Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh rối loạn nhịp tim. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh rối loạn nhịp tim. Hiển thị tất cả bài đăng

Ám ảnh bệnh tim khi đánh trống ngực


Nói đến trạng thái hồi hộp, chắc không ai không biết nó diễn ra làm sao: ít thì thở dồn dập, nhiều thì thấy tim đập thình thịch, thiếu điều rớt ra ngoài! Có người lâu lâu gặp phải chuyện gì ấn tượng lắm mới hồi hộp, cũng có người luôn có cảm giác hồi hộp hàng ngày. Chính từ đây nảy sinh lắm thắc mắc mà ngay cả thầy thuốc nếu không chuyên khoa tim mạch cũng khó trả lời.

Hồi hộp hay còn gọi đánh trống ngực là triệu chứng hay gặp ở rất nhiều người bị bệnh tim và cả những người không bị bệnh này. Nó không phải là một triệu chứng đặc trưng cho một nhóm bệnh tim nào, mà thực ra chỉ là một trong những cảm giác gây bất an và khiến mọi người lo âu, thấy cần phải đi khám bệnh ở một thầy thuốc chuyên khoa tim mạch.

Không phải cứ hồi hộp là bị bệnh tim

Triệu chứng hồi hộp để chẩn đoán là dấu hiệu của một bệnh về tim mạch thì cần phải kết hợp với những triệu chứng khác như hay mệt, khó thở, phù chân... Việc quá lo âu với khả năng bị bệnh tim khi có cảm giác đánh trống ngực cũng gây tăng tiết chất Epinephrine trong máu, cộng với sự gia tăng hoạt động của hệ thần kinh thực vật làm gia tăng nhịp tim và sự co bóp của cơ tim, càng làm nặng thêm cảm giác hồi hộp của bệnh nhân và có thể gây khó thở, tức nghẹn vùng ngực nữa. Cảm giác này rất hay xảy ra vào ban đêm hoặc khi bệnh nhân có việc gì phải lo lắng.

Trong các điều kiện bình thường, những người khoẻ mạnh có type thần kinh trung gian trầm tĩnh và cả một số người khác cũng không thể nghe thấy tiếng đập nhịp nhàng của trái tim. Họ chỉ cảm thấy đánh trống ngực và hồi hộp khi đang ở tình trạng căng thẳng vì hoạt động gắng sức, do xúc động hay hoạt động tình dục. Kiểu hồi hộp và đánh trống ngực này mang tính chất sinh lý bình thường mà nguyên nhân của nó là sự hoạt động quá mức của tim làm tim đập nhanh và tăng co bóp. Cảm giác này có thể xuất hiện do một số bệnh đi kèm như: sốt, thiếu máu nặng hay hội chứng cường giáp. Ngoài ra, nếu cảm giác hồi hộp đánh trống ngực xuất hiện trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải nghĩ đến bệnh tim và cần đến khám thầy thuốc chuyên khoa tim mạch để được chẩn đoán chính xác.

Điều trị triệt để không dễ

Nguyên nhân hay gặp nhất với những bệnh nhân bị bệnh tim mạch là tình trạng rối loạn nhịp tim bao gồm tình trạng ngoại tâm thu, cơn nhịp nhanh kịch phát, rối loạn thần kinh tim... Những bệnh này có thể là nguyên phát nhưng cũng có thể là hậu quả của bệnh van tim, bệnh động mạch vành hay bệnh viêm cơ tim. Việc chẩn đoán những rối loạn nhịp gây ra triệu chứng hồi hộp đánh trống ngực thật ra không khó, chỉ cần đến khám bác sĩ chuyên khoa tim mạch để nghe tiếng tim, bắt mạch và đo điện tâm đồ. Nguyên nhân gây ra tình trạng rối loạn nhịp tim cũng có thể được xác định bằng cách siêu âm tim.

Việc quá lo âu với khả năng bị bệnh tim khi có cảm giác đánh trống ngực cũng làm gia tăng nhịp tim và sự co bóp cơ tim, làm nặng thêm cảm giác hồi hộp của bệnh nhân và có thể gây khó thở, tức nghẹn vùng ngực.

Tuy nhiên cũng cần lưu ý, không phải lúc nào bệnh nhân cũng có cảm giác đánh trống ngực thường xuyên mà chỉ xảy ra vào một vài thời điểm trong ngày, nhất là vào ban đêm. Khi đó, nếu chỉ khám thông thường thì người thầy thuốc không thể phát hiện được. Chỉ đo nghiệm pháp đo điện tim 24 giờ mới cho kết quả chẩn đoán chính xác nhất. Bệnh nhân được đeo một máy điện tim nhỏ, gắn các điện cực vào vùng trước tim và sinh hoạt bình thường. Tất cả các hoạt động điện của tim sẽ được máy điện tim ghi nhận và lưu trữ trong đĩa cứng của máy. Ngày hôm sau, kết quả sẽ được truyền qua máy tính và nhờ một chương trình đặc hiệu mà những rối loạn nhịp tim sẽ được ghi nhận.

