 5 lần so với những người độc thân. Những căng thẳng về cảm xúc trong các cuộc hôn nhân trục trặc khiến lượng adrenaline trong máu tăng đột biến, dẫn đến tăng huyết áp, nó đồng thời cũng có thể làm co thắt mạch máu.



Để đảm bảo cuộc hôn nhân không nằm ngoài tầm kiểm soát, bạn hãy cố gắng kết nối với nhau mọi lúc. Nếu bạn làm điều gì đó tuyệt vời hôm nay, rất có thể anh ấy/ cô ấy cũng sẽ làm điều tương tự như thế cho bạn.

Thưởng thức chocolate đen

Bạn hãy chào ngày mới bằng món có lợi cho sức khỏe này. Chocolate đen chứa nhiều chất flavonoids, là chất oxy hóa, giúp mạch máu đàn hồi hơn. Trong một nghiên cứu cho thấy, 18% bệnh nhân ăn chocolate hàng ngày có huyết áp giảm.

Tránh hút thuốc thụ động

Bạn có đồng nghiệp thường xuyên hút thuốc? Hãy tránh xa anh ta và trái tim của bạn sẽ “cảm ơn” bạn vì điều đó. Việc hút thuốc thụ động sẽ gây tác động xấu lên hệ tim mạch từ 80-90% so với những người hút thuốc chủ động. Thậm chí là chỉ một chút (vài phút hay vài giờ) hút thuốc thụ động, hệ tim mạch có thể bị tác động giống như những người hút thuốc chủ động trong một thời gian dài.

Ăn nhiều chuối

Để giảm huyết áp, không chỉ cần ăn ít muối, bạn còn cần phải tăng cường lượng kali, nó sẽ đẩy nhanh quá trình bài tiết natri ra khỏi cơ thể. Những thực phẩm giàu kali sau sẽ giúp ích nhiều cho bạn: khoai tây nướng, cà chua mềm, đậu lima, sữa chua, dưa đỏ và đặc biệt là chuối.

Giảm đường

Theo một nghiên cứu gần đây, những người ăn hơn 74g đường fructose một ngày (tương đương 2-3 lon nước ngọt) thì có 87% nguy cơ bị huyết áp cao hơn những người không ăn. Các nhà nghiên cứu tin rằng, lượng fructose vượt quá có thể giảm quá trình sản xuất ra oxit nitric, một loại khí giúp các mạch máu giãn ra và thư giãn. Để giảm lượng đường ăn vào, bạn hãy cẩn thận khi sử dụng đồ uống và đồ nướng.

Luôn nở nụ cười

Các nhà khoa học từ Đại học Y Maryland ở Baltimore làm bài test về “sự hài hước” của 300 người, họ tìm thấy rằng, những người có bệnh tim thường cười ít hơn 40% so với những người thường xuyên cười trong mọi tình huống.

5 lưu ý giúp ngừa bệnh tim và tiểu đường



Thay đổi một số thói quen hàng ngày bao gồm cả chế độ ăn uống có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tiểu đường. Chuyên gia y tế Lindsey và Holly Patino sẽ cho bạn những lời khuyên sau đây:

1. Chuyển chất béo xấu thành tốt

Điều này có nghĩa là thay vì ăn chả thịt rán, hãy chọn cá hồi nướng. Mặc dù các món từ thịt sẽ hấp dẫn vị giác hơn nhưng nó lại nhiều chất béo bão hoà, gây gia tăng cholesterol xấu cho cơ thể.

Các thực phẩm giàu chất béo bão hòa như bơ, phô mai, thịt mỡ... cần được thay thế bằng các thực phẩm giàu chất béo không bão hoà đa, chất béo bão hòa đơn như các loại hạt chứa dầu (hạnh nhân và hồ đào, hạt cải, quả óc chó), dầu ô liu, dầu nành, dầu hướng dương cũng như quả bơ, đỗ tương.

2. Ăn nhạt

Quả là rất khó nếu món ăn nhạt nhẽo nhưng bạn có thể sử dụng thêm các gia vị thảo mộc như chanh, tỏi, gừng v.v… để tăng hương vị cho món ăn. Ngoài ra ăn các món ăn có nguyên liệu là thực phẩm tươi.

3. Nước và chất xơ

Yếu tố cần thiết để chống lại bệnh tim và tiểu đường là chất xơ và nước, hai chất có nhiệm vụ “tống khứ” cholesterol, chất béo có hại cho tim ra khỏi cơ thể, giúp ngừa táo bón và làm giảm nguy cơ mắc bệnh.

Bổ sung khoảng 20gam chất xơ kết hợp uống khoảng 8 cốc nước mỗi ngày để phòng bệnh.

4. Thực phẩm tăng cường hệ thống miễn dịch

- Măng tây: Một loại rau rất tốt cho bệnh tim và tiểu đường vì nó chứa hàm lượng calo thấp, nhiều kali, natri và hàm lượng dinh dưỡng cao như folate, vitamin K và tất cả chất xơ cần thiết.

- Củ cải đường: Thực sự rất tốt cho một trái tim khoẻ mạnh. Kali trong củ cải đường sẽ giúp cải thiện sự mất cân bằng kali ở cơ thể.

- Đậu xanh: Chứa nhiều vitamin A, K và nước, ngoài ra nó chứa một lượng chất xơ rất lớn.

- Quả quất việt: Rất tốt cho trí nhớ của bạn đồng thời nó cũng chứa nhiều vitamin và chất chống oxy hoá cao.

- Bông cải xanh: Một siêu thực phẩm có chứa rất nhiều các đặc tính chống ung thư và một hàm lượng vitamin C cực cao.

5. Tập thể dục

Ngoài chế độ ăn uống ra bạn còn phải thường xuyên tập thể dục để có một lối sống lành mạnh cho tim, tăng cường lưu thông máu, giảm lượng cholesterol và duy trì cân nặng thích hợp. Việc tập thể dục đặc biệt rất quan trọng cho phụ nữ bị mắc bệnh tiền tiểu đường vì nó có tác dụng ngăn ngừa hoặc làm chậm sự phát triển của bệnh tiểu đường tuýp 2.

Dùng máy đo huyết áp điện tử như thế nào?

Sự ra đời của các loại huyết áp kế điện tử là một bước tiến mới cho việc theo dõi và điều trị các bệnh cao huyết áp, tim mạch tại gia đình và cho mỗi cá nhân. Với huyết áp kế điện tử, bệnh nhân hay người nhà bệnh nhân có thể theo dõi huyết áp theo yêu cầu của bác sĩ, biết phòng ngừa hay điều trị cấp thời những cơn cao huyết áp có thể dẫn đến tử vong.

Tuy nhiên, như chúng tôi biết loại huyết áp kế này chỉ sử dụng cho từng cá nhân, không nên sử dụng cho tập thể, và khi đo phải tuân thủ nghiêm ngặt những điều hướng dẫn của nhà sản xuất mới mong có kết quả chính xác.

Trước khi đo huyết áp, bệnh nhân nằm nghỉ trong một môi trường yên tĩnh 10-15 phút. Khi đo, huyết áp kế luôn luôn được đặt ngang ngực với tầm của trái tim và sử dụng tay trái. Những bệnh nhân có bất thường về huyết áp ở hai tay phải và trái như trong bệnh hẹp eo động mạch chủ ngực hay bệnh hẹp động mạch chủ từng đoạn Takayasu thì không nên sử dụng loại huyết áp kế này, mà nên đến đo ở một cơ sở y tế. Chỗ đánh dấu có micro nhỏ phải đặt đúng vị trí của đường đi động mạch như động mạch cánh tay ở khuỷu, động mạch quay ở cổ tay. Trong thời gian đo, tay bệnh nhân thả lỏng hoàn toàn, không được gồng hay nâng lên hạ xuống.

