Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh huyết khối. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh huyết khối. Hiển thị tất cả bài đăng

Bệnh mạch máu ngoại biên


Huyết khối tĩnh mạch

Huyết khối tĩnh mạch là bệnh thường gặp và nguy hiểm nhất của hệ thống tĩnh mạch. Bệnh ước tính gây ảnh hưởng tới 5 – 6 triệu người Mỹ mỗi năm. Nguy cơ lớn nhất của huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới là cục máu đông có thể tách ra, trôi theo dòng máu lên phổi gây nghẽn mạch phổi, có thể đe doạ tính mạng. Huyết khối tĩnh mạch nông ít có nguy cơ gây nghẽn mạch, thường chỉ gây viêm và đau khu trú, đáp ứng tốt với asprin và chườm ấm.

Nguyên nhân gây bệnh

Tóm lại, tổn thương nội mạc tĩnh mạch tạo điều kiện cho các tiểu cầu ngưng tập và khởi động quá trình đông máu nhất là khi dòng máu chảy chậm hoặc có tình trạng tăng đông kết hợp.

Biểu hiện của bệnh

Có nhiều yếu tố nguy cơ gây huyết khối tĩnh mạch, đó là: tình trạng chậm lưu chuyển dòng máu trong tĩnh mạch, đặc biệt ở bàn chân và cẳng chân; tổn thương nội mạc mạch máu do nhiễm khuẩn, chấn thương hoặc do tiêm chích; viêm tĩnh mạch, thường ở chi dưới, cũng là yếu tố thúc đẩy hình thành huyết khối. Yếu tố nguy cơ tiếp theo là tình trạng tăng đông máu.
Huyết khối tĩnh mạch sâu có thể không gây triệu chứng. Nhiều khi triệu chứng đầu tiên của sự tồn tại huyết khối xuất hiện khi cục máu đông di chuyển lên phổi gây nghẽn mạch phổi (người bị bệnh ho ra máu kèm theo khó thở, đau ngực). Huyết khối cũng có thể gây sưng nề và đau một chân.

Xét nghiệm được coi là “tiêu chuẩn vàng” để chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch sâu là chụp tĩnh mạch cản quang. Một chất cản quang sẽ được tiêm vào tĩnh mạch ở chân, người bệnh sau đó sẽ được xoay ở nhiều tư thế để tạo thuận lợi cho máu tĩnh mạch trở về tim, nhờ vậy mà hiện hình được hệ thống tĩnh mạch trên phim Xquang. Tuy nhiên, xét nghiệm này khá phức tạp và vẫn còn một tỉ lệ nhất định kết quả không rõ ràng, hơn nữa nó kèm theo nguy cơ của tiêm chích và dị ứng thuốc cản quang. Nhiều trường hợp huyết khối tĩnh mạch được chẩn đoán mà không cần chụp mạch.

Trong số các xét nghiệm thay thế, siêu âm mạch máu là một thăm dò hoàn toàn không chảy máu nhưng khá đắt tiền, ứng dụng nguyên lý sóng âm để hiện hình tĩnh mạch và ứng dụng hiệu ứng Doppler để tính vận tốc dòng chảy trong mạch. Một số xét nghiệm khác bao gồm ghi biến thiên thể tích có trở kháng (impedence plethysmography) và xạ hình tiểu cầu.

Và điều trị

Nguyên tắc điều trị là dùng ngay các thuốc chống đông máu như wafarin (coumadin) hay heparin. Vai trò của thuốc tiêu sợi huyết trong điều trị huyết khối tĩnh mạch đang được tranh luận nhưng hứa hẹn nhiều triển vọng trong tương lai. Thuốc chống đông với liều thấp hơn sẽ được tiếp tục trong nhiều tháng. Trong khi đó, thời gian đông máu cần được kiểm tra định kỳ (mỗi 4 tuần một khi đã ổn định) nhằm dự phòng biến chứng chảy máu.

Với những trường hợp không thể sử dụng thuốc chống đông (có ổ loét dạ dày đang chảy máu hay vừa mới phẫu thuật…), người ta tiến hành đặt một thiết bị lọc hình dù vào tĩnh mạch chủ dưới qua đường ống thông, thiết bị này sẽ ngăn cản những cục máu đông lớn bắn lên phổi gây nghẽn mạch phổi.

