Hiển thị các bài đăng có nhãn Stress và bệnh tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Stress và bệnh tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng

Stress và bệnh lý tim mạch


Căng thẳng tâm lý thúc đẩy quá trình vữa xơ động mạch

Căng thẳng tâm lý được cho là một yếu tố gây bệnh vữa xơ động mạch quan trọng. Những người hiểu biết về stress, có sức khỏe và tâm lý vững vàng sẽ dễ dàng vượt qua được những tác động của stress và vui tươi trong cuộc sống. Ngược lại, những người có cơ thể ốm yếu, suy sụp, không vượt qua và thích ứng nổi thì dễ phát sinh bệnh tật và có thể bị ảnh hưởng lớn bởi stress, dẫn đến đột tử khi gặp những cú sốc quá lớn trong cuộc đời.

Bên cạnh 3 yếu tố nguy cơ chủ yếu gây vữa xơ động mạch là tăng cholesterol máu, tăng huyết áp và hút thuốc lá, căng thẳng tâm lý cũng được xác định là một yếu tố nguy cơ quan trọng. Căng thẳng về tâm lý gây tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm và do vậy gây ảnh hưởng xấu đến thành mạch, làm rối loạn tuần hoàn và tăng nguy cơ gây tổn thương các tế bào nội mạc, làm tăng tính thấm của tế bào nội mạc và do vậy làm tăng nguy cơ lắng đọng LDL-C gây hình thành và phát triển vữa xơ động mạch.
Khi bị căng thẳng về tâm lý cấp tính có thể gây rung thất dẫn đến đột tử.

Có thể đột tử vì stress

Đột tử là nguyên nhân gây tử vong phổ biến của các bệnh nhân bị vữa xơ động mạch, đặc biệt là vữa xơ động mạch vành. Do vậy tác động tích cực lên quá trình vữa xơ động mạch sẽ làm giảm nguy cơ đột tử. Có giả thuyết cho rằng, khi bị căng thẳng về tâm lý cấp tính có thể gây rung thất và đột tử, do kích hoạt hệ thống bảo vệ dẫn đến làm giảm đột ngột trương lực phó giao cảm. Thông qua cơ chế thần kinh phó giao cảm trung ương làm mất sự ổn định về điện học của tim. Trong khi đồng thời làm tăng trương lực thần kinh giao cảm ở tim dẫn đến làm tăng tần số tim, tăng co bóp cơ tim, tăng huyết áp tâm thu và gây thiếu máu cơ tim ở các bệnh nhân có vữa xơ động mạch vành, làm tăng nguy cơ bị rung thất và đột tử.

Cần sắp xếp, bố trí công việc và cuộc sống một cách hợp lý để giảm thiểu stress.

Thức ăn có lợi cho sức khỏe

Sức khỏe sẽ giảm sút khi bạn ngày càng phải chịu nhiều áp lực công việc. Vì vậy, ăn uống điều độ 3 bữa một ngày là rất cần thiết.

Những thực phẩm không thể thiếu trong chế độ ăn:

- Ăn nhiều thức ăn thô, đặc biệt là gạo và ngũ cốc.

- Ăn nhiều hoa quả và rau xanh.

- Một lượng nhỏ vừa phải chất béo, dầu và protein như thịt lợn, thịt gà, cá...

- Uống nhiều nước (ít nhất 8 cốc nước một ngày).

Vận động

Thể dục thường xuyên, điều độ, 30 - 45 phút mỗi ngày sẽ làm giảm căng thẳng và giúp bạn ngủ ngon hơn.

Bất cứ bài tập thể dục nào cũng đều tốt cho cơ thể, miễn là phải tập đều đặn. Hai nguyên tắc cơ bản của sự điều độ đó là:

- Không để mồ hôi ra quá nhiều.

- Hãy trò chuyện với người khác trong khi tập vì nó giúp bạn biết mình đang tập quá sức khi thấy khó nói chuyện.

Hít thở

Học cách thở đều và sâu để giúp lồng ngực mở rộng hoàn toàn. Đây là một trong những cách giảm stress tốt nhất. Thở sâu sẽ giúp bạn tránh được khả năng bị stress. Nếu bạn muốn học cách thở đúng, tốt nhất là nhờ bác sĩ hướng dẫn. Cách này rất tốt cho những người phiền muộn, hay lo lắng.