Việc điều trị chứng hồi hộp không phải dễ dàng và không thể biết trước lúc nào thì bệnh nhân rơi vào tình trạng như vậy. Việc đầu tiên là phải giải toả tình trạng lo âu quá đáng của bệnh nhân bằng liệu pháp tâm lý để cắt bớt một phần vòng xoắn bệnh lý của chứng hồi hộp. Chủ yếu là tự bệnh nhân phải biết kiềm chế cảm xúc, luyện tập yoga hay thiền để tạo sự quân bình về cảm xúc của cơ thể. Sau đó là sử dụng các loại thuốc chống loạn nhịp và thuốc ức chế tăng tiết quá đáng chất Adrenaline và Epinephrine của bệnh nhân. Tất nhiên là phải điều trị các bệnh khác gây ra tình trạng này như sốt cao, hội chứng cường giáp, thiếu máu nặng và các bệnh tim như suy tim, viêm cơ tim, thiếu máu cơ tim… Một số trường hợp phải can thiệp bằng thủ thuật cắt đốt hệ thần kinh tự chủ của tim.

PGS.TS.BS Nguyễn Hoài Nam - sgtt

Điện sinh lý trong chẩn đoán và điều trị rối loạn nhịp tim

Phương pháp thăm dò điện sinh lý có khả năng cho biết chính xác hoạt động điện sinh lý tim, biết chính xác vị trí bất thường trong hệ thống dẫn truyền của quả tim gây nên rối loạn nhịp tim. Trong kỹ thuật này, bác sĩ sẽ dùng các dây thông điện cực đặc biệt đưa vào tận trong tim. Đầu trong dây thông dò tìm vị trí tổn thương, đầu ngoài dây thông đưa các thông tin ra hệ thống máy điện sinh lý để phân tích và đánh giá.

Vai trò của phương pháp thăm dò điện sinh lý tim

Hoạt động bình thường của quả tim được điều khiển bởi hệ thần kinh tim. Khi cơ tim co bóp sẽ phát ra dòng điện sinh lý, điện sinh lý tim được ghi bằng các điện cực thăm dò, đánh giá dòng điện do cơ tim phát ra sẽ cho biết hoạt động của hệ thần kinh tim. Phương pháp này đánh giá chính xác toàn bộ hoạt động điện sinh lý của quả tim, qua đó nó cho biết vị trí, hình thái và mức độ tổn thương của hệ thần kinh tim. Khi đó bác sĩ sẽ có lựa chọn phương pháp điều trị hiệu quả nhất với bệnh rối loạn nhịp tim của bạn. Phương pháp này đặc biệt có ý nghĩa với những rối loạn nhịp tim có nguy cơ ảnh hưởng tới tính mạng và những rối loạn nhịp không được chẩn đoán bằng những phương pháp thông thường khác.

Quá trình thực hiện thăm dò điện sinh lý cơ tim diễn ra ở đâu?

Bác sĩ sẽ tiến hành làm phương pháp này trong khu can thiệp tim mạch tại phòng máy, có hai hệ thống máy chính là:

- Hệ thống máy chụp mạch số hoá: giúp bác sĩ quan sát các điện cực thăm dò trong buồng tim.

- Hệ thống máy điện sinh lý: xử lý các thông số nhận được từ buồng tim và thực hiện các kỹ thuật điều trị.

Đốt điện sinh lý bằng sóng có tần số radio qua ống thông.

Bệnh nhân cần chuẩn bị những gì?

Bệnh nhân được nhập viện và chuẩn bị trước ngày làm thủ thuật, một số việc sẽ được thực hiện: không sử dụng các thuốc điều trị trước khi thăm dò từ 2 đến 3 ngày; làm xét nghiệm kiểm tra: xét nghiệm máu tổng thể, ghi điện tâm đồ bề mặt; bác sĩ sẽ kiểm tra các thuốc người bệnh đang sử dụng và các thuốc bị dị ứng nếu có; bác sĩ sẽ giải thích với người bệnh về quá trình thực hiện thủ thuật, những lợi ích cũng như những tai biến có thể gặp và nhận được sự đồng ý từ phía bệnh nhân; không ăn và uống từ 6 đến 8 giờ trước khi làm thủ thuật.

Quá trình thực hiện diễn ra như thế nào?

Thăm dò điện sinh lý: Bệnh nhân được y tá đưa đến phòng làm thủ thuật và hướng dẫn vào phòng máy. Bệnh nhân sẽ được gắn máy theo dõi mạch, huyết áp, điện tâm đồ bề mặt; đặt đường truyền tĩnh mạch. Bác sĩ sẽ gây tê và chọc mạch máu để mở các đường vào hệ mạch máu. Dụng cụ mở đường vào được đặt tại bẹn và vùng ngực trái. Qua những chỗ chọc mạch, các dây thông điện cực được đưa vào tới tận buồng tim. Qua màn hình máy chụp mạch, bác sĩ xác định vị trí của đầu các điện cực trong buồng tim tương ứng với những vị trí cần thăm dò. Thông tin truyền qua dây thông điện cực ra hệ thống máy điện sinh lý để phân tích các biến đổi, qua đó đánh giá chính xác vị trí tổn thương. Một số trường hợp bác sĩ sẽ phải kích thích vào hệ thần kinh tim gây loạn nhịp, qua đó đánh giá toàn bộ chức năng và mức độ tổn thương của hệ thần kinh tim. Khi tổn thương được xác định rõ, nếu có chỉ định điều trị bằng sóng tấn số radio bác sĩ sẽ chuyển sang thực hiện kỹ thuật này.