Bên cạnh dùng thuốc, người bệnh cần được nghỉ ngơi tại giường trong giai đoạn cấp của bệnh (3 - 5 ngày đầu) với chân gác cao để tránh sưng nề, tạo thuận lợi cho tuần hoàn tĩnh mạch. Chườm ấm và các thuốc chống viêm không steroid như aspirin hay indomethacin giúp cải thiện triệu chứng, rút ngắn thời gian hồi phục. Các thuốc này cần thận trọng khi phối hợp với thuốc chống đông. Khi dấu hiệu sưng nề đã giảm bớt, người bệnh có thể sử dụng băng chun quấn quanh cẳng chân và điều quan trọng nhất: tránh đứng bất động trong thời gian dài.

Biến chứng lâu dài của huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới là tình trạng suy tĩnh mạch mạn tính, đặc trưng bằng dấu hiệu phù và biến đổi màu sắc của một hoặc hai chân. Điều trị chống phù nề bằng quấn băng chun kéo dài.
Hình ảnh huyết khối tĩnh mạch.

Viêm tĩnh mạch

Vị trí thường gặp nhất của viêm tĩnh mạch là các tĩnh mạch nông ở chân, thường do nguyên nhân chấn thương hoặc nhiễm khuẩn gây ra. Tĩnh mạch bị viêm trở nên đỏ tấy, sưng nề và nổi lên như một sợi dây thừng ở đùi hoặc cẳng chân. Triệu chứng đau trong viêm tĩnh mạch thường được điều trị bằng chườm ấm và thuốc giảm đau, chống viêm không steroid như aspirin, indomethacin. Triệu chứng ngứa thường được cải thiện với mỡ bôi chứa oxyd kẽm.

Nguy cơ lớn nhất của viêm tĩnh mạch là huyết khối và tắc mạch đặc biệt khi xảy ra ở các tĩnh mạch sâu.

Giãn tĩnh mạch

Bình thường máu tĩnh mạch chảy về tim với một vận tốc hằng định, được trợ giúp bởi sự co cơ và các van tĩnh mạch. Van tĩnh mạch hoạt động như cánh cổng một chiều ngăn không cho dòng máu chảy ngược trở lại dưới tác động của trọng lực. Tuy nhiên, khi dòng máu lưu chuyển quá chậm hoặc van bị tổn thương hay viêm nhiễm, các tĩnh mạch đặc biệt là tĩnh mạch nông ở chân sẽ giãn căng ra và xoắn lại thành từng búi. Những người đứng lâu có nguy cơ cao bị giãn tĩnh mạch. Phụ nữ có thể bị giãn tĩnh mạch khi mang thai do sự đè ép của tử cung lên các tĩnh mạch trong ổ bụng. Măt khác, biến đổi về hormon khi mang thai cũng làm các tĩnh mạch bị giãn và suy yếu.

Giãn tĩnh mạch đôi khi gây đau và dị cảm ở da nhưng thường không có triệu chứng. Tuy nhiên các búi giãn được cho là gây mất thẩm mĩ. Giãn tĩnh mạch có thể được xử trí ngoại khoa thông qua thủ thuật Stripping (thắt và bóc tách tĩnh mạch) hoặc bằng phương pháp tiêm chất gây xơ. Người bị giãn tĩnh mạch cần duy trì cân nặng hợp lý, tránh béo phì nhằm giảm áp lực tĩnh mạch và tránh đứng lâu. Băng ép có tác dụng nhưng không nên quá chặt gây cản trở tuần hoàn. Nhìn chung, giãn tĩnh mạch không ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống ngoại trừ khía cạnh thẩm mĩ.

Nghẽn mạch phổi

Huyết khối tĩnh mạch có vị trí càng gần quả tim thì nguy cơ gây nghẽn mạch phổi càng lớn. Nghẽn mạch phổi có thể gây chết người và là một trong những nguyên nhân đột tử khó xác định nhất. Một số trường hợp nghẽn mạch phổi nhẹ không gây triệu chứng, tuy nhiên các biểu hiện thường gặp là: đau ngực tăng lên khi hít vào, tiếng cọ màng phổi, khó thở và ho ra máu.