Nghỉ ngơi hợp lý

Bất kỳ ai từng bị stress đều hiểu rằng ngủ đẫy giấc là việc đầu tiên cần phải làm. Người trưởng thành cần ngủ 8 tiếng mỗi ngày. Cơ thể cần ngủ để tái tạo và hồi phục vì thế, tránh uống chất cồn, ăn nhiều vào buổi tối và ngủ trưa vừa phải. Khi ngủ sâu, hơi thở, nhịp tim và cả huyết áp đều sẽ ở mức thấp nhất.

Tạm dừng công việc và thả lỏng cả tâm hồn và cơ thể trong không gian yên tĩnh. Hãy tuân theo đòi hỏi nghỉ ngơi của cơ thể để tinh thần sảng khoái thay vì phải kiềm chế, làm tăng thêm sự căng thẳng hay thất vọng về công việc.

Tránh những thói quen xấu

Tránh dùng chất cồn quá nhiều

Nhiều người coi chất cồn là một công cụ giảm stress và thường thì ly đầu tiên mang lại sự thư thái dễ chịu nhưng cảm giác đó sẽ qua “nhanh như gió thoảng”.

Chất cồn là một chất giảm đau tác động tới hệ thần kinh nhưng nếu dùng kéo dài sẽ gây ra suy nhược, trầm cảm. Vì thế, khi bị stress, tốt nhất là tránh xa chất cồn vì thường nó sẽ dẫn dụ bạn uống nhiều hơn 1 ly như dự kiến.

Giảm lượng muối trong thức ăn

Khi ăn mặn, lượng muối hấp thụ vào cơ thể lâu dài sẽ gây rối loạn sự vận chuyển các chất dinh dưỡng vào từng tế bào trong cơ thể.

Ăn quá nhiều muối và trong một thời gian dài sẽ làm tăng huyết áp và gây nguy hiểm cho tim. Nếu huyết áp quá cao có thể dẫn tới cảm giác mệt mỏi. Và nếu thường xuyên như vậy thì cơ thể sẽ không đủ sức chống chọi với stress.

Bỏ thuốc lá

Chất nicotin trong thuốc lá sẽ khiến nồng độ serotonin trong não tăng nhẹ. Khi tình trạng này kéo dài sẽ gây ra stress. Hơn thế, nó còn có thể dẫn tới ung thư, mất ngủ, rối loạn cương dương, mụn, bệnh tim, nếp nhăn, ung thư phổi...

Khói thuốc gây hại cho từng tế bào trong cơ thể bởi nó cướp mất dưỡng khí từ đó làm phản ứng với stress trở nên chậm chạp.

Bố trí công việc

Dành thời gian, đặc biệt là buổi sáng để suy ngẫm và tập thể dục sẽ làm giảm stress.

Sắp xếp công việc hợp lý để có thời gian nghỉ ngơi giữa giờ.

Không nên làm việc căng thẳng quá sức nếu muốn có một ngày làm việc thoải mái.

Tóm lại, nếu tinh thần bạn không căng thẳng thì hãy cố tập trung hơn vào công việc hằng ngày của mình và làm chúng tốt hơn.

Một cách mà người Nhật Bản thường áp dụng là trau dồi tinh thần và giá trị cảm xúc để có được tinh thần thoải mái, yêu đời.

“Những người thành công là những người có nhiều phương án để giải tỏa stress. Nếu cứ khư khư một cách thì có thể bạn sẽ gặp rắc rối nếu nó không còn hiệu quả nữa”.
ThS. Phạm Trần Linh (Viện Tim mạch Quốc gia)