Điều trị rối loạn điện sinh lý bằng sóng có tần số radio qua dây thông điện cực

Một loại dây thông điện cực đặc biệt được đưa vào vị trí tổn thương. Dây thông này có khả năng truyền dẫn sóng radio từ hệ thống máy điện sinh lý vào tận cơ tim. Tại điểm tiếp xúc giữa đầu dây thông điện cực và cơ tim, năng lượng sóng radio phát ra sẽ làm triệt bỏ các ổ gây rối loạn nhịp tim và các đường dẫn truyền bất thường trong cơ tim. Kết quả là thiết lập lại trật tự phát nhịp và đường truyền bình thường của hệ thần kinh tim, làm nhịp tim sẽ đều trở lại bình thường.

Điều gì sẽ xảy ra trong lúc thực hiện thăm dò điện sinh lý?

Bệnh nhân hoàn toàn tỉnh táo trong lúc thực hiện kỹ thuật và sẽ được yêu cầu phối hợp với bác sĩ trong một số trường hợp. Phương pháp này khi thực hiện chỉ có cảm giác tức nặng tại vùng chọc mạch. Khi dụng cụ di chuyển trong lòng mạch tới quả tim và xoay chuyển ở bên trong quả tim sẽ không gây cảm giác gì.

Bệnh nhân có thể mỏi do phải nằm lâu trên bàn. Hãy nói với bác sĩ nếu thấy cảm giác khó chịu hoặc thấy xuất hiện đau đầu, đánh trống ngực, đau ngực hay khó thở, bác sĩ và y tá sẽ giúp bệnh nhân giảm đi các triệu chứng đó.

Tai biến trong lúc thực hiện phương pháp này: Đây là phương pháp can thiệp xâm nhập, nó có một vài nguy cơ. Tỷ lệ tai biến là rất thấp, tuy nhiên nó có thể ảnh hưởng tới tính mạng. Mặc dù rất ít bệnh nhân phải chịu các tai biến nhưng bác sĩ sẽ luôn sẵn sàng chuẩn bị đối phó khi nó xảy ra.

Phải làm gì sau khi thực hiện xong phương pháp thăm dò điện sinh lý?

Tất cả mọi dụng cụ sẽ được rút ra khỏi cơ thể. Tại vị trí chọc mạch, y tá sẽ ép cầm máu trong vòng 10-20 phút, bác sĩ sẽ khâu cầm máu nếu thấy cần thiết. Khi về bệnh phòng, người bệnh phải giữ thẳng chân trong vòng 6 giờ để bảo đảm không chảy máu tại vị trí chọc mạch. Y tá sẽ tiếp tục theo dõi mạch và huyết áp của người bệnh thường xuyên tại phòng bệnh. Hãy báo cho bác sĩ và y tá bất kể những dấu hiệu bất thường nào xảy ra tại chỗ chọc mạch hay cảm giác bất thường về nhịp tim của mình. Bác sĩ sẽ cho ra viện khi thấy sức khỏe của bệnh nhân đảm bảo. Khi về nhà, người bệnh sẽ tiếp tục dùng thuốc và chế độ sinh hoạt theo chỉ định của bác sĩ và tái khám theo đúng lịch hẹn.

TS. Phạm Quốc Khánh(Viện Tim mạch Việt Nam)-SKĐS

Điều trị rung nhĩ không dùng thuốc

Hiệu quả hạn chế và nguy cơ gây rối loạn nhịp tim của các thuốc chống rối loạn nhịp tim đã dẫn đến sự nghiên cứu rộng rãi các biện pháp không sử dụng thuốc thay thế trong điều trị RN. Hơn nữa, các nghiên cứu gần đây về cơ chế của RN đã dẫn đến việc phát triển các biện pháp điều trị không dùng thuốc khác nhau bằng cách trực tiếp loại bỏ yếu tố khởi phát và làm thay đổi điện sinh lý nền để phòng ngừa và điều trị RN.

Thủ thuật ngoại khoa Maze

Phẫu thuật tạo ra những hàng rào ngăn cản sự dẫn truyền ở những vùng đặc biệt trong tâm nhĩ phải và tâm nhĩ trái để điều trị RN. Thủ thuật ngoại khoa Maze bao gồm rạch những đường xung quanh các tĩnh mạch phổi và rạch nhiều đường kẻ ở trong tâm nhĩ ở cả hai tâm nhĩ bằng kỹ thuật kinh điển "cắt - vá - khâu" hay bằng các loại năng lượng khác nhau (sóng radio, vi sóng, siêu âm và cắt lạnh) để điều trị RN. Ưu điểm của các kỹ thuật sử dụng các nguồn năng lượng khác nhau thay thế cho "cắt - vá - khâu" là có thể thực hiện đơn giản hơn, nhanh hơn với sự xâm lấn tối thiểu. Tuy vậy, thủ thuật ngoại khoa Maze này rất phức tạp. Trình độ kỹ thuật cũng như kỹ năng của các nhà phẫu thuật quan trọng hơn là các dụng cụ phương tiện để đảm bảo có kết quả tốt trên lâm sàng. Mặt khác, các bệnh nhân RN được phẫu thuật tim mở do các bệnh lý đi kèm như phẫu thuật van hai lá hay bắc cầu nối chủ-vành, thủ thuật ngoại khoa Maze có thể là một phương pháp điều trị có hiệu quả cho các bệnh nhân bị RN kháng thuốc.