Bệnh động mạch ngoại biên

Quá trình xơ mỡ xảy ra ở động mạch ngoại biên cũng tương tự như ở động mạch vành: các hạt mỡ xâm nhập gây thương tổn thành mạch và hình thành mảng xơ mỡ. Lòng mạch sẽ bị hẹp lại, đôi khi tắc hoàn toàn do cục máu đông hình thành trên mảng xơ mỡ gây nên tình trạng thiếu máu cục bộ. Các yếu tố nguy cơ của hẹp, tắc động mạch ngoại biên cũng tương tự như đối với động mạch vành, bao gồm: tăng cholesterol máu, đái tháo đường, thuốc lá và tăng huyết áp. Trong đó, thuốc lá là yếu tố nguy cơ đặc biệt quan trọng của bệnh động mạch ngoại biên.

Triệu chứng kinh điển của bệnh mạch ngoại biên là chứng đau cách hồi ở chân, đau tăng lên khi đi nhanh hoặc leo dốc và giảm hoặc hết khi nghỉ ngơi. Nguyên nhân của đau là do thiếu máu cục bộ các bắp cơ ở chân khi vận động. Đau cách hồi ở chân cũng có thể xuất hiện khi gặp lạnh hay khi sử dụng một số thuốc như chẹn bêta giao cảm (thuốc gây co thắt mạch làm nặng thêm tình trạng thiếu máu ngoại biên).

Khi động mạch bị hẹp nhiều hoặc tắc hoàn toàn, đau vùng ngoại biên xuất hiện liên tục ngay cả khi nghỉ ngơi. Lúc này các ngón chân trở nên nhợt, biến đổi màu sắc hoặc tím (đặc biệt khi chân để thõng). Bàn chân lạnh, mạch mu chân yếu hoặc không bắt được. Nặng hơn, vùng chi thiếu máu bắt đầu bị loét. Nặng hơn nữa, hoại tử xuất hiện buộc phải cắt cụt ngón chân hoặc bàn chân. Tuy nhiên, những trường hợp nặng như vậy hiếm gặp.

Chẩn đoán và điều trị

Nhiều bệnh lý về cơ, xương, khớp và bệnh lý ở vùng thắt lưng có thể gây triệu chứng đau chân khi vận động. Tuy nhiên, trong bệnh động mạch ngoại biên, sự hiện hữu của các triệu chứng kinh điển: đau vùng đùi hoặc cẳng chân khi vận động và giảm hoặc hết khi nghỉ; yếu hay mất mạch ở chân là đủ để chẩn đoán trong phần lớn các trường hợp.

Hiện tượng rụng lông ở chân cũng gợi ý tình trạng thiếu máu mạn tính. Đo huyết áp ở kheo hoặc vị trí khác có thể giúp xác định tình trạng tưới máu ở chân. Chẩn đoán có thể dựa vào các thăm dò như siêu âm Doppler (cho phép thấy được dòng chảy trong mạch máu), chụp cộng hưởng từ (giúp xác định vị trí động mạch bị tắc) hoặc quan trọng nhất - chụp động mạch cản quang. Các thăm dò này khá đắt tiền và không nhất thiết phải tiến hành cho mọi đối tượng. Chụp mạch thường chỉ được thực hiện trong những trường hợp nặng, giúp cho việc xác định phương pháp điều trị tối ưu.

Người ta ước tính, khoảng 80 – 90% trường hợp bệnh động mạch ngoại biên ổn định hoặc tiến triển tốt theo thời gian; 10 – 15% cần được can thiệp mạch và ít hơn 3 – 5% đòi hỏi phải cắt cụt chi. Điều trị cần bắt đầu bằng các phương pháp bảo tồn trước khi cân nhắc đến các thủ thuật xâm nhập.