Kỳ II: Quả tim bị tổn thương khi bị stress


Căng thẳng tâm lý thúc đẩy quá trình vữa xơ động mạch

Căng thẳng tâm lý được cho là một yếu tố gây bệnh vữa xơ động mạch quan trọng. Những người hiểu biết về stress, có sức khỏe và tâm lý vững vàng sẽ dễ dàng vượt qua được những tác động của stress và vui tươi trong cuộc sống. Ngược lại, những người có cơ thể ốm yếu, suy sụp, không vượt qua và thích ứng nổi thì dễ phát sinh bệnh tật và có thể bị ảnh hưởng lớn bởi stress, dẫn đến đột tử khi gặp những cú sốc quá lớn trong cuộc đời.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1998, sức khỏe của những người có công ăn việc làm thì tốt hơn những người thất nghiệp. Nhưng sự tổ chức công việc của xã hội, kiểu quản lý và những mối quan hệ xã hội tại nơi làm việc đều ảnh hưởng đến sức khỏe. Kiểm soát công việc kém có liên quan trực tiếp, rõ ràng với đau thắt lưng, nghỉ ốm và bệnh tim mạch. Kiểm soát tốt công việc làm giảm 2,3 lần nguy cơ bị các bệnh tim mạch.

Stress làm tăng tần số co bóp cơ tim dễ gây đột qụy.

Bên cạnh 3 yếu tố nguy cơ chủ yếu gây vữa xơ động mạch là tăng cholesterol máu, tăng huyết áp và hút thuốc lá, căng thẳng tâm lý cũng được xác định là một yếu tố nguy cơ quan trọng. Căng thẳng về tâm lý gây tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm và do vậy gây ảnh hưởng xấu đến thành mạch, làm rối loạn tuần hoàn và tăng nguy cơ gây tổn thương các tế bào nội mạc, làm tăng tính thấm của tế bào nội mạc và do vậy làm tăng nguy cơ lắng đọng LDL-C gây hình thành và phát triển vữa xơ động mạch.

Có thể đột tử vì stress

Đột tử là nguyên nhân gây tử vong phổ biến của các bệnh nhân bị vữa xơ động mạch, đặc biệt là vữa xơ động mạch vành. Do vậy tác động tích cực lên quá trình vữa xơ động mạch sẽ làm giảm nguy cơ đột tử. Có giả thuyết cho rằng khi bị căng thẳng về tâm lý cấp tính có thể gây rung thất và đột tử, do kích hoạt hệ thống bảo vệ dẫn đến làm giảm đột ngột trương lực phó giao cảm. Thông qua cơ chế thần kinh phó giao cảm trung ương làm mất sự ổn định về điện học của tim. Trong khi đồng thời làm tăng trương lực thần kinh giao cảm ở tim dẫn đến làm tăng tần số tim, tăng co bóp cơ tim, tăng huyết áp tâm thu và gây thiếu máu cơ tim ở các bệnh nhân có vữa xơ động mạch vành, làm tăng nguy cơ bị rung thất và đột tử.

Có thể chết nếu stress diễn ra quá dài

Khái niệm stress cơ thể được dùng để chỉ các hiện tượng mất sức hoặc kiệt quệ về sức lực sau một thời gian lao động nặng nhọc kéo dài, hay cơ thể bị nhiễm lạnh, say nắng, say nóng, hay bị nhiễm khuẩn nặng, bị mất máu nhiều. Stress tâm lý xảy ra sau những cơn sợ hãi, căng thẳng, lo âu hoặc những niềm vui, phấn chấn quá mức chịu đựng của cơ thể...
Rung thất dễ dẫn đến đột qụy.

Quan niệm về stress liên quan đến sức khỏe bắt nguồn từ các nhà sinh học. Năm 1927, Cannon là nhà nghiên cứu đầu tiên mô tả khái quát một phản ứng đối với sự đe dọa mà ông gọi là phản ứng "chống lại hoặc chạy trốn" (fight or flight). Ông cho rằng, khi một sinh vật đương đầu với một sự đe dọa cho sự sống của mình thì các biến đổi sinh lý sẽ xảy ra theo một mô hình đã được cài đặt trước. Tim đập nhanh, tăng huyết áp, tăng nhịp thở. Máu được phân bố đến các cơ lớn và các quá trình tiêu hoá bị ngừng trệ. Những thay đổi này nhằm chuẩn bị cho cơ thể sinh vật đó thực hiện được những hành động mạnh mẽ nhằm đáp ứng với sự đe doạ: hoặc chống trả hoặc chạy trốn. Sự thay đổi ấy là một khả năng được cài đặt sẵn bên trong cơ thể, tạo ra cơ may sống còn dưới những điều kiện bị đe dọa. Tất cả chúng ta đều đã từng trải qua sự kích hoạt này. Ngay khi thoát khỏi một tai nạn cận kề, bạn thấy tim mình đập thình thịch, cảm giác nôn nao và lòng bàn tay ướt mồ hôi.