Cấy máy tạo nhịp tim cho bệnh nhân.
Điều trị bằng dụng cụ- Tạo nhịp nhĩ và phá rung

Với các bệnh nhân có chỉ định cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn theo quy ước như suy nút xoang, nhịp tim chậm có triệu chứng, việc sử dụng máy tạo nhịp gần với sinh lý hơn như tạo nhịp hai buồng tim, tạo nhịp tâm nhĩ thì tốt hơn là tạo nhịp một buồng thất và đã được chứng minh là có thể phòng ngừa RN. Hơn nữa, ở các bệnh nhân có dẫn truyền nút nhĩ thất bình thường nên cố gắng giảm thiểu tạo nhịp thất. Mặc dù có rất nhiều loại máy tạo nhịp đời mới và máy phá rung có thể cấy được trong cơ thể với các tác dụng khác nhau cùng được tích hợp trong máy (tạo nhịp vượt tần số, tạo nhịp nhĩ chống cơn tim nhanh và phá rung nhĩ) được thiết kế để phòng ngừa và điều trị RN. Tuy nhiên chưa có những nghiên cứu ngẫu nhiên lớn chứng tỏ hiệu quả của các loại máy này. Tạo nhịp nhĩ một vị trí, tạo nhịp nhĩ phải nhiều vị trí và tạo nhịp 2 nhĩ đã được thử nghiệm để điều trị và phòng ngừa RN, nhưng chưa có nghiên cứu nào chứng minh lợi ích lâu dài của phương pháp điều trị này.

Cơ chế rung nhĩ bằng máy tạo nhịp tim.

Triệt phá nút nhĩ thất và cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn là một chiến lược điều trị có hiệu quả để làm giảm triệu chứng và/hoặc để kiểm soát tần số tim ở các bệnh nhân RN kháng trị. Các nhà khoa học cho thấy có sự cải thiện đáng kể sau triệt bỏ nút nhĩ thất và cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn về chất lượng cuộc sống và kết quả lâm sàng, cũng như tỷ lệ tử vong toàn bộ hay đột tử. Các bệnh nhân có triệu chứng suy tim hay có rối loạn chức năng thất trái, tạo nhịp 2 buồng thất sau khi triệt bỏ nút nhĩ thất để điều trị RN mạn tính cho thấy có cải thiện tốt hơn khả năng gắng sức và chức năng thất trái khi so sánh với tạo nhịp một buồng thất phải. Tuy nhiên phương pháp này xâm lấn nhiều hơn và làm nhịp tim của bệnh nhân phụ thuộc hoàn toàn vào máy tạo nhịp. Phương pháp này thường được cân nhắc trong trường hợp bệnh nhân bị RN mà các biện pháp điều trị khác thất bại trong kiểm soát nhịp tim hay tần số tim hay ở những bệnh nhân đã được cấy máy tạo nhịp hay máy phá rung rồi.

Điều trị qua ống thông

Chiến lược điều trị RN qua ống thông với mục tiêu chủ yếu là loại bỏ ổ kích hoạt gây RN hay duy trì RN và làm thay đổi điện sinh lý nền của tâm nhĩ. Hiện nay, các kỹ thuật điều trị qua ống thông khác nhau để cô lập hoạt động điện học của các tĩnh mạch phổi với tâm nhĩ và/hoặc thay đổi điện sinh lý nền của nhĩ trái xung quanh các tĩnh mạch phổi đã được sử dụng để điều trị RN mạn tính. Tại những trung tâm có nhiều kinh nghiệm điều trị RN qua ống thông có tỷ lệ thành công với các kỹ thuật điều trị RN qua ống thông khác nhau tương tự nhau và đạt được vào khoảng 80%. Thậm chí ở những bệnh nhân bị suy tim và rối loạn chức năng thất trái, điều trị RN qua ống thông khôi phục lại nhịp xoang mà không cần phải dùng thuốc chống loạn nhịp tim đạt tới 70% các trường hợp và cải thiện rõ rệt chức năng thất trái.

Mặc dù những báo cáo cho thấy tỷ lệ thành công rất ấn tượng của phương pháp can thiệp qua ống thông điều trị RN, các thủ thuật này cũng có những biến chứng nguy hiểm đe doạ đến tính mạng người bệnh. Do vậy điều trị RN qua ống thông nên được cân nhắc ở những bệnh nhân RN có triệu chứng kháng với điều trị thuốc, đặc biệt là những bệnh nhân trẻ và chỉ có RN đơn thuần, hay ở những bệnh nhân không thể sử dụng thuốc chống rối loạn nhịp tim lâu dài.

TS. Nguyễn Quang Tuấn-SKĐS

Những giải pháp xử trí rung nhĩ - Kỳ II

Sự nguy hiểm của loạn nhịp tim do rung nhĩ (RN) mạn tính, cấp tính đều có thể gây ra đột qụỵ, tử vong. Do vậy cần có những biện pháp điều trị hiệu quả các dạng loạn nhịp này.

Cơn RN mới cấp tính

Những bệnh nhân này thường có hội chứng tiền kích thích với tần số thất cực kỳ nhanh hay có bệnh về cấu trúc tim trầm trọng như bệnh van tim nặng, suy tim mạn tính hay thiếu máu cơ tim cấp tính.