Trong khi đo, nếu máy đo huyết áp báo lỗi hay huyết áp bị nghi ngờ là không chính xác chỉ được đo lại sau 15 phút. Khi có những bất thường về huyết áp, nên gọi điện thoại cho bác sĩ gia đình hay bác sĩ quen của bạn để được tư vấn. Không tùy tiện sử dụng các loại thuốc hạ huyết áp, nhất là các loại thuốc hạ huyết áp có tác dụng nhanh như Nefedipin dạng ngậm, đặc biệt là việc nhỏ ba giọt vào lưỡi như một số nhân viên y tế thường làm là một loại sai lầm rất hay gặp đối với nhiều bệnh nhân cao huyết áp và bệnh tim mạch. Việc hạ huyết áp quá nhanh có thể gây đột tử ở những bệnh nhân có nguy cơ nhồi máu cơ tim hay có thiểu năng tuần hoàn não.

Do vậy, khi mua máy đo huyết áp điện tử, chúng ta cần xác định mục đích sử dụng máy đo huyết áp dùng cho cá nhân hay trong các phòng khám bệnh. Vì nếu chỉ dùng cho cá nhân thì chỉ sử dụng loại máy đo huyết áp ở cổ tay là được. Các loại máy này có ưu điểm là rẻ tiền, dễ sử dụng. Tuy nhiên khó có thể nói nó chính xác đến bao nhiêu!

Trước khi sử dụng, đọc kỹ hướng dẫn của nhà sản xuất. Đưa huyết áp kế điện tử đến bác sĩ gia đình của bạn nhờ thử, hướng dẫn cách đo và chỉnh những sai số so với phương pháp đo huyết áp truyền thống do bác sĩ trực tiếp thực hiện.

Khi mua máy đo huyết áp, chọn những nhãn hiệu quen thuộc, nổi tiếng và có cơ sở bảo hành trong nước.

(PGS.TS NGUYỄN HOÀI NAM - TTO)

Những dấu hiệu để chẩn đoán bệnh tim


Bệnh tim mạch đang là mối hiểm hoạ, nó bí mật tiến triển âm thầm trong trái tim mỗi người như một tên "gián điệp", đến một ngày nào đó, khi tác hại của nó phát tiết mạnh thì chúng ta mới phát hiện được.

Lúc đó, các thầy thuốc dù có chẩn đoán đúng và các phương tiện điều trị có hiện đại cũng phải chi phí rất tốn kém mà mạng sống đôi khi cũng chỉ là may rủi. Mỗi người đến một ngày nào đó cũng có thể là một bệnh nhân bị bệnh tim mạch. Bệnh tim có thể tránh được không? Câu trả lời là có thể được bằng cách phát hiện thật sớm tên "gián điệp" kia từ những dấu hiệu sớm của bệnh.

Người bị bệnh tim có thể có một số dấu hiệu sau:

1. Khó thở, nhất là khi gắng sức như lên cầu thang, đi bộ đường xa, sinh hoạt tình dục...

2. Đau ngực trái, có thể chỉ là cảm giác nghẹn nghẹn, hoặc cảm giác "hẫng" trong ngực, đau có thể chỉ xuất hiện khi gắng sức, cũng có thể ngay cả khi nghỉ ngơi.

3. Có thể phù chân, nhất là vào buổi chiều, cảm giác nặng chân, sáng đi dép lỏng chiều đi dép chật.

4. Béo phì. Làm sao biết mình béo phì? Lấy cân nặng tính bằng kg chia cho bình phương chiều cao tính bằng mét dài, nếu trên 23 là bắt đầu thừa cân, và trên 25 là béo phì.

5. Hút thuốc lá hơn 20 điếu mỗi ngày. Thuốc lá làm tổn thương vi tuần hoàn rất sớm, rất nhanh và mạch vành tim cũng bị tổn thương rất nhiều.

6. Tím môi, tím móng chân, tím móng tay, biến dạng làm móng chân, móng tay bẹt nhiều.

7. Có cơn ngất trong tiền sử.

8. Hay hồi hộp đánh trống ngực.

9. Hay ngủ mê, bóng đè.

10. Gia đình có người cùng huyết thống bị bệnh tim mạch, tăng huyết áp.

11. Đã có lần đi xét nghiệm và bác sĩ cho biết có tăng mỡ máu như tăng cholesteron, triglyceride.

12. Đã có chẩn đoán của chuyên khoa nột tiết là đái tháo đường.

13. Đã có hoặc đang đau khớp, kèm viêm họng, điều này cần quan tâm nhiều hơn đối với trẻ em.

14. Hay bị viêm nhiễm hô hấp như viêm phổi, viêm phế quản, nhất là tái phát nhiều lần ở trẻ em.

15. Tình cờ đi khám thấy có tiếng tim lạ, tiếng thổi ở tim.

16. Gan to.

17. Các tĩnh mạch nông ở chân giãn nhiều.

18. Các đầu ngón chân hay tê lạnh, buốt.

Những dấu hiệu trên đây không phải cứ thấy là có bệnh tim, nhưng nếu có bệnh tim là thường có một hoặc nhiều dấu hiệu đó. Nếu thấy có các dấu hiệu trên, nên đến thầy thuốc mà mình đặt niềm tin nhất khám và tư vấn. Nếu phát hiện thấy bệnh tim mạch thì vẫn còn cơ hội chữa khi chưa quá muộn. Nếu không thấy bệnh lí là điều hạnh phúc nhất, yên tâm về tâm lí và bắt đầu cảnh giác với nó. Khám sức khỏe tim mạch lúc nào cũng hữu ích và tiết kiệm.

Những địa chỉ có thể tin tưởng để tư vấn về bệnh lí tim mạch, như Viện Tim mạch quốc gia Việt Nam.

Phó GS.Ts. Phạm văn Các

Sát thủ” giấu mặt


Trong khi các bệnh truyền nhiễm đang từng bước được đẩy lùi thì tỉ lệ mắc các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, đái tháo đường, ung thư, phổi tắc nghẽn mãn tính... lại gia tăng đến mức báo động

Tại hội thảo “Hoạt động thể lực và lối sống trong phòng và điều trị bệnh không lây nhiễm” do Đại học Y Hà Nội và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tổ chức ngày 21-12 ở Hà Nội, các chuyên gia y tế đã cảnh báo về sự gia tăng chóng mặt của các bệnh không lây nhiễm.

Tỉ lệ tử vong cao

Theo thạc sĩ Lại Đức Trường, Văn phòng WHO tại VN, trong tổng số hơn 500.000 ca tử vong các loại được thống kê tại các cơ sở điều trị, có hơn 350.000 trường hợp tử vong vì các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, ung thư, đột qụy, phổi tắc nghẽn mãn tính, đái tháo đường (tỉ lệ 70%)... Ông Trường cho biết thêm, thực tế số mắc và tử vong do các bệnh không lây nhiễm có thể cao hơn nhiều vì phần lớn đây là bệnh không phải điều trị tức thời.

Tại VN, bệnh không lây nhiễm chiếm hơn 60% ca tử vong tại các cơ sở y tế và tỉ lệ này cao gấp 4 lần so với bệnh lây nhiễm. “Điều tra trong cộng đồng năm 2006, cho thấy tỉ lệ tăng huyết áp chỉ là 16,3% ở người trưởng thành thì năm 2008, con số này vọt lên 27%.

Thậm chí ở TPHCM, tỉ lệ tăng huyết áp là 43%, Đồng Tháp: 37%...”- ông Trường cảnh báo. Một bệnh lý khác là đái tháo đường cũng đang gia tăng báo động.

Vận động thể lực sẽ giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm

Nếu như năm 2002 chỉ có khoảng 2,7% dân số mắc bệnh này thì 6 năm sau đã tăng lên gấp đôi ở mức 5,4%. Mỗi năm trên toàn quốc cũng có thêm khoảng 150.000 bệnh nhân ung thư mới, trong đó khoảng 70.000-80.000 người tử vong do căn bệnh này.