ThS.BS. Nguyễn Tuấn Hải

Một số thuốc chống đông máu


Cục máu đông là kết quả của một loạt các hiện tượng xảy ra trong quá trình cầm máu với 3 giai đoạn chính là: co mạch, kết tập tiểu cầu, đông máu. Cục máu đông được hình thành trong cơ thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra các cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, đột quỵ, thuyên tắc khối tĩnh mạch... và đều để lại hậu quả nặng nề cho bệnh nhân, thậm chí có thể gây tử vong. Do vậy, việc sử dụng thuốc chống đông máu trong dự phòng và điều trị các bệnh do nguyên nhân huyết khối đóng vai trò rất quan trọng.

Có 3 nhóm thuốc chống đông máu chính được sử dụng trên lâm sàng với bản chất và cơ chế tác dụng khác nhau.

Heparin

Trong thực tế điều trị hiện nay có 2 loại heparin: heparin thường (trọng lượng phân tử trung bình 12.000 - 15.000) và heparin trọng lượng phân tử thấp (trọng lượng trung bình 5.000).

Đường dùng: Heparin không hấp thu qua đường uống và bị phân hủy ở đường tiêu hóa. Do vậy các heparin phải tiêm dưới da, tiêm tĩnh mạch, không tiêm bắp.

Cơ chế và tác dụng chống đông máu: Heparin có tác dụng chống đông máu nhanh cả bên trong và ngoài cơ thể. Tác dụng của heparin tùy thuộc vào chiều dài chuỗi polysaccharid, tức là phụ thuộc vào trọng lượng phân tử heparin.

Ứng dụng lâm sàng: Heparin được dùng dự phòng và điều trị các bệnh do huyết khối: dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu; điều trị thuyên tắc do huyết khối; dự phòng thành lập cục máu đông trong chạy thận nhân tạo; kết hợp trong điều trị hội chứng mạch vành cấp.

Heparin trọng lượng phân tử thấp: Mặc dù heparin thường là một thuốc đã được sử dụng từ lâu và có ưu điểm là giá thành rẻ. Nhưng hiện nay, nó đã dần được thay thế bằng các heparin trọng lượng phân tử thấp (enoxaparin, nadroparin) trong một số trường hợp do những ưu điểm nổi bật của chúng. Enoxaparin tiện dụng hơn do có thể tiêm dưới da, trong khi heparin thường phải tiêm tĩnh mạch; thời gian bán thải của enoxaparin dài hơn heparin thường 2 - 3 lần nên chỉ cần dùng 1 lần/ngày. Enoxaparin tác dụng chọn lọc lên yếu tố xa nên tác dụng ổn định, có thể dùng liều cố định theo cân nặng; còn heparin thường phải điều chỉnh liều theo tác dụng chống đông. Hơn nữa, hiệu quả của enoxaparin bằng hoặc hơn heparin thường, mà tác dụng phụ như chảy máu hay giảm tiểu cầu cũng ít gặp hơn.

Thuốc kháng vitamin K

Nguồn gốc: Là chất chống đông máu tổng hợp, dẫn xuất của coumarin (Coumadin, Sintrom) và indandion (Pindione, Prerviscan).

Đường dùng: Là thuốc chống đông máu đường uống, thuốc hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa nhưng tác động chậm, chỉ có tác động sau khi uống 48 - 120 giờ.

Cơ chế và tác dụng chống đông máu: Do thuốc có cấu trúc gần giống vitamin K nên cản trở việc khử vitamin K - epoxid thành vitamin K trong tế bào gan, là một chất cần cho việc tổng hợp các yếu tố đông máu.

Ứng dụng lâm sàng: Thuốc kháng vitamin K được dùng để điều trị tiếp theo heparin khi cần điều trị kháng đông kéo dài.

Thuốc chống kết tập tiểu cầu

Đường dùng: Nhóm này gồm các thuốc dùng theo đường uống.

Cơ chế tác dụng: Thuốc ngăn ngừa sự hình thành nút chặn tiểu cầu nên có tác dụng chống đông máu từ giai đoạn cầm máu sơ cấp.

Có 5 nhóm thuốc chống kết tập tiểu cầu chính được sử dụng trên lâm sàng hiện nay:

Aspirin là thuốc kinh điển có tác dụng giảm đau, hạ sốt, chống viêm nhưng nhiều năm gần đây, nó được dùng như một thuốc chống kết tập tiểu cầu với liều thấp 100 mg/ngày.