Kiểm soát tần số thất cấp tính

Phần lớn bệnh nhân có cơn RN cấp có tần số thất nhanh. Do vậy, cần kiểm soát tần số thất để cải thiện tình trạng huyết động và làm giảm triệu chứng. Mục tiêu của điều trị là làm giảm tần số tim lúc nghỉ xuống dưới 80-90 lần/phút bằng các thuốc ức chế nút nhĩ thất (verapamil, diltiazem, chẹn bêta giao cảm và digoxin) qua đường tĩnh mạch hay đường uống. Những bệnh nhân có suy tim cần làm giảm ứ máu ở phổi bằng các thuốc lợi tiểu và thuốc giãn mạch, từ đó có thể giúp làm giảm nhịp tim.

Máy tạo nhịp chống rung nhĩ.
Chuyển nhịp tim

Trong vòng 24 giờ, có tới 70-80% bệnh nhân có cơn RN mới cấp tính tự trở về nhịp xoang. Nếu nhịp của bệnh nhân không tự trở về nhịp xoang, điều trị chuyển nhịp tim bằng thuốc hay sốc điện cần được cân nhắc. Nhìn chung, các bệnh nhân không có bệnh van tim mới bị RN <> 48 giờ hay những người có nguy cơ bị thuyên tắc mạch cao hơn do có bệnh van tim, cần uống thuốc chống đông đầy đủ 3 tuần trước khi tiến hành chuyển nhịp hoặc làm siêu âm qua thực quản để loại trừ huyết khối trong tâm nhĩ, cho phép tiến hành chuyển nhịp ngay với việc sử dụng heparin đường tĩnh mạch. Khi tiểu nhĩ trái không thể đánh giá được một cách đầy đủ, điều trị chuyển nhịp cần tiến hành sau 3 tuần uống thuốc chống đông.

RN mạn tính

Kiểm soát tần số thất

Mục đích của việc kiểm soát tần số thất ở bệnh nhân RN là làm giảm triệu chứng và phòng ngừa bệnh cơ tim do nhịp tim nhanh. Nhìn chung, cần kiểm soát tần số thất trong khoảng 60-80 lần/phút khi nghỉ ngơi và 90-115 lần/phút khi gắng sức trung bình. Cả thuốc chẹn bêta giao cảm và thuốc chẹn kênh canxi loại làm giảm nhịp tim đều được ưa chuộng để lựa chọn bắt đầu đơn trị liệu kiểm soát tần số thất ở các bệnh nhân RN. Triệt phá nút nhĩ thất và cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn có thể là biện pháp có lợi để kiểm soát tần số tim khi các biện pháp dùng thuốc khác thất bại hay có chống chỉ định, đặc biệt là khi có rối loạn chức năng tâm thu thất trái.

Khôi phục và duy trì nhịp xoang

Khôi phục nhịp xoang có thể đạt được bằng thuốc hay sốc điện chuyển nhịp. Sốc điện chuyển nhịp bằng máy sốc điện đồng bộ từ bên ngoài lồng ngực, đặc biệt với máy phá rung 2 pha là một phương pháp rất có hiệu quả (tỷ lệ thành công trên 90%) trong khôi phục lại nhịp xoang. Tuy nhiên, tất cả các bệnh nhân có RN mạn tính cần được điều trị thuốc chống đông đầy đủ trước và sau khi chuyển nhịp tim.

Duy trì nhịp xoang sau khi chuyển nhịp tim thành công là một công việc khó khăn hơn. Một số bệnh nhân có thể không bị tái phát RN sau một giai đoạn RN đơn độc, đặc biệt là ở những người mà nguyên nhân gây RN có thể điều trị được và không cần sử dụng thuốc kéo dài sau khi chuyển nhịp tim. Tuy nhiên, hầu hết các bệnh nhân được chuyển nhịp tim từ RN mạn tính có tỷ lệ tái phát RN sớm hay muộn mà không được điều trị thuốc chống rối loạn nhịp khá cao. Việc lựa chọn các thuốc chống rối loạn nhịp tim sử dụng lâu dài phải dựa trên các bệnh lý đi kèm.

Phòng ngừa thuyên tắc mạch

Như đã bàn luận ở trên, không phụ thuộc vào chiến lược kiểm soát nhịp tim hay kiểm soát tần số tim, tất cả các bệnh nhân có yếu tố nguy cơ bị đột quị liên quan đến RN cần được điều trị dự phòng thuyên tắc mạch.

Các thuốc chống đông đều có nguy cơ gây chảy máu. Do vậy, việc đánh giá các yếu tố nguy cơ của biến chứng chảy máu cũng là một bước quan trọng trước khi bắt đầu điều trị thuốc chống đông. Hiệu quả của các thuốc chống đông máu nhóm đối kháng vitamin K như warfarin hay sintrom bị ảnh hưởng bởi các thức ăn khác nhau, sự tương tác thuốc, chức năng gan, chế độ ăn có chứa vitamin K, sự khác nhau về di truyền trong hoạt hoá các men và lượng rượu mà người bệnh uống. Cần giải thích cho người bệnh về lợi ích, những nguy cơ tiềm ẩn của việc sử dụng thuốc chống đông cũng như sự tương tác của thuốc chống đông với thức ăn, thảo dược và với các thuốc khác.

Khi bắt đầu điều trị thuốc chống đông, theo dõi liên tục và thường xuyên các chỉ số đông máu là biện pháp chủ yếu để duy trì sự an toàn và hiệu quả của việc điều trị.