GS-TS Nguyễn Văn Tuấn, Viện Gavan (Úc), cho biết tỉ lệ mắc và tử vong do các bệnh không lây nhiễm ở VN không có sự khác biệt nhiều so với thế giới; nếu có chỉ là đối tượng mắc bệnh.

“Tại Úc, những người mắc bệnh đái tháo đường, tim mạch, huyết áp... thường có thu nhập thấp, ít có điều kiện tiếp cận các thông tin y tế. Trong khi đó ở VN, người mắc bệnh thường là những người giàu có.

Quan tâm hơn đến vận động thể lực

Theo GS-TS Nguyễn Văn Tuấn, ở các nước phát triển, bác sĩ coi vận động thể lực như một “liều thuốc” trong đơn thuốc ngừa bệnh cho cộng đồng nhưng ở VN, vấn đề này chưa được quan tâm. Theo các nghiên cứu, cùng khẩu phần năng lượng như nhau, nhóm người ít vận động sẽ có nguy cơ bị béo phì và mắc một số bệnh không lây nhiễm khác cao hơn so với nhóm người vận động nhiều. Nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường ở người lười vận động cao gấp 5 lần người vận động thường xuyên, và nếu đi bộ thường xuyên, nguy cơ gẫy cổ xương đùi giảm 2 lần so với nhóm lười vận động. Tuy nhiên, các chuyên gia y tế cũng khuyến cáo thầy thuốc lâm sàng nên tư vấn cho bệnh nhân về hoạt động thể lực khoảng 30 phút mỗi ngày dựa trên tình trạng sức khỏe và lối sống của từng người.
Tại Hà Nội, TPHCM, tỉ lệ mắc đái tháo đường cao hơn nhiều so với thống kê chung (11% ở nam giới và 13% ở nữ giới). Tình trạng loãng xương cũng chiếm tới 20% ở phụ nữ tại hai TP này”- GS Tuấn cho biết.

“Thuốc” nào phòng bệnh?

Tại hội thảo, các chuyên gia y tế đều bày tỏ nỗi lo gánh nặng của bệnh không lây nhiễm ở các nước nghèo. Thạc sĩ Lại Đức Trường cho rằng đây là bệnh không thể chữa khỏi được, để lại nhiều biến chứng và là nguyên nhân dẫn đến vòng luẩn quẩn đói nghèo do bệnh tật.

Tuy nhiên, 80% bệnh tim mạch giai đoạn đầu, đột quỵ, đái tháo đường và trên 40% các bệnh ung thư có thể được phòng ngừa thông qua việc ăn uống hợp lý, hoạt động thể lực đều đặn và không hút thuốc lá.

Theo GS Nguyễn Văn Tuấn, lối sống ít vận động, xem tivi nhiều, làm việc thường xuyên với máy vi tính, lái xe hơi... và khẩu phần ăn dư thừa năng lượng sẽ dẫn tới béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đường.

Một nguyên nhân khác là tình trạng lạm dụng rượu bia và hút thuốc lá. Đây là căn nguyên của 1/3 số ca ung thư phổi, thanh quản, thực quản, miệng, vòm họng, dạ dày... và làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, huyết áp. Không những thế, lạm dụng rượu dễ dẫn đến rối loạn tâm thần, rối loạn cảm xúc và hành vi.

PGS-TS Lê Bạch Mai, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia, cũng khuyến cáo dinh dưỡng hợp lý là chế độ ăn cần đủ, đa dạng, chủ yếu dựa vào các thức ăn có nguồn gốc thực vật, hạn chế ăn mặn và ăn nhiều rau quả tươi sẽ giảm nguy cơ đối với hầu hết các loại ung thư, bệnh tim mạch.
NLD

Mắc bệnh tim mạch hãy cười 10 phút mỗi ngày

Nụ cười luôn mang lại nhiều ích lợi

Theo các chuyên gia y tế, nếu tình trạng căng thẳng có ảnh hưởng không tốt đến tim mạch của con người thì nụ cười lại vô cùng hữu ích, vì đó là biện pháp trị liệu rất đơn giản để giúp hệ tim mạch khoẻ hơn.

Những đoạn phim vui, phim hài, chuyện cười sẽ giúp mạch máu của bạn hoạt động tốt hơn. Sau những tràng cười, mạch máu giãn nở nhanh trong khi ở những đoạn phim căng thẳng, mạch máu giãn nở chậm hơn. Với các bệnh nhân tim mạch các bác sĩ khuyên bệnh nhân của mình hãy cười vào bất cứ lúc nào có thể, càng nhiều càng tốt (khoảng 10 phút mỗi ngày) để duy trì sức khỏe lâu hơn.

Khi cười, cơ thể sản sinh ra những loại hormone tiếp thêm năng lượng và giúp xoa dịu cơn đau. Chính vì thế, tiếng cười sẽ làm tăng ngưỡng chịu đau của con người. Một số nghiên cứu còn cho rằng nụ cười ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch. Khi cười, kháng thể trong nước bọt sẽ tăng lên và giúp chúng ta giảm thiểu nguy cơ lây bệnh, chẳng hạn như bệnh cảm.

Với bệnh nhân bị cao huyết áp các bác sỹ thường khuyên hãy tìm cách thư giãn càng nhiều càng tốt. Ngoài ra, họ cần kết hợp vận động thể chất đều đặn sau một ngày làm việc sẽ giúp ích rất nhiều cho liệu trình chữa bệnh.

Ngoài tác dụng tốt trong việc chữa bệnh, nụ cười hoạt động như một mối liên hệ xã hội. Một trận cười sảng khoái sẽ giúp bạn trao đổi cảm xúc với đồng nghiệp hay với một người khách lạ. Hơn nữa, theo các chuyên gia tâm lý, nụ cười còn giúp tiết lộ rất nhiều thông tin về bạn và những người xung quanh.

Laodong

Thủ phạm nguy hiểm gây bệnh tim mạch


Lượng cholesterol trong máu cao là nguyên nhân chính gây ra bệnh tim mạch, đặc biệt dẫn đến các chứng xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não; thậm chí còn gây ra các bệnh về sỏi túi mật, đái tháo đường...

Những năm 70 của thế kỷ trước, tỷ lệ người có lượng cholesterol (thành phần của các chất béo có trong máu) vượt ngưỡng chỉ chiếm khoảng vài phần trăm dân số thì đến nay, 29,1% dân số cả nước có lượng cholesterol trong máu vượt ngưỡng. Đáng báo động, tỷ lệ này ở người thành thị lên tới 44,3%. Các nhà chuyên môn cảnh báo, lượng cholesterol trong cơ thể quá cao sẽ gây các bệnh về tim mạch, huyết áp, đái tháo đường… Vậy cần phải làm gì để phòng tránh nguy cơ trên?

44,3% thị dân có lượng cholesterol cao

GS.TS Phạm Gia Khải, Chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam khuyến cáo, cholesterol là một dạng chất béo do gan sản xuất ra và dung nạp qua chế độ ăn uống. Khi dư thừa cholesterol trong máu rất nguy hiểm và việc tích tụ cholesterol sẽ khiến cho hẹp động mạch, máu đi qua khó khăn hơn, làm giảm lượng máu tới mô cơ thể, bao gồm cả tim. Vì thế, lượng cholesterol trong máu cao là nguyên nhân chính gây ra bệnh tim mạch, đặc biệt dẫn đến các chứng xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não; thậm chí còn gây ra các bệnh về sỏi túi mật, đái tháo đường...

Theo PGS.TS Lê Bạch Mai, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia, kết quả khảo sát trên 4.800 người (từ 25 đến 74 tuổi) tại 4 vùng: thành thị (Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh), nông thôn, vùng núi và duyên hải trong 3 năm (2007 - 2010) của Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho thấy, tỷ lệ người có lượng cholesterol cao là 29,1%, đặc biệt ở thành thị, tỷ lệ này lên đến 44,3% (trung bình cứ 2 người ở thành thị thì có 1 người thừa cholesterol).