Clopidogrel (Plavix) là dẫn xuất thienopyridin đã được chứng minh trên số lượng lớn bệnh nhân có hiệu quả và độ an toàn cao trong phòng ngừa các biến cố huyết khối ở động mạch.

Ticlopidin (Ticlid) có cấu trúc hóa học tương tự như clopidogrel, do đó có cơ chế tác dụng giống clopidogrel. Về hiệu quả điều trị, 2 thuốc này là tương tự nhau, nhưng ticlopidin kém an toàn hơn vì tỷ lệ bệnh nhân gặp tác dụng không mong muốn là giảm bạch cầu hạt cao 3,2% (trong khi clopidogrel chỉ là 0,15%, aspirin là 0,21%).

Dipyridamol (Agrenox, Persantin) có cơ chế tác dụng chưa rõ ràng hay được sử dụng phối hợp với aspirin.

Và cuối cùng là Trifusal (Disgren), một chất thuộc nhóm salicylat có cấu trúc gần giống aspirin. Thuốc có tác dụng chọn lọc trên cyclooxygenase của tiểu cầu, do đó ức chế sự tạo thành thromboxan A2, là chất gây kết tập tiểu cầu mạnh nhất. Có nghiên cứu chỉ ra rằng thuốc có hiệu quả tương đương aspirin trong phòng ngừa các biến cố do huyết khối động mạch và tỷ lệ bệnh nhân gặp tác dụng phụ chảy máu nặng thấp hơn.

Ứng dụng lâm sàng: Các thuốc chống kết tập tiểu cầu được dùng để phòng ngừa dài hạn các biến cố do huyết khối động mạch ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực không ổn định, tai biến mạch máu não. Thuốc cũng được sử dụng với những bệnh nhân bị hội chứng mạch vành cấp.

Việc sử dụng các thuốc chống đông máu trong điều trị cần phải chú ý tới các tác dụng không mong muốn xảy ra với bệnh nhân mà phổ biến nhất là gây chảy máu. Ngoài ra, việc sử dụng thuốc chống đông máu cũng phải bảo đảm cân đối giữa hiệu quả điều trị và khả năng kinh tế của người bệnh.

DS. Ngô Trang - skđs

Né cục máu đông



Muốn tránh nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não... bạn có thể áp dụng một số biện pháp để cho dòng máu đừng quá đậm đặc.

Mặc dù ngành y hãnh diện trình làng nhiều bước tiến nhảy vọt trong thập niên vừa qua về kỹ thuật chẩn đoán cũng như phương tiện điều trị, bệnh tim mạch vẫn tiếp tục đứng đầu về tỉ lệ tử vong! Thống kê ở nước nào cũng thế, thậm chí ở các quốc gia có nền y tế tiên tiến càng rõ nét hơn nữa, cho thấy:

- Số người đành chịu kiếp phế nhân trên chiếc xe lăn chỉ tăng chứ không giảm, cho dù thuốc điều trị huyết áp cao không hề thiếu.

- Số nạn nhân của tình trạng nhồi máu cơ tim càng lúc càng trẻ, với số phụ nữ ngang ngửa nam giới, với tỉ lệ tử vong cao hơn trước.

- Số đối tượng mất chất lượng cuộc sống vì hậu quả của viêm tĩnh mạch ngày càng nhiều.

Máu đông làm tắc mạch

Tình trạng vừa nêu chắc chắn không kém phần nghiêm trọng ở nước mình, vì thành thật mà nói hiện vẫn chưa có phương án hữu hiệu và bài bản để:

- Phòng chống bệnh huyết áp cao cho người vừa bước vào tuổi trung niên.

- Ngăn ngừa bệnh lý mạch vành cho đối tượng phải sống chung với stress.

- Phổ biến biện pháp giảm thiểu nguy cơ do bệnh tĩnh mạch ở người phải ngồi lâu, phải đứng lâu nhiều giờ vì công ăn việc làm.

Tất cả hậu quả vừa kể lại có chung một điểm tương đồng trong cơ chế bệnh lý. Tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, hoại tử đầu chi... không thể xảy ra nếu không có cục máu đông làm tắc mạch.