Cuối cùng, vì tiểu nhĩ trái là nguồn gốc chủ yếu của huyết khối ở bệnh nhân RN, có một dụng cụ mới được chế tạo ra để có thể bít tiểu nhĩ trái bằng đường can thiệp qua da (không phải phẫu thuật) ở bệnh nhân có nguy cơ đột quị cao nhưng không thể sử dụng thuốc chống đông máu kéo dài. Ngoài ra, phẫu thuật buộc hay cắt bỏ tiểu nhĩ trái ở các bệnh nhân được phẫu thuật tim mở cũng có thể là một chiến lược phòng ngừa đột quị cho các bệnh nhân RN có nguy cơ cao.

TS. Nguyễn Quang Tuấn-Skđs

Mối đe dọa sức khỏe từ bệnh rung nhĩ - Kỳ I

Rung nhĩ (RN) là rối loạn nhịp tim hay gặp nhất. RN làm tăng tỷ lệ tử vong và biến chứng do tim mạch. Cùng với suy tim, RN là một bệnh lý quan trọng mới nổi lên trong các bệnh tim mạch do tuổi thọ của người dân ngày càng tăng cao. RN làm tăng 3-5 lần nguy cơ bị đột qụy, 3 lần nguy cơ bị suy tim và tăng có ý nghĩa nguy cơ tử vong từ 1,5 - 3 lần. Nguy cơ đột qụy do RN luôn cao ở mọi lứa tuổi.

Sơ đồ cơ chế gây loạn nhịp tim.
Mặc dù RN thường đi kèm với các bệnh lý tim mạch hay các yếu tố nguy cơ khác, nhưng có khoảng 30% bệnh nhân bị RN vô căn. Các yếu tố nguy cơ gây RN bao gồm: tuổi cao, giới nam, uống rượu, rối loạn chức năng tuyến giáp, bệnh phổi mạn tính tắc nghẽn, đái tháo đường, các bệnh lý tim mạch, tăng huyết áp, bệnh lý van tim, bệnh tim thiếu máu cục bộ, các bệnh cơ tim, suy tim, bệnh tim bẩm sinh, hội chứng tiền kích thích (Wolff-Parkinson-White), phì đại tâm thất trái, mới phẫu thuật tim hoặc ngoài tim.

Những ảnh hưởng của RN

Khi bị RN, tâm nhĩ co bóp với tần số > 350 lần/phút làm cho tâm nhĩ co bóp không có hiệu quả. Sự co bóp hỗn loạn của tâm nhĩ đã hoạt hoá nút nhĩ thất theo những khoảng cách ngẫu nhiên khác nhau. Nút nhĩ thất có chức năng sinh lý là hạn chế sự dẫn truyền các hoạt động của tâm nhĩ. Trong hầu hết các trường hợp, tần số thất sẽ không đều và dao động trong khoảng từ 80 - 120 nhịp/phút lúc nghỉ. Sự co bóp không hiệu quả của tâm nhĩ sẽ làm giảm sự đổ đầy máu vào tâm thất trái (do vậy sẽ làm giảm thể tích tống máu), áp lực trong nhĩ trái tăng cao hơn cùng với sự ứ đọng máu sẽ dẫn đến hình thành các cục huyết khối ở trong nhĩ trái. Khi nhịp tim càng nhanh thì càng làm giảm sự đổ đầy thất trái, giảm thể tích tống máu và do đó làm giảm cung lượng tim. Thường hai nhát bóp quá gần nhau thì sẽ không tạo ra mạch vì thể tích nhát bóp của tâm thất quá nhỏ và khi đó tần số mạch sẽ thấp hơn tần số tim, đây là một đặc điểm quan trọng của RN. Sự đáp ứng của tâm thất phụ thuộc vào nút nhĩ thất. Sự dẫn truyền nhĩ thất tăng lên trong khi gắng sức hay căng thẳng sẽ làm tần số thất tăng lên và có thể làm xấu hơn tình trạng huyết động. Mặt khác, kiểm soát nhịp tim một cách phù hợp bằng các thuốc chẹn nút nhĩ thất sẽ làm hạn chế những thay đổi này và cải thiện triệu chứng của người bệnh. Nếu nhịp thất đáp ứng nhanh và kéo dài sẽ làm ảnh hưởng đến sự co bóp của tâm thất trái và có thể dẫn đến bệnh cơ tim do nhịp tim nhanh (tachycardiomyopathy).

Nguyên nhân gây RN

Các thực nghiệm trên mô hình động vật và nghiên cứu lâm sàng gần đây đã cho thấy những bằng chứng mới về cơ chế bệnh sinh của RN. RN trên thực nghiệm có thể được gây ra bởi những xung động rất nhanh từ một nguồn đơn độc hay bởi nhiều vòng vào lại những sóng ngẫu nhiên liên tục qua cơ tim không ở trong thời kỳ trơ. Ổ ngoại vị nhanh từ một nguồn tự động đơn độc có nguồn gốc chủ yếu từ các tĩnh mạch phổi, có thể kích hoạt để gây ra và duy trì RN ở các bệnh nhân bị RN kịch phát. Các ổ ngoại vị khác ở tĩnh mạch chủ trên, xoang vành, thành dưới tâm nhĩ trái, tĩnh mạch Marshall và vách liên nhĩ cũng có thể khởi phát RN. Hơn nữa, cuồng động nhĩ hay bất cứ cơn tim nhanh trên thất nào cũng có thể là nguồn khởi phát RN.