Năm 1956, Selye gọi các đáp ứng này là Hội chứng thích nghi tổng quát, được chia làm ba giai đoạn: báo động, thích nghi và kiệt quệ. Trong giai đoạn báo động, có sự tăng tiết liên tục các hormon của tuyến thượng thận, mà điều này được cho là để bảo vệ cơ thể sinh vật chống lại các kích thích có hại. Nếu các kích này vẫn không giảm bớt, những hormon tuyến thượng thận sẽ bắt đầu gây ra những tác hại cho hệ tuần hoàn, hệ tiêu hoá và hệ miễn dịch. Nếu các yếu tố gây stress tiếp tục kéo dài đủ lâu, sinh vật sẽ bị chết vì tiềm năng thích ứng của nó sẽ bị kiệt quệ.

PGS.TS. Nguyễn Quang Tuấn - skđs

KỲ I: Cơ thể chúng ta đáp ứng với stress như thế nào?



Gần đây stress (căng thẳng tâm lý) được đề cập đến rất nhiều trong lĩnh vực sức khỏe nhưng người ta nói nhiều đến tác hại chung chung và đưa những lời khuyên cũng rất chung chung, kiểu như: phải lạc quan trước điều buồn đau, phải ăn uống đầy đủ và tập luyện thể thao... Đây là những điều cần thiết cho sức khỏe song không dễ dàng thực hiện với người stress. Tuy nhiên đọc xong bài viết này bạn biết sẽ làm gì ngay từ hôm nay để có thể vượt qua những cú sốc, nếu có một ngày chúng xảy ra trong cuộc đời bạn.

Nguyên nhân gây ra hiện tượng stress rất khác nhau song phản ứng của cơ thể đối với chúng lại giống nhau. Vì thế cần có được những hiểu biết cần thiết về mỗi giai đoạn để có cách đối phó với stress tích cực và thành công.

Giai đoạn báo động

Các hoạt động tâm lý được tăng cường, đặc biệt là quá trình tập trung chú ý, ghi nhớ và tư duy. Các chức năng sinh lý của cơ thể, đặc biệt là hệ thần kinh giao cảm tăng cường hoạt động, làm tăng huyết áp, nhịp tim, nhịp thở và trương lực cơ bắp... khi cá thể tiếp xúc với các yếu tố gây stress. Giai đoạn này xảy ra nhanh từ vài phút đến vài giờ. Bệnh nhân có thể chết trong giai đoạn này nếu yếu tố gây stress quá mạnh, quá phức tạp. Nếu vượt qua được, các phản ứng ban đầu chuyển sang giai đoạn thích nghi.

Giai đoạn thích nghi

Đây là giai đoạn sức đề kháng của cơ thể tăng lên, con người có thể làm chủ tình huống stress. Nếu khả năng thích ứng cao, các chức năng tâm sinh lý của cơ thể được phục hồi. Ngược lại, quá trình phục hồi sẽ không xảy ra và cơ thể chuyển sang giai đoạn kiệt quệ.

Giai đoạn kiệt quệ

Phản ứng với stress trở thành bệnh lý khi tình huống tress bất ngờ, dữ dội vượt quá khả năng thích nghi của cơ thể. Trong giai đoạn này các biến đổi tâm sinh lý tập trung ở giai đoạn báo động xuất hiện trở lại.