Phải nói ngay cho công bằng, tiến trình đông máu là phản ứng tự vệ của cơ thể trước tình huống xuất huyết. Trong bệnh tim mạch chỉ kẹt ở điểm cơ thể bỗng phản ứng sai lệch khiến máu đông bên trong mạch máu, chẳng hạn do:

- Phản ứng co thắt mạch máu đột ngột ảnh hưởng của nội tiết tố phát sinh từ stress.

- Tình trạng tăng chất mỡ trong máu khiến dòng máu trở nên đậm đặc.

- Thương tổn trầy xước trên mặt trong thành mạch khiến tiểu cầu có nơi tụ tập trong lúc lướt qua.

Tình trạng trên tất nhiên càng nhanh nếu gia chủ vừa béo phì lại tiếp tay đánh bồi với thuốc lá, rượu bia, thói quen ít vận động, nếp sống thức nhiều ngủ ít, lạm dụng dược phẩm... Không lạ gì nếu bệnh tim mạch tiếp tục là mối đe dọa cho sức khỏe cộng đồng khi thuốc lá, rượu bia ở nước ta dễ mua hơn mua báo!

Nói không với thuốc lá

Phân tích nêu trên đồng thời cho thấy một lối thoát cuối đường hầm. Đó là tìm cách giữ cho dòng máu đừng quá đậm đặc để máu dễ thoát qua các chỗ hiểm hóc. Muốn phòng ngừa tai biến mạch máu não cũng như nhồi máu cơ tim, tuy không đơn giản nhưng vẫn khả thi nếu các đối tượng thuộc nhóm “miếng mồi ngon” đừng quên một số biện pháp như:

- Tầm soát định kỳ bệnh tim mạch.

- Giảm cân cho bằng được nếu béo phì.

- Cương quyết nói không với thuốc lá.

- Tập dưỡng sinh, nhất là thiền định, nếu phải sống chung với stress.

- Vận động thể dục thể thao nếu phải ngồi yên vì công việc.

- Chú trọng các sinh - khoáng tố cần thiết để bảo vệ thành mạch như tiền sinh tố A, sinh tố E, khoáng tố kẽm, selen, crôm trong khẩu phần thường ngày.

- Phối hợp dược thảo và gia vị có công năng chống co thắt vi mạch, hạ mỡ trong máu và nhất là giữ cho máu loãng trong chế độ dinh dưỡng.

Chậm một chút

Giọt máu đào tất nhiên không nên loãng như nước lã, nhưng nếu để phòng bệnh thì càng loãng càng tốt. Để tránh cục máu đông bất ngờ đóng chốt trong não, trên thành tim thì giải pháp nói chung cũng từa tựa như gặp lúc kẹt xe.

Chen lấn khi đã kẹt thường chỉ làm nghẽn thêm. Trái lại, nên chầm chậm một chút nhưng tôn trọng trật tự trước sau. Khéo hơn nữa là tìm cách giải tỏa lượng lưu thông trước khi mọi người ùa nhau vào nơi đang đào ụ!

Muốn phòng bệnh tim mạch mà chỉ trông mong vào viên thuốc khi nước đã đến chân, chỉ dựa vào thầy thuốc chuyên khoa thì sớm muộn chỉ còn nước cầu xin lúc lên xe cấp cứu đừng vào giờ cao điểm. Có tậu thêm máy siêu âm đời mới, có xây thêm chục phòng mổ thông tim vẫn chỉ là giải pháp chữa cháy cầm canh.

Ngày nào còn thiếu tri thức phòng bệnh của người chưa bệnh, ngày đó bệnh viện tim chắc chắn còn quá tải. Đáng tiếc, thậm chí đáng buồn, vì giải pháp rất gần trong tầm tay.

BS LƯƠNG LỄ HOÀNG - TTO

Điều trị và phòng ngừa huyết khối do xơ vữa động mạch hiệu quả

Nhồi máu cơ tim và đột quỵ (hay còn gọi là tai biến mạch máu não) là hai biến chứng nguy hiểm và để lại hậu quả nặng nề, thậm chí tử vong cho con người.