Đặc biệt, tỷ lệ cholesterol trong máu cao tăng nhanh khi bước sang tuổi 35 - 44 là 41,7% và tăng gần 3 lần ở người cao tuổi, khoảng 61,3%. GS. Mai giải thích, sự gia tăng mỡ máu, đặc biệt là cholesterol liên quan đến chế độ ăn.

Kết quả khảo sát cũng cho thấy, gần một nửa chất béo trong khẩu phần ăn của người thành phố là từ thịt, ngoài ra là từ trứng, sữa. Trong khi đó, người dân lại ăn rất ít rau xanh và hoa quả - yếu tố để tránh lượng cholesterol trong máu cao.

Theo kết quả điều tra, tỷ lệ ăn rau quả của người Việt Nam trong suốt 2 thập niên qua không thay đổi, chỉ khoảng 200gram. Đáng lo hơn, cholesterol cao không biểu hiện rõ rệt dưới dạng bệnh nên người dân thường khó nhận biết và thường chủ quan hoặc không có biện pháp đối phó.

Hạn chế sử dụng các thực phẩm chế biến sẵn

Các chuyên gia khuyến cáo phương án dự phòng dựa trên cơ sở thay đổi lối sống và chế độ dinh dưỡng, bao gồm: tăng cường các hoạt động thể lực; kiểm soát cân nặng; bỏ thói quen sử dụng thuốc lá...

Theo TS. Nguyễn Thị Lâm, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia, đối với người rối loạn lipid máu và cholesterol cao nên tăng cường ăn các loại rau xanh và trái cây trong khẩu phần ăn hằng ngày; tăng cường ăn các loại đậu hoặc các chế phẩm; Mỗi tuần nên ăn ít nhất ba bữa cá để cung cấp axit béo hệ omega-3, có tác dụng bảo vệ tim mạch.

Đồng thời, người có cholesterol cao nên giảm ăn đồ ngọt, chỉ nên ăn tối đa từ 10 - 20gr chất ngọt mỗi ngày. Hạn chế ăn chất béo từ động vật (tránh ăn mỡ động vật, ăn thịt gia cầm thì nên bỏ da, uống sữa đã tách kem, chọn các loại sữa chua hay phomát có hàm lượng chất béo ít, chỉ khoảng 1-2%). Hạn chế ăn thức ăn rán (chiên), xào và các thực phẩm chế biến sẵn. Hạn chế dùng các loại thực phẩm từ phủ tạng động vật (não, bầu dục bò, tim, gan lợn…). Những loại này có tỷ lệ cholesterol khá cao.

Tuy có nhiều cholesterol nhưng lòng đỏ trứng đồng thời cũng có nhiều lecithin, là một chất điều hoà chuyển hoá cholesterol trong cơ thể. Do đó, ở người có cholesterol máu cao, không nhất thiết kiêng hẳn trứng mà có thể ăn trứng 1-2 lần trong tuần. Đặc biệt, nên tăng cường sử dụng các loại thực phẩm chứa nhiều vi chất tự nhiên giúp giảm cholesterol dư thừa như Gamma Oryzanol có dồi dào trong dầu màng gạo. “Nếu đúng chuẩn, trung bình mỗi người phải ăn 400gr rau xanh, hoa quả mỗi ngày sẽ làm giảm 2 lần nguy cơ bị các bệnh tim mạch, mỡ máu” - PGS.TS Lê Bạch Mai nhấn mạnh./.

VOV

Trái tim kiệt sức


Nói đến bệnh lý tim mạch, không thể không nhắc tới suy tim. Suy tim là biến chứng của hầu hết các bệnh liên quan đến tim mạch: van tim, mạch vành, tim bẩm sinh, tăng huyết áp… và là nguyên nhân chính gây tử vong cho người bệnh.

Suy tim không phải là căn bệnh mà là “hội chứng suy tim”, bao gồm nhiều triệu chứng. Cũng như tình trạng “suy” của các tạng và hệ khác (suy gan, suy thận, suy hô hấp…), suy tim là tình trạng tim không thể chu toàn nhiệm vụ, không cung cấp đủ máu cho nhu cầu của mọi cơ quan, tế bào khắp cơ thể.

Do đâu con tim suy yếu?

Suy tim là hậu quả của nhiều bệnh lý khác nhau như: nội mạc tim, cơ tim, màng ngoài tim, tăng huyết áp, động mạch vành… Phần lớn bệnh nhân suy tim ở các nước phát triển là do bệnh mạch vành, tăng huyết áp. Tại Việt Nam, do tần suất bệnh van tim hậu thấp còn cao nên nguyên nhân chính suy tim ở người trẻ dưới 40 tuổi là bệnh van tim. Khi tuổi lớn hơn, bệnh mạch vành và tăng huyết áp lại là nguyên nhân chính. Với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, suy tim thường do bệnh tim bẩm sinh.

Có thể nhắc tới một số nguyên nhân phổ biến làm yếu và tổn hại cơ tim, dẫn đến suy tim như: bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp, bệnh van tim (bẩm sinh hoặc mắc phải), bệnh cơ tim, viêm cơ tim, bệnh tim bẩm sinh, rối loạn nhịp tim, một số bệnh mãn tính (tiểu đường, thiếu máu, cường giáp, nhược giáp, suy giáp, khí phế thủng, lupus ban đỏ…)

Có thể gây biến chứng qua gan, thận

Người suy tim sẽ gặp nhiều triệu chứng tại tim lẫn toàn thân. Triệu chứng do sung huyết (tim tống máu không tốt nên máu ứ lại tại tim, phổi và tĩnh mạch hệ thống) là khó thở khi gắng sức, khó thở phải ngồi, khó thở kịch phát về đêm, phù phổi cấp, phù chi, giãn tĩnh mạch cổ, tràn dịch màng phổi – màng tim, sung huyết gan. Triệu chứng do cung lượng tim thấp (tim không cung cấp đủ máu) là mệt mỏi, yếu, tiểu ít, lạnh chi, lẫn lộn, lừ đừ…

Suy tim có thể gây biến chứng trên các cơ quan khác, chẳng hạn gây tổn thương thận và suy thận (do suy tim làm giảm lượng máu tới thận), tổn thương gan (do suy tim làm ứ máu tại gan), nhồi máu cơ tim và đột quỵ (do suy tim làm dòng máu chảy chậm, dễ tạo ra huyết khối gây những biến chứng trên), tử vong (do suy tim nặng)…

Các phương thức điều trị suy tim

Bên cạnh các phương thức điều trị được bác sĩ áp dụng, một lối sống phù hợp sẽ giúp người suy tim giảm bớt triệu chứng, nâng cao chất lượng cuộc sống và ngăn ngừa bệnh tiến triển.

Suy tim có thể mãn tính (mức độ suy tim tăng dần theo thời gian) hoặc cấp tính (đột ngột xuất hiện suy tim, diễn tiến nhanh). Do nguyên nhân gây bệnh ảnh hưởng đến chức năng tim, tim phải ráng gồng gánh, tăng co bóp để duy trì đủ lượng máu cung cấp cơ thể. Thoạt đầu, tim chưa bị ảnh hưởng hoặc chỉ suy yếu mức độ nhẹ. Ngày qua ngày, tim phải gắng sức nhiều hơn, mức độ suy tim tăng lên, sức khoẻ bệnh nhân giảm sút dần. Buồng tim co bóp chính (buồng thất) trở nên cứng và không được đổ đầy hiệu quả giữa các nhịp đập. Song song đó, cơ tim yếu đi, buồng thất bị giãn ra làm giảm hiệu quả mỗi nhát bóp. Đến một ngày, tim hoàn toàn kiệt sức, không thể bù trừ để chu toàn chức năng, bệnh nhân suy kiệt và tử vong.