Ngược lại, RN đã định hình thường do nhiều vòng vào lại gây ra. Chiều dài của sóng là kết quả của thời kỳ trơ của tâm nhĩ và tốc độ dẫn truyền trong nhĩ. Do vậy, vì bất kỳ một lý do nào đó làm thay đổi cấu trúc tâm nhĩ và thay đổi điện sinh lý học làm ngắn lại thời kỳ trơ của tâm nhĩ hoặc làm chậm sự dẫn truyền trong nhĩ có thể tạo thuận lợi để duy trì RN. Cả các nghiên cứu trên động vật và trên người cho thấy rằng sự xuất hiện RN dẫn đến sự thay đổi thời gian trơ của tâm nhĩ làm duy trì RN. Những thay đổi này song hành với sự tiến triển tăng dần thời gian sóng P, rối loạn chức năng nút xoang và giãn nhĩ trái từ RN kịch phát trở thành RN mạn tính, gợi ý quá trình tái cấu trúc điện cơ học tiến triển. Thêm vào đó, sự phân tán của các tốc độ dẫn truyền khi tâm nhĩ giãn ra ở các bệnh nhân suy tim có thể là một cơ chế thay thế gây RN mạn tính. Sự tái cấu trúc điện cơ học này kéo theo sự phì đại tế bào, xơ cơ nhĩ và quá tải ion canxi, làm tăng xu hướng gây RN. Do vậy, cái vòng luẩn quẩn của sự tiến triển gây RN kéo dài xuất hiện khi một trong các quá trình đó bắt đầu. Do vậy, điều trị một cách tích cực khi mới bắt đầu bị RN có thể ngăn ngừa được sự tiến triển của hiện tượng tái cấu trúc điện cơ học tâm nhĩ.

Ngoài ra còn có nhiều yếu tố khác có vai trò quan trọng trong khởi phát và duy trì RN. Trên mô hình thực nghiệm động vật gây RN, cần kích thích hệ thần kinh phó giao cảm hay tiêm trực tiếp chất acetylcholine vào tổ chức tâm nhĩ để duy trì RN. Sự thay đổi trương lực thần kinh tự động với kích thích hoặc là hệ thần kinh phó giao cảm hay giao cảm trực tiếp ảnh hưởng đến sự trơ của tâm nhĩ làm ảnh hưởng đến các cơ chế ổ hay vòng vào lại gây RN. Các yếu tố làm thay đổi khác cho thấy có vai trò quan trọng trong khởi động và duy trì RN bao gồm các ảnh hưởng của thuốc, quá trình viêm, chuyển hoá và thay đổi các chất điện giải có thể khởi phát cơn RN và ảnh hưởng đến tính nhạy cảm của tâm nhĩ gây RN.

Biểu hiện lâm sàng

Các triệu chứng lâm sàng của rung nhĩ rất thay đổi và phụ thuộc vào một số yếu tố bao gồm tần số thất, chức năng tim, các bệnh lý đi kèm và sự nhận thức của từng người bệnh. Cả tần số tim nhanh, không đều và sự mất hoạt động đồng bộ nhĩ góp phần làm ảnh hưởng đến hoạt động của tim và gây ra các triệu chứng trên lâm sàng. Triệu chứng hay gặp nhất (54%) của bệnh nhân RN là cảm giác hồi hộp đánh trống ngực, một tỷ lệ lớn các bệnh nhân có các triệu chứng khác bao gồm khó thở (44%), mệt mỏi (14%), hoa mắt chóng mặt (10%). Đặc biệt có tới 11% bệnh nhân bị RN nhưng không có triệu chứng gì. Hơn nữa, biểu hiện lâm sàng đầu tiên của bệnh nhân bị RN có thể là biến chứng tắc mạch hay tình trạng suy tim tăng nặng thêm. Khi khám lâm sàng, các dấu hiệu cường giáp, bằng chứng của thuyên tắc mạch ngoại biên, các bệnh van tim, tăng huyết áp và suy tim cũng cần được đánh giá.

TS. Nguyễn Quang Tuấn (Viện Tim mạch Việt Nam)

Mạch chậm báo hiệu bệnh gì?

Nhiều người có mạch chậm vẫn sinh hoạt bình thường, nhưng khi có các dấu hiệu choáng váng, ngất lịm thì mới lo lắng và đến hỏi ý kiến bác sĩ. Bài viết này nhằm giải đáp phần nào về vấn đề đó.

Thế nào là mạch chậm?

Điện tâm đồ xác định nhịp tim chính xác.
Mạch là nhịp đập của động mạch, thường bắt ở cổ tay. Nhịp tim là nghe ở tim hoặc biểu hiện trên điện tâm đồ. Mạch và nhịp tim thường bằng nhau, mạch bình thường từ 60-80 lần/phút. Mạch chậm được quy định là dưới 60 lần/phút. Gặp trường hợp mạch chậm, cần phải làm điện tâm đồ để xác định bản chất của nhịp chậm.