Hàng năm trên thế giới uớc tính có khoảng 7 triệu người chết do nhồi máu cơ tim và 5 triệu người chết vì đột quỵ (1). Cả hai biến chứng này đều xuất phát từ một nguyên nhân là huyết khối do xơ vữa động mạch (gọi tắt là huyết khối xơ vữa).

Huyết khối xơ vữa gây bệnh như thế nào?

Khi huyết khối xuất hiện ở động mạch dẫn máu nuôi tim, sẽ làm tim không thể co bóp, gây loạn nhịp, thậm chí tử vong, hiện tượng này được gọi là nhồi máu cơ tim. Nhồi máu cơ tim thường xảy ra đột ngột, diễn tiến nhanh và rất nguy hiểm. Khoảng 1/4 đến 1/3 số bệnh nhân chết trước khi kịp đến bệnh viện. Trong số những người nhập viện, có 5%-10% chết do các biến chứng như suy tim, choáng tim, rối loạn nhịp tim. Và cứ 6 người bị nhồi máu cơ tim thì có 1 người sẽ bị tái phát cơn nhồi máu cơ tim, đột quỵ, tử vong do tim mạch sau 1 năm(2)
Quá trình hình thành cục huyết khối tiểu cầu.

Bên cạnh đó, nếu huyết khối xuất hiện tại động mạch có nhiệm vụ đưa máu lên nuôi não, gây ra tình trạng một phần não sẽ chết, làm liệt nửa người (nếu nhẹ) hoặc tử vong ngay lập tức nếu rơi vào trường hợp nặng và không được phát hiện, xử lý kịp thời. Hiện tượng này được gọi là đột quỵ hay tai biến mạch máu não. Đây là căn bệnh nguy hiểm chỉ sau các bệnh tim mạch và ung thư, với nguy cơ tái phát cũng rất cao. Ví dụ cứ 7 người đột quỵ sẽ có 1 người tái phát sau 1 năm nếu không biết cách điều trị, phòng ngừa (2). Đặc biệt, những người đã từng bị đột quỵ, lại có thêm nguy cơ bị nhồi máu cơ tim cao gấp 3 - 4 lần và nguy cơ bị đột quỵ tái phát cao gấp 9 lần so với người bình thường (3).

Ai có nguy cơ mắc bệnh huyết khối xơ vữa và phòng ngừa như thế nào?

Huyết khối xơ vữa xuất phát từ lối sống thụ động, thường xuyên ăn các loại thực phẩm nhiều dầu mỡ và những người trung niên (trên 40 tuổi) là nhóm đối tượng nguy cơ cao. Tuy nhiên, do cuộc sống công nghiệp hiện đại, tỷ lệ người bị huyết khối xơ vữa ngày càng trẻ hóa, bằng chứng là ngày nay có không ít người trẻ tuổi bị đột quỵ hay nhồi máu cơ tim do ít vận động, ăn uống không hợp lý, áp lực công việc, môi trường xung quanh…Bên cạnh đó, những người người béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đường và cả những người thường xuyên hút thuốc, uống rượu bia nhiều cũng đều là nhóm đối tượng nguy cơ cao bị huyết khối xơ vữa.

Vì vậy, huyết khối xơ vữa động mạch và biến chứng của bệnh (đột quỵ, nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch chân) không chỉ là nỗi lo riêng của những người lớn tuổi như trước đây. Nếu không có những biện pháp phòng ngừa bệnh, cũng như phát hiện và điều trị nhanh chóng, kịp thời thì cuộc sống của bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim hay đột quỵ có thể bị đe dọa bất cứ lúc nào.

Một chế độ sống lành mạnh, thường xuyên vận động, kết hợp với việc ăn uống hợp lý và không hút thuốc, uống rượu bia nhiều… sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ mắc huyết khối xơ vữa. Nếu không may đã mắc phải chứng bệnh nguy hiểm này, điều quan trọng nhất là phải tuân thủ nghiêm ngặt các hướng dẫn và chỉ định điều trị của Bác sĩ, từ việc thăm khám đến việc dùng thuốc như thế nào là hiệu quả nhất.

Ths.BS Hồ Huỳnh Quang Trí

Trưởng khoa Hồi sức - Viện Tim TP Hồ Chí Minh