Phương thức điều trị suy tim hiện nay là điều trị nguyên nhân (như điều trị bệnh van tim, mạch vành, tăng huyết áp…) và loại trừ các yếu tố làm nặng (nhiễm trùng, loạn nhịp tim, thiếu máu cơ tim, có thai, bệnh tuyến giáp, thiếu máu, uống rượu, không tuân thủ điều trị về dinh dưỡng và thuốc…) Bên cạnh các phương thức điều trị được bác sĩ áp dụng như điều trị thuốc, phẫu thuật điều trị bệnh tim… một lối sống phù hợp sẽ giúp người suy tim giảm bớt triệu chứng, nâng cao chất lượng cuộc sống và ngăn ngừa bệnh tiến triển.

BS.CK1 Ngô Bảo Khoa

Lối sống cho người suy tim

– Tránh vận động quá sức: cần có thời gian nghỉ ngơi cả về thể xác lẫn tinh thần.
– Bỏ thuốc lá: hút thuốc lá gây tổn hại mạch máu, giảm lượng oxy trong máu, làm tim đập nhanh, thúc đẩy tình trạng suy tim tiến triển nhanh và nặng nề hơn.
– Không để quá cân: quá cân làm tăng gánh nặng công việc cho tim. Giảm cân nặng về mức bình thường ở người quá cân sẽ giúp tim dễ thở hơn nhờ giảm sức cản mạch máu ngoại vi.
– Kiểm tra cân nặng mỗi ngày: sáng sớm, sau khi đi tiểu và chưa ăn sáng, người suy tim cần kiểm tra cân nặng của mình. Nếu tăng khoảng 1,5kg trở lên, cần thông báo với bác sĩ điều trị vì sự tăng cân này cho thấy có tình trạng giữ nước trong cơ thể.
– Uống nước vừa đủ: nên uống nước theo nhu cầu, không uống quá 1,5 lít/ngày để tránh tăng tải khối lượng tuần hoàn cho tim.
– Hạn chế ăn muối: không nên ăn quá 2g muối mỗi ngày. Ăn nhiều muối làm tăng giữ nước trong cơ thể khiến công việc của tim nặng nề hơn, gây khó thở và phù chân, mắt cá, bàn chân.
– Hạn chế ăn chất béo: cần áp dụng chế độ ăn có ít chất béo bão hoà, chất béo trans và cholesterol. Rối loạn chuyển hoá mỡ máu là yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành, căn bệnh góp phần đưa đến suy tim.
– Không uống rượu: rượu có thể tương tác với thuốc điều trị, ảnh hưởng co bóp cơ tim, tăng nguy cơ rối loạn nhịp.
– Tập thể dục đều đặn: tập thể dục đều đặn với mức độ vừa sức ở người suy tim giúp tăng cường các hoạt động sinh lý, tăng khả năng chịu đựng, làm tăng chất lượng cuộc sống, giảm thiểu các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch.
– Tránh bị stress: xúc động hay giận dữ làm tim đập nhanh hơn, mạnh hơn, thở mệt hơn. Điều này làm tình trạng suy tim tệ đi vì tim phải tăng “cung” cho nhu cầu cơ thể.
– Tránh mất ngủ: ngủ đủ giấc tốt cho tim và sức khoẻ. Một số bệnh nhân suy tim có triệu chứng khó thở kịch phát về đêm và khó thở khi nằm đầu thấp cần ngủ với gối cao, để đầu cao 30 – 45 độ sẽ thấy thoải mái hơn. Để dễ ngủ, không nên ăn no trước khi ngủ, nên uống thuốc lợi tiểu vào buổi sáng nếu có một cữ thuốc, hoặc buổi sáng và chiều nếu có hai cữ thuốc để tránh phải đi tiểu ban đêm.

SGTT

5 cách để có một trái tim khỏe mạnh


Cuộc sống hiện đại với chế độ ăn giàu dinh dưỡng, những áp lực trong công việc, kèm theo lối sống công nghiệp ít vận động... là những nguyên nhân khiến bệnh tim mạch ngày càng tăng cao. Để có một trái tim khỏe mạnh, bạn cần thực hiện một số lời khuyên dưới đây.

1. Ăn nhiều loại trái cây, rau quả và cá

Bạn nên sử dụng các loại thực phẩm nhiều màu sắc như lựu, quả việt quất, cà chua và rau bina... vì các loại thực phẩm này giàu chất chống oxy hóa, giúp trái tim khỏe mạnh. Chất chống oxy hóa giảm nguy cơ mắc bệnh tim do hiệu ứng chống viêm trong các mạch máu - Marisa Moore, RD, phát ngôn viên của Hiệp hội Dinh dưỡng Mỹ cho biết. Chúng giúp loại bỏ sự tích tụ của các mảng bám trong động mạch, giữ cho mạch máu khỏe mạnh.

Nhiều loại trái cây và rau quả như cam, chuối và nấm cũng chứa hàm lượng kali cao giúp điều chỉnh huyết áp. Moore khuyến cáo bạn nên ăn trái cây và rau quả 5-9 phần ăn một ngày và phải đảm bảo bạn có ba loại rau và hai loại trái cây khác nhau . "Các loại rau quả đa dạng cung cấp cho bạn một sự cân bằng lành mạnh các chất dinh dưỡng cần thiết", Moore nói.
Ngoài ra bạn cũng nên đưa các loại cá béo như cá hồi, cá mòi hoặc cá hồi vân... vào chế độ ăn của mình. Mỗi tuần ăn 2 lần cá là một cách tuyệt vời để có omega-3 và axit béo giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim qua việc giảm áp suất máu và chất béo trung tính.

Ảnh: Flickr.com

2. Giảm chất béo.

Bạn sẽ tìm thấy chất béo trong bơ, thịt và các sản phẩm sữa chứa chất béo... Vì vậy một chế độ ăn uống ít chất béo là lá chắn hữu hiệu trong việc chống lại bệnh tim. Giảm lượng chất béo bão hòa của bạn để giữ nó không quá 7% calori hàng ngày.

Tốt nhất hãy loại bỏ chất béo trong chế độ ăn của bạn vì ngoài việc nâng cao lượng cholesterol xấu chất béo còn làm giảm lượng cholesterol tốt trong cơ thể. Chỉ nên có 1% chất béo trong chế độ ăn hàng ngày của bạn. Các thực phẩm như bơ thực vật, dầu, bánh ngọt... là kẻ thù của một trái tim khỏe mạnh, vì vậy bạn hãy cẩn thận với các loại thực phẩm này.

Ảnh: Flickr.com

3. Biết rõ các nguy cơ của bạn.

Một điều quan trọng là bạn cần được bác sĩ của mình kiểm tra lượng cholesterol, lượng đường trong máu và các dấu hiệu của bệnh tiểu đường. Huyết áp nên thấp hơn 120/80 đối với phụ nữ. Một cách khác để kiểm tra các nguy cơ của bạn là phải biết lịch sử gia đình mình. Nguy cơ của bạn tăng lên nếu phụ nữ trong gia đình bạn dưới 65 tuổi, hay đàn ông dưới 50 tuổi, đã bị bệnh tim. Nó tăng lên 17% nếu cha của bạn đã có bệnh tim, và đến 43% nếu mẹ của bạn đã bị ảnh hưởng. Thậm chí nếu bạn tuân theo một chế độ ăn uống và tập thể dục lành mạnh, nguy cơ vẫn có thể tăng lên nhiều đến 82% nếu cả cha mẹ của bạn cùng bị bệnh tim.