Tim hoạt động do sự chỉ huy của hệ thống dẫn truyền tự động đi từ nhĩ xuống thất. Hệ thống này do nút xoang (keith flack) chỉ đạo. Phải làm điện tâm đồ mới biết được tim đập do nút xoang chỉ huy gọi là "nhập xuống". Nút xoang chịu ảnh hưởng của thần kinh giao cảm và phó giao cảm, nên nhịp xoang có thể thay đổi nhanh lên hay chậm đi trong một số bệnh toàn thân hoặc do thuốc. Nhịp chậm do nút xoang bị suy giảm, do một số nguyên nhân khác và do bloc nhĩ thất. Cần quan tâm đến loại mạch chậm do bloc nhĩ thất và mạch chậm xoang.

Mạch chậm do bloc nhĩ nhất

Có 35-67% các ca bloc nhĩ thất có cơn Adams Stokes. Bệnh do Adams người Iceland phát hiện từ năm 1827. 30 năm sau, Stokes bổ sung thêm. Cơn Adams Stokes có thể xảy ra khi có nhịp nhanh thất, rung thất, bloc nhĩ thất hoàn toàn, có mạch chậm từ 36-40 lần/phút. Mạch chậm không thay đổi khi gắng sức hoặc dùng các thuốc tăng nhịp tim. Bệnh nhân hay bị hoa mắt, choáng váng, ngất xỉu xảy ra đột ngột, ít khi kéo dài quá 1-2 phút, thường không để lại di chứng thần kinh. Quan sát thấy đột nhiên tái mặt và thỉu đi, khi tỉnh dậy thường đỏ bừng mặt. Adams Stokes có 4 thể trên lâm sàng là: nhẹ, thấy choáng váng, cảm giác rơi hẫng, mặt tái xanh; vừa: ngất chớp nhoáng; nặng: cơn ngất kéo dài, mê; và có thể chết đột ngột. Người ta cho rằng, nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não có thể là nguyên nhân hay hậu quả của cơn Adams Stokes.

- Bloc nhĩ thất hoàn toàn thường xuyên: Mạch chậm ổn định 30-40 lần/phút, đều. Nghe tim thỉnh thoảng thấy một nhát bóp mạnh gọi là "sóng đại bác".

- Bloc nhĩ thất kịch phát: Bình thường vẫn nhịp xoang, đột nhiên có bloc nhĩ thất 10-15 phút rồi tự hết. Hay bị ngất, có cơn Adams Stokes nhẹ hay vừa, có cơn nhịp nhanh thất hoặc ngừng tim.

- Bloc nhĩ thất không ổn định: Là loại trung gian giữa hai loại trên, cũng hay có cơn ngất liên tiếp. Điện tim thì lúc có nhịp xoang, lúc có bloc nhĩ thất.

Máy tạo nhịp tim điều trị loạn nhịp chậm xoang.
Mạch chậm xoang

Mạch chậm có thể gặp ở người bình thường hay ở người cường phế vị. Gặp ở mọi lứa tuổi, tỷ lệ nam nữ bằng nhau, huyết áp bình thường, tim giảm tần số. Người cường phế vị tiết nhiều nước bọt, hay vã mồ hôi, nhu động ruột tăng. Mạch chậm có khi do bẩm sinh. Các trường hợp trên không cần điều trị. Nếu khó chịu, nhức đầu nhiều có thể dùng atropin.

Mạch chậm có thể gặp ở những vận động viên thể dục thể thao thi đấu các môn cần thể lực mạch như bóng đá, nâng tạ, chạy đường dài. Tiêu chuẩn của vận động viên lúc nghỉ ngơi về mạch là 40-60 phút, trung bình là 50. Càng tập luyện nhiều mạch càng chậm.

Do dùng thuốc digital, amodaron, verapamin, thuốc chẹn bêta, thời gian kéo dài gây mạch chậm. Digital dùng lâu hay tích lũy thuốc. Do đó, khi sử dụng các thuốc trên phải theo dõi mạch. Nếu thấy mạch chậm dưới 60 lần/phút phải ngừng thuốc ngay.

Hội chứng tăng áp lực sọ não: Gặp trong các trường hợp u não, khối máu tụ trong não do chấn thương sọ não có mạch chậm.

Vàng da kéo dài do u tụy do sỏi mật cũng là nguyên nhân gây ra mạch chậm. Bình thường không có muối mật trong máu và nước tiểu, khi tắc mật thì muối mật xuất hiện trong huyết thanh và trong nước tiểu bệnh nhân. Muối mật tăng gây mạch chậm và ngứa. Mạch chậm còn gặp ở bệnh thương hàn, bạch hầu.

Trong thời kỳ dưỡng bệnh của các bệnh nhân nhiễm khuẩn, nhiễm độc cũng có hiện tượng mạch chậm, vì sau khi bị bệnh, nhiều chức năng trong cơ thể bị suy giảm. Sau khi dưỡng bệnh một thời gian, mạch sẽ trở lại bình thường.

Về điều trị

Mạch chậm xoang không có triệu chứng thường không phải điều trị, nếu cần thì dùng các thuốc cường giao cảm, atropin... và điều trị các nguyên nhân kể trên. Mạch chậm do bloc nhĩ thất hoàn toàn có hay không có cơn Adams Stokes và không có hy vọng hồi phục, nhịp tim dưới 40 lần/phút, có khoảng nghỉ dưới 3 giây khi thức và loạn nhịp chậm xoang có triệu chứng đều phải đặt máy tạo nhịp. Có nhiều loại máy, tùy từng trường hợp cần phải khám và có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa tim mạch.

BSCKII. Nguyễn Đức Lê