Về lâm sàng, phản ứng với stress cấp tính làm người bệnh hưng phấn quá mức cả về tâm lý lẫn cơ thể với các biểu hiện: tăng trương lực cơ làm cho nét mặt căng thẳng, cử chỉ cứng nhắc, có cảm giác đau bên trong cơ thể; rối loạn thần kinh thực vật như nhịp tim nhanh, có cơn đau vùng trước tim, huyết áp tăng, khó thở, ngất xỉu, vã mồ hôi, nhức đầu, đau nhiều nơi, nhất là các cơ bắp. Bệnh nhân tăng cảm giác, nhất là thính giác, vì vậy tiếng động bình thường cũng trở nên khó chịu, dễ nổi cáu, bất an, kích động, rối loạn hành vi...

Mỗi người có một cách đáp ứng khác nhau

Sự đáp ứng sinh lý này tùy thuộc vào sự nhận biết của đương sự về các kích thích có hại và việc người đó có diễn giải các kích thích này là có tính đe doạ hoặc có hại cho họ hay không, cũng như phụ thuộc vào khả năng tiên đoán và kiểm soát các sự kiện có hại.

Tiên đoán được một sự kiện có hại xảy ra vào lúc nào thì tốt hơn là không có thông tin gì về sự kiện này. Một sự kiện đe dọa sẽ ít gây ra những hậu quả tai hại nếu chúng ta dự đoán được khi nào nó sẽ xảy ra, nếu chúng ta có thể làm được một việc gì đó trước sự kiện ấy và nếu chúng ta nhận được những phản hồi về hiệu quả của hành động ấy. Tầm quan trọng của khả năng tiên đoán và kiểm soát cũng được thấy trong các đáp ứng của con người đối với những tác nhân gây stress.

Sự nhận thức về khả năng kiểm soát có ảnh hưởng lên sự tác động của stress

Các sự kiện cũng không có tính gây stress như nhau ở tất cả mọi người. Mức độ stress phụ thuộc vào ý nghĩa của sự kiện và những tiềm năng sẵn có của mỗi người cũng như những kỹ năng và tiềm năng sẵn có của mỗi người trong việc ứng phó với sự kiện.

Khi một sự kiện được nhận định là lành tính, những cảm xúc tích cực như vui vẻ, yêu thương, hạnh phúc, phấn khởi, thanh thản sẽ diễn ra nơi đương sự. Nếu sự kiện được đánh giá là tiêu cực, những cảm xúc như lo âu, sợ hãi, tội lỗi, thất vọng hoặc trầm uất sẽ xuất hiện. Những sự kiện, stress tích cực có tính tăng cường sức khoẻ. Trong khi cả việc nhận định sự kiện là tiêu cực cũng như việc xem xét các khả năng ứng phó là không đầy đủ và không hiệu quả đều là những yếu tố cần có để làm stress xuất hiện.

Chúng ta càng đầu tư nhiều vào một mục đích hoặc một hoạt động nào đó, thì stress sẽ càng nặng nề khi mục đích đó, hoạt động đó bị đe doạ. Ngược lại, ý thức về khả năng kiểm soát sự kiện sẽ làm giảm stress và thiếu điều này sẽ làm tăng stress. Sự nhận thức về khả năng kiểm soát có ảnh hưởng lên sự tác động của stress đối với mỗi người. Stress càng gia tăng khi người đó cảm thấy hành vi và kết quả không liên quan với nhau.

Thời gian và tần số xuất hiện các tác nhân gây stress cũng được xem là có vai trò trung tâm trong việc xác định những hậu quả tiêu cực của stress đối với sức khoẻ. Yếu tố nhân cách đóng vai trò quan trọng trong cách ứng phó với stress của từng cá nhân. Khi đối đầu với một sự kiện gây stress, con người sẽ cố gắng "hoá giải" sự nguy hại và phòng tránh sự đe doạ bằng những hành động thuộc về nhận thức và hành vi nhằm chế ngự những đòi hỏi của sự kiện được nhận định là có tính gây stress. Mỗi người sẽ lựa chọn hoặc thích nghi để phù hợp tốt hơn với môi trường hoặc thay đổi môi trường để thích hợp với nhu cầu bản thân của mình. Một kiểu cách đáp ứng cũng phải có sẵn trong "vốn sống" của mỗi người, đó chính là bản lĩnh được sử dụng để ứng phó với các tác nhân gây stress.

PGS.TS. Nguyễn Quang Tuấn - skđs