4. Tập thể dục.

Bạn không cần phải tập theo cường độ cao, chỉ cần đi bộ 30 phút mỗi ngày là đủ để giúp cho tim bạn khỏe mạnh hơn. Tập thể dục có thể làm tăng lipoprotein mật độ cao (HDL), thường được gọi là “cholesterol tốt", và giảm lipoprotein mật độ thấp (LDL), còn được gọi là “cholesterol xấu". Hai loại cholesterol này kết hợp với chất béo trung tính tổng lượng cholesterol có thể ít hơn 200. Đối với phụ nữ thì LDL nên thấp hơn 100 và HDL trên 50. Bạn càng tập thể dục thì cơ hội giảm cholesterol xấu của bạn càng tốt hơn.

Ảnh: Flickr.com

5. Ngừng hút thuốc.

Người hút thuốc lá có thể bị ung thư và có nguy cơ mắc bệnh tim mạch vành cao hơn 2-4 lần. Hút thuốc lá làm hẹp động mạch, tăng huyết áp, máu đặc lại, một “công thức” hoàn hảo cho cơn đau tim.

Nếu bạn không quan tâm đến sức khỏe của riêng mình để dừng lại, thì bạn cũng nên suy nghĩ về cách bạn gây ảnh hưởng đến sức khỏe của những người xung quanh mình. Tiếp xúc với khói thuốc có thể gây ra bệnh tim, ngay cả ở người không hút thuốc.

Ảnh: Flickr.com

Thái Duy (Theo Womenshealthmag.com)

Ngừa bệnh động mạch vành ở người cao tuổi

Càng có tuổi thì nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và chuyển hóa trong đó có bệnh động mạch vành (ĐMV) ngày càng tăng lên. Có đến 1/3 số bệnh nhân nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp bị tử vong trong vòng 24 giờ kể từ khi bị đau ngực và rất nhiều bệnh nhân còn sống sót có di chứng trầm trọng. Tuy nhiên, có thể phòng ngừa sự phát triển bệnh ĐMV (phòng ngừa tiên phát) hoặc làm giảm nguy cơ bị NMCT cấp ở các bệnh nhân đã mắc bệnh ĐMV (phòng ngừa thứ phát) bằng cách làm thay đổi các yếu tố nguy cơ gây bệnh.

Phòng ngừa tiên phát bệnh ĐMV

Các nguy cơ chính gây bệnh ĐMV là hút thuốc lá, thừa cân, tiền sử gia đình có người mắc bệnh ĐMV sớm (nam giới dưới 55 tuổi, nữ giới dưới 65 tuổi), rối loạn lipid máu, đái tháo đường và tăng huyết áp. Các bác sĩ cần phát hiện và đánh giá tình hình kiểm soát các yếu tố nguy cơ chính của bệnh ĐMV cho tất cả các bệnh nhân theo định kỳ (3-5 năm). Nguy cơ mắc bệnh ĐMV nên được tính toán cho các bệnh nhân có từ 2 yếu tố nguy cơ chính trở lên để đưa ra chiến lược phòng ngừa tiên phát phù hợp. Phòng ngừa bằng aspirin có thể gây ra các biến chứng chảy máu và chỉ nên sử dụng aspirin để phòng ngừa tiên phát ở các bệnh nhân có nguy cơ cao.
Cần kiểm soát bệnh lý tim mạch để nâng cao chất lượng cuộc sống.

Phòng ngừa thứ phát

Thay đổi lối sống: Trước khi ra viện, các bệnh nhân NMCT cấp cần được giáo dục về sức khỏe, các hoạt động thể lực, thay đổi lối sống và việc dùng thuốc để phòng ngừa thứ phát các bệnh tim mạch. Bệnh nhân và gia đình cần được hướng dẫn trước khi ra viện về các triệu chứng thiếu máu cơ tim, gọi xe cấp cứu khi các triệu chứng thiếu máu cơ tim tái phát và không giảm đi hay trở nên trầm trọng hơn 5 phút sau khi ngậm 1 viên nitroglycerin dưới lưỡi, để đảm bảo chắc chắn là bệnh nhân sẽ được chẩn đoán và điều trị sớm khi bệnh tái phát. Các bệnh nhân có triệu chứng của NMCT cấp (đau thắt ngực có hoặc không lan ra tay, lưng, cổ, hàm, hay thượng vị; khó thở; mệt; vã mồ hôi; buồn nôn; choáng váng) nên được đưa đến bệnh viện bằng xe cấp cứu hơn là bởi người nhà hay bạn bè, vì các nhân viên y tế có thể can thiệp kịp thời các thủ thuật có thể cứu sống bệnh nhân (hồi sức tim phổi, sốc điện chuyển nhịp) khi cần thiết. Tỷ lệ tử vong của bệnh nhân NMCT cấp có thể giảm đi một cách có ý nghĩa nếu bệnh nhân và người nhà sớm nhận ra triệu chứng và gọi cho trung tâm cấp cứu, nhờ vậy bệnh nhân sẽ nhận được sự giúp đỡ của nhân viên y tế sớm nhất.

Kiểm soát trọng lượng cơ thể: Chỉ số khối lượng cơ thể trung bình là 18,5 - 22,9 kg/m2. Nếu vòng bụng trên 90cm ở nam giới và trên 80cm ở nữ giới có thể dẫn đến hội chứng chuyển hóa và cần phải giảm cân.

Bỏ hút thuốc lá: Ngừng hút thuốc lá là một yếu tố quan trọng nhất giúp bệnh nhân có thể làm giảm nguy cơ bị tái phát NMCT. Hút thuốc lá làm giảm nồng độ ôxy trong máu, làm tổn thương và suy yếu thành động mạch. Lợi ích của việc ngừng hút thuốc lá gần như đạt được tức thì. Ngay khi bệnh nhân ngừng hút thuốc, nguy cơ tái phát bệnh bắt đầu giảm xuống. Sau 5 năm cai thuốc lá, nguy cơ bị NMCT tái phát sẽ giảm đi một nửa so với trường hợp bệnh nhân tiếp tục hút thuốc.
Tắc nghẽn động mạch vành do xơ vữa động mạch.

Kiểm soát các bệnh có liên quan

Huyết áp: Cần kiểm soát huyết áp dưới 140/90mmHg (dưới 130/80mmHg ở bệnh nhân tiểu đường hay bệnh thận mạn tính) bằng thuốc và thay đổi lối sống. Thay đổi lối sống (giảm cân, thay đổi chế độ ăn, tăng hoạt động thể lực và ăn nhạt) nên thực hiện cho tất cả các bệnh nhân có huyết áp lớn hơn hoặc bằng 120/80mmHg. Không nên dùng thuốc chẹn kênh canxi nhóm dihydropyridin có tác dụng ngắn để điều trị tăng huyết áp (THA). Các bệnh nhân THA nên có một chế độ ăn ít muối và nhiều rau, hoa quả và các chế phẩm ít chất béo, cũng như có một chương trình tập thể dục đều đặn. Hầu hết các bệnh nhân cần hơn một thuốc để kiểm soát được trị số huyết áp và nên lựa chọn các thuốc đã được chứng minh là có làm cải thiện tiên lượng của bệnh nhân (thuốc lợi tiểu nhóm thiazid được lựa chọn đầu tiên, nên phối hợp với các thuốc chẹn bêta giao cảm, thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể AT1 angiotensin và thuốc chẹn kênh canxi có tác dụng kéo dài).

Đường huyết: Kiểm soát chặt đường huyết bằng insulin hay thuốc hạ đường huyết uống và chế độ ăn để đạt HbA1C < 7%, tốt nhất là HbA1C < 6,5%.

Rối loạn lipid máu: Nên khuyên các bệnh nhân ăn chế độ có chứa ít cholesterol, ít chất béo bão hòa, nhiều chất xơ hòa tan được, nhiều rau và hoa quả. Các thuốc statin đã được chứng minh là biện pháp can thiệp bằng thuốc có hiệu quả nhất. Nồng độ lipid mục tiêu phụ thuộc vào nguy cơ cơ bản của bệnh nhân. Đối với các bệnh nhân có nguy cơ cao nên điều trị rối loạn lipid máu tích cực để đạt nồng độ LDL-C mục tiêu dưới 70mg/dL.

Hormon liệu pháp: Hormon liệu pháp với estrogen phối hợp với progestin không nên sử dụng cho các bệnh nhân mới bị mãn kinh sau NMCT cấp như là một biện pháp phòng ngừa thứ phát các biến cố bệnh ĐMV. Các bệnh nhân mãn kinh đã sử dụng thuốc tại thời điểm bị NMCT cấp không nên tiếp tục dùng thuốc. Tuy nhiên, các bệnh nhân đã sử dụng thuốc 1-2 năm muốn tiếp tục sử dụng thuốc vì các chỉ định khác nên cân nhắc giữa nguy cơ và lợi ích mang lại từ việc sử dụng thuốc. Hormon liệu pháp không nên dùng tiếp tục khi bệnh nhân phải nằm dưỡng bệnh tại giường.

Hoạt động thể lực: Các bệnh nhân hồi phục sau NMCT cấp nên tập thể dục 30 phút mỗi ngày hay ít nhất 5 lần/tuần (đi bộ, đi xe đạp, hay các hoạt động thể lực khác), đồng thời tăng các hoạt động thông thường hằng ngày (làm vườn, làm công việc nội trợ).

Chống ôxy hóa: Các vitamin chống ôxy hóa như vitamin E, C không nên sử dụng cho bệnh nhân hồi phục sau NMCT cấp để phòng ngừa thư phát các bệnh tim mạch.

PGS. TS. Nguyễn Quang Tuấn - suckhoedoisong

Những vấn đề sức khỏe thường gặp của nam giới


Bước qua tuổi 40, đa số đàn ông cảm thấy cơ thể có sự thay đổi rõ rệt so với lúc trẻ. Dấu hiệu thường gặp nhất là mỗi khi đọc, họ phải để sách, báo thật xa hoặc đeo kính lão thì mới thấy rõ. Nguyên nhân là mắt đã bắt đầu lão hóa do phải làm việc suốt nhiều năm. Sau đây là những vấn đề sức khỏe thường gặp khác của nam giới ngoài 40 tuổi.

Cao huyết áp

Một ngày nào đó, nếu đột nhiên bạn cảm thấy nhức đầu dai dẳng trong nhiều giờ, chạy bộ xa nhanh mệt thì đó là lúc bạn cần lưu ý đến chỉ số huyết áp của mình. Qua hàng chục năm làm việc, mạch máu của bạn bắt đầu cứng lại. Nếu máu lưu thông khó khăn hơn, áp lực tăng thì rất có thể bạn bắt đầu bị cao huyết áp. Về đo huyết áp, bạn cần đo lúc nghỉ (ít ra là 5 phút), ngày 3 lượt: sáng, trưa, chiều, mỗi lượt đo 3 lần. Nếu chỉ số huyết áp trung bình của bạn trên 140/90mmHg, nghĩa là bạn bị cao huyết áp.

Đây là bệnh nguy hiểm với mọi lứa tuổi, nhất là khi bạn đã quá tuổi 50 - 60. Nó gây ra các biến chứng đột ngột, đe dọa tử vong như: nhũn não, xuất huyết não. Do vậy, khi huyết áp bắt đầu cao, bạn nên đi khám, cân lại trọng lượng xem mình có béo phì không.
Kiểm tra huyết áp.
Muốn tránh huyết áp cao, bạn nên bớt ăn mặn, bớt chất béo và năng tập thể dục hàng ngày. Thử đi xe đạp mỗi ngày độ vài km, bỏ hẳn xe máy, có thể huyết áp sẽ trở lại bình thường mà không cần đến viên thuốc nào cả. Các môn đi bộ, chạy bộ không giảm được huyết áp nhiều, còn môn cầu lông, tenis chỉ càng làm huyết áp tăng thêm.

Bệnh gút

Nếu bạn có thể trạng hơi béo, thích ăn chất béo, cần nghĩ đến bệnh gút khi thấy đau khớp (nhất là các khớp chi dưới) hoặc khi khớp gốc ngón chân cái sưng, đỏ, đau về sáng. Bạn nên thử máu và có thể sẽ thấy lượng acid uric máu trên 7mg%.

Xơ gan

Nhiều bạn có quan niệm sai lầm chỉ rượu mới có hại, còn bia rất bổ và tốt cho sức khỏe. Thực ra 3 ly bia cũng có tác hại bằng 1 ly rượu. Nếu uống quá nhiều rượu, bia, gan bạn sẽ bị nhiễm mỡ. Ở giai đoạn đầu, bệnh còn dễ chữa nếu bạn kiêng hẳn bia rượu. Nếu vẫn tiếp tục uống, bạn sẽ bị xơ gan, vô phương cứu chữa.

Đái tháo đường

Vào tuổi này, bệnh đái tháo đường hay xuất hiện ở người béo phì. Nhiều bạn cứ tưởng rằng ăn nhiều đường, chất ngọt thì sẽ mắc bệnh. Thực ra, cơ thể chúng ta có một cơ chế điều hòa thật hữu hiệu. Nếu bạn ăn đường nhiều, phần dư sẽ được dự trữ ở gan dưới dạng glycogen, khiến lượng đường trong máu lúc nào cũng là 1g/l. Khi bạn ăn ít đi, cơ thể sẽ lấy glycogen dự trữ ở gan ra dùng lại dưới dạng glucose.

Bệnh đái tháo đường xuất hiện khi cơ chế trên bị rối loạn. Bạn phải uống thuốc hạ đường huyết hàng ngày suốt đời nếu không muốn bị các biến chứng tai hại về: thần kinh, mắt, thận… rất khó chữa.

Các bệnh do thuốc lá

Bạn nghiện thuốc lá? Nên bỏ sớm nếu muốn sống lâu. Thuốc lá là nguyên nhân gây: ung thư phổi, nhồi máu cơ tim, khí thũng phổi, tâm phế mãn, tắc các mạch máu đầu chi…

Trong bệnh nhồi máu cơ tim, một phần mạch vành mang máu nuôi cơ tim bị bít tắc, gây hoại tử cơ tim. Khi tim co bóp, phần cơ hoại tử sẽ bị thủng, gây vỡ tim. Máu lan tràn rất nhanh vào lồng ngực làm bệnh nhân tử vong đột ngột.

Các bệnh do làm việc nặng

Đừng bao giờ làm quá sức mình. Nếu không, đến một ngày nào đó, sau khi khiêng nặng, bạn sẽ bị cụp xương sống và đứng lên không được. Chứng đau thần kinh tọa hoặc thoát vị đĩa đệm gây chèn ép thần kinh tọa cũng có thể xảy ra sau khi gắng sức. Cơn đau này đặc biệt khởi đầu từ một bên hông, lan qua mông xuống một bên chân, bàn chân.

Mất ngủ

Càng nhiều tuổi, bạn càng thấy giấc ngủ mình ngắn dần, hay thức dậy sớm (3 - 4 giờ sáng). Điều đó báo hiệu bạn đã bị chứng mất ngủ ở người cao tuổi. Nên tắm nước ấm, tập thể dục nhẹ, không ăn trái cây lúc chiều tối, ngủ nơi yên tĩnh, tránh đọc sách hay xem phim căng thẳng, bạn sẽ ngủ tốt hơn.

Đục thủy tinh thể

Nếu bạn cảm thấy mắt mờ dần, không còn nhìn xa hay gần được nữa thì có thể bạn đã bị cườm (đục thủy tinh thể), phải đến khám bác sĩ. Khi cườm đã chín hay già, bác sĩ sẽ mổ lấy thủy tinh thể đục ra và đặt vào một thủy tinh thể nhân tạo, giúp bạn trông rõ trở lại.

Thoái hóa khớp

Sau bao năm hoạt động, khi đến tuổi này, các khớp xương của bạn bắt đầu bị lão hóa. Nếu cảm thấy đau lưng, mỏi gối, có thể bạn đã bị thoái hóa khớp. Việc uống thuốc kháng viêm sẽ giúp giảm đau phần nào nhưng bệnh thoái hóa khớp ở người cao tuổi không sao khỏi hẳn được.

U xơ tiền liệt tuyến

Nếu tình cờ bạn cảm thấy tiểu khó, sức rặn yếu đi, hãy đi siêu âm hoặc khám bác sĩ ngoại khoa để phát hiện sớm bệnh u xơ tuyến tiền liệt. Khi được phẫu thuật cắt bỏ khối u xơ chèn ép ống thoát tiểu, bạn sẽ đi tiểu thoải mái ngay. Bạn cũng có thể vô tình thấy một khối u mềm ở bìu hay bẹn, đó là do cơ thành bụng đã yếu, gây bệnh sa ruột hay thoát vị. Không có gì phải lo ngại, hãy đến khám bác sĩ ngoại khoa. Bác sĩ sẽ mổ kéo ruột lên và may thành bụng chắc lại.

Ung thư dạ dày

Cũng vào tuổi này, khi bạn thấy ăn uống không còn ngon, đôi lúc muốn nôn, ngày càng thiếu máu, da nhợt nhạt, cần nghĩ ngay đến một bệnh ác tính là ung thư dạ dày. Phải chụp hình kiểm tra dạ dày để phát hiện bệnh thật sớm. Đừng để quá trễ, đến khi sờ thấy một khối u cứng ở bụng thì bác sĩ đã không thể giúp gì cho bạn được.

Khả năng tình dục suy giảm

Nếu thấy quan hệ tình dục không còn thoải mái, bạn không nên mặc cảm rồi tự mua viagra dùng. Do viagra là thuốc giãn mạch nên cần hết sức cẩn thận với người có tiền sử cao huyết áp, tim mạch. Nếu dùng không đúng, nó có thể gây đột tử.

BS. ĐẶNG QUỐC BẢO - skđs

6 thời điểm nguy hiểm đối với người bị bệnh tim


TS Arthur Gordon, khoa Tim mạch, ĐH Miami Miller (Mỹ) đã tổng hợp và đưa ra 6 thời điểm bệnh tim mạch có thể phác tác, gây đột quỵ, tai biến mạch máu… trên tạp chí Prevention.

Ông nhấn mạnh, vào những thời điểm ấy, tự bảo vệ lấy bản thân là một trong những nhân tố quan trọng duy trì sự sống đối với những bệnh nhân đau tim.

1. Thức dậy buổi sáng

Các nhà nghiên cứu thuộc trường đại học Harvad cho biết, nguy cơ đau tim cũng như tỷ lệ phát tác bệnh tim tăng 40% vào buổi sáng sớm.

Nguyên nhân là do khi vừa thức giấc, cơ thể tiết ra nhiều hooc-môn đặc biệt trên tuyến thượng thận, huyết áp cũng do đó tăng cao, mức tiêu thụ ô-xy cũng tăng mạnh, cơ thể rơi vào trạng thái mất nước, nồng độ huyết dịch lớn hơn làm cho việc lưu thông máu gặp khó khăn hơn. Do đó, tạo thêm áp lực cho hệ thống tim mạch.

Biện pháp bảo vệ: Sau khi thức dậy, hoạt động nhẹ nhàng, không quá nhanh cũng không quá chậm, cần cho cơ thể chút thời gian để cân bằng. Đồng thời, cần giữ ấm, nếu có thói quen luyện tập thể thao vào buổi sáng cần khởi động làm nóng người trước khi luyện tập.

Nếu có dùng thuốc trợ tim, nên dùng vào buổi tối trước khi đi ngủ để đạt hiệu quả trị bệnh tốt nhất.

2. Buổi sáng sớm đầu tuần

Nghiên cứu cho thấy, buổi sáng sớm đầu tuần, khả năng phát các cơn đau tim dữ dội cao hơn 20% so với những thứ khác trong tuần.

Nguyên nhân do cơ thể phải chuyển trạng thái nghỉ ngơi sang làm việc, hơn nữa, công việc căng thẳng thường gây cảm giác ức chế, áp lực.

Biện pháp bảo vệ: Ngày cuối tuần nên nghỉ ngơi thoải mái, tuy nhiên không nên ngủ quá nhiều. Bởi làm như vậy cơ thể sẽ càng mệt mỏi, đồng hồ sinh học bị gián đoạn. Ngày đầu tuần lại làm việc, hoạt động gấp gáp khiến huyết áp tăng cao hơn so với bình thường.

3. Sau bữa ăn “no say”

Sau bữa ăn quá nhiều dinh dưỡng, chất đạm hay lipit cũng là một trong những nguyên nhân khiến cơn đau tim “hoành hành”. Nhiều nghiên cứu cho thấy, chất béo và tinh bột đường quá cao trong cơ thể khiến các mạch máu co thắt lại gây tắc động mạch.

Biện pháp bảo vệ: Những người mắc bệnh tim mạch cần tránh ăn quá no, quá nhiều chất dinh dưỡng một lúc. Nếu không thể kiềm chế được cơn thèm ăn thì một viên aspirin sẽ giúp máu tuần hoàn tốt, tránh hiện tượng tắc nghẽn hay đông đặc.

4. Sau khi đi vệ sinh

Táo bón là một trong những hệ lụy của bệnh tim mạch, đồng thời cũng là một trong những “thủ phạm” gây nhồi máu cơ tim hay đột quỵ ở những người mắc bệnh tim.

Nguyên nhân do, khi đi vệ sinh (đại tiện) áp lực tăng lên ở phần lồng ngực, giảm lưu lượng tuần hoàn máu từ đó làm những cơn đau tim phát tác là điều khó tránh khỏi.

Biện pháp bảo vệ: Nên ăn nhiều thực phẩm giàu chất xơ, uống nhiều nước để ngăn ngừa táo bón.

5. Lao động nặng nhọc

Đối với những bệnh nhân mắc bệnh tim, động chân tay hay trí óc quá nặng nhọc đều ảnh hưởng đến sức khỏe. Nếu nghiêm trọng có thể gây nguy hiểm tính mạng. Đặc biệt khi làm những việc nặng nếu không có những bước đệm khởi động rất dễ làm tăng lượng tiết hooc-môn, huyết áp tăng từ đó càng làm cho tình trạng bệnh thêm trầm trọng.

Biện pháp bảo vệ: Dù tham gia bất cứ hoạt động lao động nào cần làm dần dần từng bước theo mức độ tăng dần, đừng quá nóng vội mà ảnh hưởng tới sức khỏe.

6. Phát biểu trước đám đông

Đối diện với nhiều người hay chịu bất kỳ áp lực tâm lý nào là một thách thức, một sự trải nghiệm lớn đối với những bệnh nhân mắc bệnh tim. Bởi nếu tâm lý quá căng thẳng sẽ làm huyết áp tăng đột ngột, nhịp tim theo đó cũng không ngừng tăng nhanh, hooc-môn tuyến thượng thận tăng. Tất cả những nhân tố này đều khiến nguy cơ đau tim đột ngột dẫn tới đột quỵ hoặc tử vong tăng cao.

Biện pháp bảo vệ: Trước khi đứng đám đông cần có sự chuẩn bị chu đáo về mặt tâm lý. Hạn chế tối đa tâm trạng căng thẳng hay nghe những tin tức không tốt. Nếu thấy quá hồi hộp hay căng thẳng, có thể uống chút thuốc trợ tim theo hướng dẫn của bác sỹ.

Phạm Hằng - Dân trí - Theo People